Hôm nay,  

Cộng Sản Và Tội Ac

24/09/200700:00:00(Xem: 10938)

"Độc tài tất yếu sẽ dẫn đến tội ác"

Ở Việt Nam trước năm 1954, khi mà cách mạng Việt Nam còn lệ thuộc vào viện trợ của Trung Quốc và Liên Xô, trong các hội trường diễn ra cuộc họp của Đảng và Nhà nước đều treo rất trang trọng ảnh của ba nhà lãnh đạo: Stalin, Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông. Tại đại hội Đảng lần thứ 2, năm 1951, ông Hồ Chí Minh đã chỉ vào những bức ảnh rất lớn treo trong hội trường và nói: “Bác cam đoan với các chú rằng, hai nhà lãnh đạo Stalin và Mao Trạch Đông không bao giờ phạm sai lầm, Bác đảm bảo với các chú như thế, tư tưởng của Stalin và Mao Trạch Đông là tư tưởng của Mác đã được các vị ấy giải thích và ứng dụng vào thực tiễn của mỗi nước.” Đây là một sự ngụy biện, lừa dối trắng trợn và là một sai lầm nghiêm trọng của Hồ Chí Minh.

Thực tiễn đã chứng minh cả ba nhà lãnh đạo Stalin, Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh đều phạm sai lầm nghiêm trọng, dẫn đến con đường phản bội chủ nghĩa Mác, mọi sai lầm của họ đều bắt nguồn từ quyền lực độc tài. Trong khi Mác là một học giả cả cuộc đời gắn liền với công việc nghiên cứu và viết lách, thì cả ba nhà lãnh đạo Stalin, Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh đều là ba lãnh tụ tối cao của Đảng, Nhà nước và Quân đội. Stalin từng giữ các chức vụ: “Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, Chủ tịch Đại biểu Nhân dân Xô Viết (Chủ tịch Quốc hội) và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Thủ tướng Chính phủ). Stalin còn là Tổng tư lệnh quân đội, hàm Đại nguyên soái Liên Xô”. Mao Trạch Đông cũng giữ nhiều chức vụ: “Chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Chủ tịch Quân ủy Trung ương”. So với hai nhà lãnh đạo trên, Hồ Chí Minh không hề thua kém, cùng lúc kiêm nhiệm nhiều chức vụ: “Chủ tịch Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng tối cao, Chủ tịch Quân ủy Trung ương”.

Cả ba nhà lãnh đạo đều độc chiếm quyền lực trong Đảng, Nhà nước và Quân đội, thiết lập nền thống trị độc tài, quyền uy tuyệt đối. Quyền uy của họ còn lớn hơn quyền uy của Vua, bởi vì họ sử dụng bạo lực để thống trị nhân dân về tư tưởng, áp đặt tư tưởng của mình lên ý thức xã hội, cũng như việc họ đã dùng bạo lực để xuyên tạc chủ nghĩa Mác, biến chủ nghĩa Mác thành tư tưởng của cá nhân. Chủ nghĩa Stalin, chủ nghĩa Mao Trạch Đông và tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất hoàn toàn không có giá trị khoa học, thậm chí phản khoa học. 

Độc tài tất yếu sẽ dẫn đến tội ác. Tại Liên Xô, trong thời kỳ “DDại thanh trừng” của Stalin đã có hàng triệu người bị hành quyết và chết trong các trại tập trung. Dưới thời kỳ Mao Trạch Đông (Từ năm 1946 – 1965), theo ước tính của Ủy ban tư pháp Thượng viện Mỹ có khoảng 60 triệu người đã bị giết chết, còn theo số liệu của Liên Xô thì con số này là khoảng 30 triệu người. Chỉ tính riêng trong cuộc “DDại cách mạng văn hóa” do Mao phát động đã tiêu diệt hàng chục triệu người, họ đều là nạn nhân của các cuộc thanh trừng phe phái trong Đảng Cộng sản Trung Quốc. Sự việc “giết người” nêu trên cũng diễn ra tương tự ở Việt Nam, đặc biệt là thời kỳ của cuộc cải cách ruộng đất mà người ta gọi là “Cuộc cách mạng long trời lở đất”, do Hồ Chí Minh lãnh đạo. Theo số liệu của Đảng Cộng sản Việt Nam công bố thì có khoảng 172 nghìn người bị quy kết vào thành phần địa chủ, phú nông, những người này hoặc là bị xử bắn ngay tại chỗ hoặc bị tra tấn và tù đầy cho đến chết. Trong số đó có tới 123 nghìn người bị oan, bị đấu tố sai. Chắc chắn con số người chết trên thực tế còn cao hơn rất nhiều, bởi vì người ta chưa thống kê số người bị quy kết là Đảng viên Quốc Dân Đảng, những người này bị xử bắn ngay tại chỗ. Đảng Cộng sản cũng không công bố số người chết liên quan đến các cuộc thanh trừng phe phái trong Đảng. Tuy nhiên, với những con số đã nêu ở trên, có thể ghi vào sách kỷ lục Guinness về “tội ác giết người” trong lịch sử nhân loại. Có thể kết luận rằng: “Chế độ độc tài Cộng sản luôn gắn liền với tội ác”.

Ngồi trên đỉnh cao quyền lực, các nhà độc tài Cộng sản đã gây ra những tội ác đối với loài người, họ không chỉ “giết người” mà còn “hủy hoại văn hóa”, mục tiêu của họ là xóa bỏ toàn bộ những tàn dư của xã hội cũ, bao gồm Kiến trúc thượng tầng xã hội và Cơ sở hạ tầng xã hội. Hồ Chí Minh coi một trong những tàn dư  của xã hội cũ là Phật Giáo, ông chủ trương thi hành chính sách đàn áp Phật giáo, xóa bỏ tín ngưỡng. Không có tội ác nào lớn bằng việc xúc phạm danh dự và nhân phẩm của các nhà tu hành, hủy hoại hình tượng thiêng liêng của các Tôn giáo. Những việc làm đó chỉ có ở những kẻ ngu dốt, ấu trĩ và bảo thủ, đó là vết nhơ trong lịch sử. Vậy mà những việc làm vô thần, vô nhân đạo, vô văn hóa và phản khoa học đấy lại được khởi xướng từ các nhà độc tài Cộng sản.

Chúng ta cùng trở lại lịch sử của đất nước, vào khoảng giữa thế kỷ trước, khi mà Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản phát động cuộc “Cách mạng văn hóa”. Đây là chiến dịch tuyên truyền và kích động quần chúng “Xóa bỏ nền văn hóa của xã hội cũ, xây dựng nền văn hóa Xã hội chủ nghĩa.” Trong một thời gian dài, người ta đã tàn phá các di tích lịch sử, di tích Tôn giáo, phá các ngôi chùa, đốt tượng Phật, người dân mang tượng Phật đốt hoặc dìm xuống ao, tháo dỡ các câu đối ở đình chùa đem đi lát đường, làm cầu.v.v… Tất cả những việc làm này được Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản khuyến khích và tuyên dương, bởi vì các nhà lãnh đạo Cộng sản cho rằng phải xóa bỏ tín ngưỡng, xóa bỏ Tôn giáo, coi tín ngưỡng là phản cách mạng, là kẻ thù của Chủ nghĩa Xã hội. Sự thật, những lý luận của Mác đã được các nhà độc tài Cộng sản, trong đó có Hồ Chí Minh, hiện thực hóa bằng tội ác.

Đảng Cộng sản vận động toàn xã hội học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, có nghĩa là học tập và làm theo “Tấm gương tội ác” hay sao" Không biết tổ chức UNESCO có xét đến các sự thật lịch sử này không khi công nhận Hồ Chí Minh là danh nhân văn hóa thế giới" Chắc chắn sự thật đó đã được các học giả Cộng sản dấu đi, đây là việc làm xuyên tạc lịch sử, thể hiện yếu kém của Đảng về lý luận và thực tiễn. Đảng đã không ý thức đúng về vấn đề tôn giáo, không lý giải được tinh thần của các tôn giáo, không hiểu được vai trò của tôn giáo trong quá trình phát triển xã hội. Đảng quen với việc sử dụng bạo lực và chiến dịch tuyên truyền kích động để giải quyết các vấn đề xã hội, trong đó có vấn đề tôn giáo. Cuộc chiến giữa Cộng sản và Tôn giáo đã bắt đầu, và người khởi xướng không ai khác chính là nhà độc tài Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh không chỉ muốn thống trị xã hội bằng Quyền uy, mà còn muốn thống trị xã hội bằng tư tưởng. Ông nhận thấy Phật giáo đã tạo ảnh hưởng sâu rộng và vững chắc trong ý thức xã hội, không tuân theo thậm chí chống lại tư tưởng Hồ Chí Minh; Phật giáo là sự giác ngộ và giải thoát, trong khi đó tư tưởng Hồ Chí Minh lại là sự thống trị và chi phối ý thức xã hội bằng bạo lực. Để bảo vệ nền chuyên chính, Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản đã thi hành chính sách đàn áp Phật giáo, nhằm xóa bỏ những tư tưởng của Phật giáo trong ý thức xã hội, họ xuyên tạc chủ nghĩa Mác, tô vẽ thêm bằng tư tưởng Hồ Chí Minh mà thực chất là chủ nghĩa cải lương. Khi lý luận đã “Chắp vá” thì thực tiễn cũng “Rách nát” thôi.! Đây là một tất yếu lịch sử.

 Ngày nay Việt Nam đã hội nhập cùng thế giới, vậy mà các thế hệ lãnh đạo sau Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục thi hành chính sách đàn áp tôn giáo, họ không biết rút kinh nghiệm từ những sai lầm, không quan tâm đến lợi ích của đất nước. Với ý đồ xóa bỏ Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, Đảng Cộng sản đang phát động một chiến dịch vu khống, bôi nhọ và thóa mạ các nhà tu hành. Báo chí Cộng sản liên tục công kích để hạ thấp uy tín của Hòa thượng Thích Quảng Độ và các vị đồng đạo, tiến tới kết tội và giam giữ họ. Bộ máy tuyên truyền của Đảng Cộng sản đã đồng loạt lên tiếng, nhưng không phải tiếng nói của lương tâm mà là tiếng nói của nòng súng, tiếng nói của quyền lực độc tài. Nòng súng oan nghiệt đang chĩa vào những nhà tu hành, chỉ vì họ “Dám” đứng lên bảo vệ dân nghèo, cứu trợ dân oan, yêu cầu Tự do - Dân chủ. Không thể tưởng tượng được rằng những sự việc trên đang diễn ra trong thế kỷ 21, một kỷ nguyên của tri thức và tự do.

Không có việc làm nào đáng lên án bằng việc bôi nhọ và xúc phạm Đức tin vào Tôn giáo của các nhà tu hành. Chắc hẳn các quan chức Cộng sản vẫn chưa quên sự kiện lịch sử việc Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu để ban sự “Dũng mãnh” cho các Phật tử, giúp họ đấu tranh chống lại chính sách đàn áp Phật giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm, kiên quyết bảo vệ ánh sáng của Chánh Pháp, một lòng hướng Phật cứu độ nhân thế.

Đảng Cộng sản sai lầm chồng chất sai lầm, tội ác tiếp nối tội ác! Khiến dân phải oan khuất, đấy là tội ác. Đàn áp người đấu tranh cho Tự do – Dân chủ, đấy là tội ác. Thi hành chính sách đàn áp Tôn giáo, đấy là tội ác… Tất cả nói lên rằng Đảng Cộng sản chưa bao giờ đứng về lợi ích của nhân dân, lợi ích của xã hội, mà chỉ bảo vệ lợi ích của một bộ phận cán bộ Đảng viên có chức có quyền. Những sai lầm và tội ác đó tất yếu sẽ dẫn đến sự sụp đổ của Đảng Cộng sản.

Sài Gòn  – Ngày 22 – 9- 2007

Đảng DCND http://ddcnd.org/main/

Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.
Ôn dịch Vũ Hán gây nên một cơn khủng hoảng chưa từng thấy trong khối các nước nghèo khó khiến 100 quốc gia trong số 189 thành viên IMF hiện đang cầu cứu cơ quan quốc tế này viện trợ khẩn cấp. Tưởng cần nên tìm hiểu bối cảnh của những quốc gia đang phát triển song song với các phân tích về tác động của khủng hoảng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.