Hôm nay,  

Suy Trầm Sắp Tới

12/12/200700:00:00(Xem: 11274)

...người ta thấy ngay con thuyền Việt Nam đang đi vào bão tố và sẽ gặp gió ngược...

Sau Ngân hàng Trung ương Anh quốc, đến lượt Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ cũng hạ lãi suất và ngày càng nhiều người dự đoán là nạn suy trầm kinh tế có thể xảy ra nay mai. Diễn đàn Kinh tế đài RFA sẽ tìm hiểu về viễn ảnh đó qua cuộc trao đổi sau đây cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa do Việt Long thực hiện hầu quý thính giả.

Hỏi: Thưa ông, ngày mùng sáu vừa qua, Ngân hàng Trung ương Anh quốc đã hạ lãi suất 25 điểm cơ bản, tức là 0,25%, vì e ngại kinh tế Anh bị suy trầm. Kinh tế Anh vốn chỉ là một phần của Liên hiệp Âu châu mà nước Anh không nằm trong khối tiền tệ thống nhất Âu châu nên quyết định ấy ít được dư luận chú ý. Nhưng khi Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ lại hạ lãi suất vì cùng một mối lo kinh tế suy trầm, các thị trường bắt đầu thấy rủi ro suy trầm tại Mỹ và trên toàn thế giới có thể xảy ra.

Diễn đàn Kinh tế kỳ này đề nghị sẽ chúng ta cùng tìm hiểu về nguy cơ đó.

Vào dịp cuối năm mà mình nói về chuyện u ám của kinh tế thì quả là kém vui. Nhưng đúng là thế giới đang e ngại là suy trầm kinh tế tại Mỹ có thể xảy ra với xác suất cao hơn mọi dự đoán trước đây. Trên diễn đàn này, trong chương trình phát thanh ngày 25 tháng Chín, chúng ta đã đề cập tới rủi ro ấy và bây giờ thì tình hình quả là đáng lo hơn rất nhiều, vì không chỉ có kinh tế Hoa Kỳ sẽ bị trũng mà nhiều xứ khác cũng vậy.

Hỏi: Chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu về những rủi ro ấy. Trước hết là từ Hoa Kỳ, vì sao các thị trường lại dự đoán rằng kinh tế Mỹ có thể bị đình trệ"

Tôi xin nói ngay rằng kinh tế Hoa Kỳ có thể bị đình trệ, nhưng trong mức độ tương đối nhẹ và có thể là không kéo dài vì nếu so với các khối kinh tế khác trên thế giới, Hoa Kỳ còn có khả năng ứng phó. Nhưng vì nước Mỹ có ảnh hưởng tới chừng 60% vào đà tăng trưởng kinh tế của thế giới cho nên nếu kinh tế xứ này mà bị khựng thì nhiều xứ khác sẽ bị nạn suy trầm, tức là có mức tăng trưởng thấp hơn trong hai quý liền.

Về nguyên do tại Mỹ thì nạn suy sụp thị trường gia cư, vụ bể bóng tín dụng từ thị trường tài trợ gia cư loại thứ cấp đã dẫn tới hậu quả là tín dụng trở thành khan hiếm, gây ách tắc cho thị trường tài chính. Lý do thứ hai mà ở bên ngoài Hoa Kỳ người ta có thể ít chú ý là số đầu tư về tư bản có giảm vì lắm nguyên nhân phức tạp, trong đó có nạn khan hiếm tín dụng mình vừa nói. Lý do thứ ba là những giao động tại Mỹ đã lây lan qua xứ khác, kể cả hai khối kinh tế lớn là Nhật Bản và Âu châu, nên sẽ dội ngược về Mỹ. 

Hỏi: Thưa ông, người ta có thể ngạc nhiên là vì sao lại có tình trạng tín dụng khan hiếm khiến kinh tế Mỹ bị suy trầm, dù có thể là rất nhẹ như ông vừa trình bày"

Trên diễn đàn này, ta nhiều lần nói tới hiện tượng gọi là tiền rẻ, chủ yếu là từ các nước Đông Á, khiến nhiều người lạc quan hồ hởi và thổi lên bong bóng đầu tư. Hiện tượng ấy đã kết thúc như Diễn đàn Kinh tế nhắc nhở từ hai năm trước rồi. Thứ hai, trái bóng đầu tư vào gia cư địa ốc nay cũng đang xì và trái bóng tín dụng thứ cấp thực ra đã vỡ và gây hoạ cho các ngân hàng trước đây đã lỡ mua bóng đó để kiếm lời và nay bị suy sụp hàng loạt khiến họ lo sợ mà xiết chặt hầu bao cho vay để tránh rủi ro. Từ tháng Tám vừa qua, Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ thấy ra điều ấy và phải liên tục cắt lãi suất, mà coi như chưa đủ nên phải hạ thêm, và còn có thể hạ nữa, từ nay đến quý ba của năm tới.

Hỏi: Bước qua nguyên nhân thứ hai là mức giảm sút đầu tư, vì sao đầu tư tại Mỹ có thể giảm và gây ra nguy cơ suy trầm"

Thưa ông vì tín dụng đã thành khan hiếm hơn. Thứ nữa, doanh giới cũng lo rằng kinh tế có thể đình đọng nên họ tạm kìm hãm đầu tư để nghe ngóng. Thứ ba, nếu xét cho kỹ thì ta có thấy mức lợi nhuận của đầu tư thực ra không cao như đã trông đợi trước đây. Và sau cùng, công xuất của các doanh nghiệp cũng đang có dấu hiệu giảm sút. Khi đầu tư bị hềm hãm như vậy trong tâm lý bi quan phổ biến, nạn suy trầm càng dễ xảy ra.

Hỏi: Sau cùng, về loại nguyên nhân ngoại nhập như ông nói, tại sao kinh tế Mỹ có thể bị suy trầm do tình trạng suy trầm của các thị trường khác trên thế giới" Nói như vậy thì chẳng hoá ra là kinh tế Mỹ không chỉ chi phối thế giời mà cũng bị ảnh hưởng ngược"

Thưa rằng điều ấy vẫn có thể xảy ra khi hai khối kinh tế lớn nhất sau Hoa Kỳ cũng bắt đầu có dấu hiệu điêu đứng, đó là các nước Âu châu trong khối Euro và Nhật Bản. Ta không quên rằng nhiều xứ Âu châu cũng bị hiện tượng bong bóng gia cư mà có khi còn nặng hơn Hoa Kỳ, như trường hợp của Anh hay Spain mà xưa ta gọi là Tây Ban Nha. Khi các nền kinh tế đó bị đình đọng, thậm chí suy trầm, thì thị trường xuất khẩu của Mỹ cũng bị ảnh hưởng. Chung cuộc thì mức tăng trưởng kinh tế toàn cầu sẽ khó đạt được 5% trong năm tới. Và thị trường thế giới có thể trải qua một giai đoạn giao động nặng.

Hỏi: Nhưng vì sao các thị trường lại dự đoán là kinh tế Mỹ sẽ chỉ bị suy trầm nhẹ và ông còn nói rằng Hoa Kỳ vẫn còn nhiều khả năng ứng phó với nguy cơ ấy"

Vì kinh tế Hoa Kỳ vẫn còn nhiều tiềm năng nên có bị suy trầm thì vẫn còn nhẹ. Thứ hai, lãi suất tại Mỹ còn cao nên còn có thể giảm để tiền sẽ thành rẻ hơn. Và bội chi ngân sách tại Hoa Kỳ cũng thấp chỉ bằng 1,2% tổng sản lượng nội địa GDP nên ngoài việc hạ lãi suất bằng biện pháp tiền tệ, Mỹ còn có khả năng tăng chi từ ngân sách để kích cầu. Cho nên dù thế giới tin là kinh tế Mỹ có thể bị suy trầm, nước Mỹ vẫn thừa tiềm lực phục hồi.

Trong khi ấy, và đây mới đáng lo, lạm phát vẫn có nguy cơ xảy ra. Trung Quốc bắt đầu điêu đứng với mức lạm phát trên hai số, y như Việt Nam, và lần đầu tiên từ rất lâu mà Nhật Bản cũng quan tâm đến vật giá vì lạm phát đã trở về sau cả chục năm giảm phát, trong khi đà tăng trưởng vẫn có thể sụt mạnh vào năm tới. Nói cho rõ hơn thì hai khối kinh tế lớn của Á châu có nguy cơ đầy nghịch lý là sản xuất giảm vì suy trầm toàn cầu mà vật giá vẫn tăng, một hiện tượng gọi là stagflation. Hậu quả là các thị trường sẽ bị biến động mạnh và có khi Mỹ kim lại hết sụt giá như người ta dự đoán.

Hỏi: Nói cách khác, thưa ông, viễn ảnh 2008 là nhiều biến động trái chiều và có nước bị suy trầm vì kinh tế Mỹ đình trệ, trong khi lại vẫn bị rủi ro lạm phát" Trong hoàn cảnh đó, xin đề nghị với ông là ta trở về hoàn cảnh của Việt Nam.

Qua năm tới, đâu là những bất trắc có thể xảy ra cho kinh tế Việt Nam"

Kinh tế Việt Nam lệ thuộc vào xuất khẩu tới 60%, cao gấp rưỡi Trung Quốc. Khi các nước, kể cả Mỹ, mà bị suy trầm thì thị trường xuất cảng của Việt Nam bị thu hẹp, đà tăng trưởng vì vậy sẽ giảm. Trong khi ấy, Việt Nam lại bị lạm phát, năm nay có thể vượt hai số, tức là cao hơn 10% và rủi ro lạm phát sẽ còn ám ảnh Việt Nam suốt năm tới. Vì vậy, năm 2008 sẽ có nhiều thách đố cho khả năng quản lý kinh tế của lãnh đạo xứ này.

Hỏi: Trong chương trình kỳ trước, ông ví von là Việt Nam đang "sống trong bong bóng" vì một phần dân chúng tự nuôi dưỡng trong ảo giác lạc quan. Nếu giả thuyết suy trầm mà xảy ra, và trái bóng đó có thể vỡ thì Việt Nam sẽ phải ứng phó ra sao"

Chúng ta cần nhìn ra chuyện gần và chuyện xa. Chuyện gần là khả năng điều tiết tiền tệ để ngăn ngừa lạm phát. Tiền tệ lưu hành tại Việt Nam quá nhiều mà hệ thống ngân hàng không thu hút được vì lãi suất quá thấp và khả năng quản lý quá tồi. Cho nên lạm phát là mối lo chính đáng, ngoài lý do vật giá gia tăng làm mình cũng nhập khẩu luôn lạm phát của thế giới.

Việt Nam cần xiết chặt hơn hoạt động của các ngân hàng, cả thương mại lẫn cổ phần, thì mới hy vọng kềm hãm đà vật giá. Đó là chuyện gần nhưng cũng đòi hỏi nỗ lực kiện toàn và cải tiến phương thức quản trị của Ngân hàng Nhà nước cho tinh vi hơn. Việc cơ chế này bơm tiền mua lại bảy tỷ Mỹ kim vào tháng Năm vừa qua là một cách chữa bệnh cho trâu, hoặc là giải phẫu bằng dao mổ bò.

Hỏi: Đó là biện pháp về tiền tệ. Ngoài ra, Việt Nam cần quan tâm đến biện pháp nào nữa"

Vì quá lệ thuộc vào xuất khẩu mà coi nhẹ thị trường nội địa, Việt Nam có chính sách ngoại hối thiếu hợp lý khi duy trì hối suất đồng bạc quá thấp và quá cứng ngắc. Tôi thiển nghĩ rằng Việt Nam cần có tỷ giá hối đoái linh động hơn, cụ thể là mở rộng hơn biên độ giao dịch và can thiệp nhặm lẹ hơn vào thị trường ngoại hối.

Một rủi ro thứ hai cho Việt Nam trong viễn ảnh kinh tế toàn cầu bị suy trầm và vật giá lại tăng ở Việt Nam là lãnh đạo kinh tế xứ này không quản lý nổi ngân sách cho chặt chẽ. Việt Nam bị bội chi ngân sách quá cao và tiêu xài công quỹ quá bừa phứa nên sẽ không thể dùng được khí cụ ngân sách hay thuế khoá để đối phó với những bất trắc. Cuối cùng thì vẫn còn bị bội chi nặng hơn.

Hỏi: Ông vừa nói đến ba loại biện pháp ứng phó là tiền tệ, ngoại hối và thuế vụ hay công chi, ngoài ra, Việt Nam còn phải cải thiện các khí cụ điều tiết nào nữa"

Nói chung thì các khí cụ điều tiết thị trường tại Việt Nam còn quá thô sơ và khả năng quản lý vĩ mô thì vẫn quá kém trong khi đã mở cửa hội nhập vào thế giới bên ngoài. Vì vậy, khi có biến động, người ta cứ nghĩ ngay đến biện pháp hành chính, như cho cán bộ đi kiểm soát giá cả, hoặc khi nhập lượng ta mua từ bên ngoài lên giá trên thế giới thì mình lại chỉ kiểm soát giá cả thành phẩm, rồi làm không nổi thì lại lấy ngân sách bù lỗ.

Nhìn chung như vậy, người ta thấy ngay con thuyền Việt Nam đang đi vào bão tố và sẽ gặp gió ngược mà thuyền trưởng không biết xử trí, tài công không điều khiển được bánh lái, và cũng chẳng biết đầu máy vận hành ra sao nữa.

Nếu xét như vậy và rút kinh nghiệm năm nay, Ngân hàng Nhà nước của Việt Nam là cơ chế ưu tiên phải được cải cách, và thật sớm, vì trực tiếp ảnh hưởng đến hai khí cụ là tiền tệ và hối đoái. Đồng thời, người ta cũng cần cải thiện khả năng thu thập thông tin và lượng định tình hình thị trường, để thấy được mối nguy trước khi xảy ra.

Hỏi: Câu hỏi cuối, thưa ông, nếu Việt Nam không cải thiện được bộ máy quản lý đó thì điều gì sẽ xảy ra"

Năm qua, Việt Nam quá lạc quan với viễn ảnh hội nhập sau khi vào Tổ chức Thương mại Thế giới và thấy đầu tư nước ngoài cứ tràn ngập như nước. Khi tốc độ tăng trưởng bị giảm sút và vật giá vẫn leo thang vùn vụt, giới đầu tư nước ngoài sẽ chột dạ về khả năng quản lý vĩ mô quá yếu của bộ máy nhà nước. Họ sẽ ngần ngại và cân nhắc rủi ro kỹ lưỡng hơn, đấy là lúc trái bóng sẽ bể trên rất nhiều thị trường, từ bất động sản đến cổ phiếu. Hoàn cảnh kinh tế toàn cầu khiến 2008 sẽ là một năm thử thách. 

Câu hỏi đang đặt ra ở Biển Đông là Trung Quốc có âm mưu gì khi bất ngờ gia tăng đe dọa và phủ nhận quyền chủ quyền của các nước có tranh chấp lãnh thổ với Bắc Kinh gồm Việt Nam, Phi Luật Tân, Nam Dương, Mã Lai và Brunei, vào lúc cả thế giới lo phòng, chống dịch nạn Vũ Hán, xuất phát từ Trung Quốc từ đầu năm 2020 (Coronavirus disease 2019 (COVID-19). Để trả lời cho thắc mắc này, cũng như liệu tranh chấp giữa Mỹ và Trung Quốc ở Biển Đông có đưa đên nguy cơ chiến tranh hay không, xin mời bạn đọc theo dõi nội dung Cuộc phỏng vấn của tôi với Giáo sư ngoại hạng (Professor Emeritus), Tiến sỹ Nguyễn Mạnh Hùng, người từng giảng dậy nhiều năm về Quan hệ Quốc tế tại Đại học George Mason, gần Thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Giáo sư Hùng là Học giả cao cấp bất thường trú của Trung tâm nghiên cứu Chiến lươc và quan hệ Quốc tế ở Washington, D.C. (Center for Strategic and International Studies, CSIS). Ngoài ra ông còn là Học giả vãng lai hai niên khóa 2015-2016 tại viện nghiên cứu nổi tiếng ISEAS-Yusof Is
Sau khi ông George Floyd bị chết dưới bạo lực cảnh sát, một phong trào biểu tình chống kỳ thị người da đen đã bùng nổ và lan rộng khắp nước Mỹ và trên thế giới. Phong trào có sự tham gia của mọi tầng lớp, của nhiều sắc tộc khác nhau, trong đó có người Việt Nam. Sự kiện này đã dẫn đến nhiều mâu thuẫn trong tập thể người Việt, do cách nhìn trái chiều về vấn đề kỳ thị chủng tộc đối với người da đen và phong trào Black Lives Matter. Đặc biệt là giữa thế hệ trẻ và thế hệ những người lớn tuổi trong cộng đồng. Là một tổ chức đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền Việt Nam, với chủ trương Đấu tranh bất bạo động, đảng Việt Tân đã từng lên tiếng ủng hộ các phong trào biểu tình của người dân như ở Hong Kong. Chúng tôi có cuộc phỏng vấn với ông Hoàng Tứ Duy, Phát ngôn nhân Đảng Việt Tân, về nhận xét của ông đối với phong trào Black Lives Matter và sự tham gia của giới trẻ Việt Nam trong các cuộc xuống đường đòi công lý cho người Mỹ da đen.
Trong khi tham vọng kiểm soát của chế độ toàn trị vẫn như cũ, có một số khác biệt giữa những nỗ lực của Mao và Tập Cận Bình. “Tư tưởng của Tập Cận Bình là một thay thế nhạt màu cho Sách Đỏ của Mao. Tập Cận Bình đã không thể đưa ra một ý thức hệ mạch lạc để truyền cảm hứng cho sự cuồng tín trong những người theo ông, khác một chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc chung chung. Mặt khác, Tập có các công cụ công nghệ khả dụng mà đơn giản là không áp dụng cho những nhà độc tài trong thế kỷ 20. Hệ thống tín dụng xã hội kết hợp tất cả các phương pháp của thông minh nhân tạo, dữ liệu quy mô, cảm biến lan tỏa và đặt các phương tiện này vào trong tay nhà nước Trung Quốc. Cả Stalin và Mao đều không thể kiểm soát trực tiếp các phong trào hàng ngày, lời nói và giao dịch của từng đối tượng theo cách mà đảng Trung Quốc về mặt lý thuyết có thể làm ngày nay.
Một dự luật đã được đưa ra Quốc Hội Nhân Dân của Đảng Cộng Sản Trung Hoa (CSTH) ngày 22 tháng 5 năm 2020 tại Bắc Kinh, và đúng một tuần lễ sau, dự luật này đã được nhanh chóng thông qua vả trở thành Đạo Luật An Ninh Quốc Gia (ĐLANQG) về Hồng Kông vào ngày 29 tháng 5. Khi đưa ra Quốc Hội Nhân Dân để bàn thảo và thông qua, dự luật này gồm 7 điểm chính, trong đó ba điểm quan trọng nhất để đối phó và triệt hạ quyền tự chủ cùa Hồng Kông là điều số 2, số 4, và số 6. Theo đó, Bắc Kinh sẽ ngăn chặn tất cả các nguồn yểm trợ từ bên ngoài vào Hồng Kông; sẽ sử dụng được các lực lượng đàn áp từ Bắc Kinh để dập tắt các cuộc biểu tình, những người tham dự biểu tình có thể quy tội phản quốc, ly khai; và từ đó Bắc Kinh sẽ khai triển ra những đạo luật khác để thực hiện các mưu đồ trên.
Đảng Cộng Sản Việt Nam có truyền thống bán nước từ Hồ Chí Minh cho đến ngày nay. Người bán nước số một là Nguyễn Phú Trọng, bán nước một cách tinh vi, từ những bí mật nầy đến những bí mật khác để lừa bịp nhân dân. Đã đặt Việt Nam lệ thuộc vào Trung Cộng, xem như thời kỳ Bắc thuộc lần thứ năm. Tuổi tác đã cao, sức khỏe yếu kém mà muốn ôm cái ghế quyền lực suốt đời. Thủ hạ Nguyễn Hồng Diên thăm dò dư luận bằng những lời lẽ nâng bi quá đáng, làm phản tác dụng, gây phẩn nộ trong quần chúng. Tóm lại, Nguyễn Phú Trọng và đảng của ông đã đặt Việt Nam lệ thuộc vào Trung Cộng, đó là tội đồ của dân tộc.
Khi còn trẻ, đôi lúc, tôi cũng (thoáng) có ý định sẽ trở thành một người cầm bút. Ở một xứ sở mà phần lớn người ta đều cầm cuốc, cầm búa, cầm kìm hay cầm súng… mà định cầm viết thì quả là một chuyện khá viển vông – nếu không muốn nói là hơi xa xỉ. Lúc không còn trẻ (nữa) tôi mới ngộ ra rằng: bút viết nó chọn người, chứ không phải là ngược lại – trừ khi mình cứ cầm đại thì không kể. Tôi không được (hay bị) lựa và cũng không có máu liều – như phần lớn quí vị trong Hội Nhà Văn Việt Nam Đương Đại – nên chuyện viết lách kể như … trớt quớt!
Nuôi dưỡng nền dân chủ giống như kẻ trồng cây: khi còn là hạt giống phải chống đỡ quạ tha gà mổ; cây còn non trẻ cần ngăn ngừa sâu bọ; đến lúc trưởng thành già nua phải chặt bớt những cành lớn không thì một cơn bão lớn sẽ làm đổ ngã thân cây. Việt Nam chưa có dân chủ nên tranh đấu đòi dân chủ. Nền dân chủ non trẻ tại Phi Luật Tân bị đe dọa trở lại độc tài. Dân chủ ở Mỹ trưởng thành lâu đời nay lại nảy sinh ra dấu hiệu già nua thoái hóa thành một hình dạng gì chưa nhận biết được.
Xét về cao độ thì Sơn Núi (Nguyễn Đức Sơn) ở thấp hơn nhiều bạn đồng nghiệp của mình – như Bùi Minh Quốc, Hà Sĩ Phu, Mai Thái Lĩnh, Tiêu Dao Bảo Cự… – xa lắc. Những nhân vật này đều có thời là biên tập viên của tạp chí Lang Biang, tờ báo (đã bị đóng cửa) này lấy tên theo vùng cao nguyên lâm Viên mà họ đang sinh sống. Đỉnh Lâm Viên, ở Đà Lạt, cao hơn hai ngàn mét lận. Từ đây, muốn leo lên trời (để đái, hay làm gì tùy thích) còn tiện hơn nhiều. Ngoài lợi thế nhỏ nhặt này ra, những cư dân ở miền sơn cước gặp phải toàn là những điều (vô cùng) bất tiện. Họ xa cách (mịt mù) với thế giới văn minh, ở những đô thị miền xuôi. Tôm cá hì hục chở lên đến được đến cao nguyên (thường) đã bị ươn, và thông tin khi nhận được thì (ôi thôi) hoàn toàn đã cũ.
Giữa mùa đại dịch COVID-19, tại những buổi tường trình mỗi ngày, Tổng thống Mỹ Donald Trump và Phó Tổng thống Mike Pence không ngớt tiên đoán sự lớn mạnh vượt bực của kinh tế quốc gia Hoa Kỳ sau khi tình hình dịch tễ lắng đọng. Hai ông nhấn mạnh rằng kinh tế Mỹ hậu-COVID-19 sẽ tìm lại thế quân bằng sau những chao đảo khiếp hãi khiến cả 40 triệu nhân công thất nghiệp trong vòng vỏn vẹn ba tháng trời. Đầu tháng Sáu, hy vọng bắt đầu le lói khi guồng máy kinh tế rục rịch mở cửa lại, ai nấy trông đợi ánh sáng tỏa lớn cuối đường hầm.Tuy nhiên, mặc dù người ta có quyền hy vọng vào sự thịnh vượng chung, nhưng sự thật là đối với các thành phần ít may mắn hơn trong xã hội (vâng, phần đông trong đó là những sắc dân da màu thiểu số), khó khăn kinh tế gần như là một điều chắc chắn. Ai cũng tưởng sau khi COVID-19 giáng một đòn chí tử lên kinh tế Hoa Kỳ, thì khoảng cách chênh lệch giữa hai thành phần giàu-nghèo sẽ phần nào thu hẹp, nhưng oái oăm thay, mọi bằng chứng cho thấy sự khác biệt ấy
Do đó, chỉ khi nào người dân được quyền trực tiếp chọn Lãnh đạo qua bầu cử tự do, công bằng và dân chủ thì khi ấy những kẻ bất tài, có thành tích xấu, hay chỉ biết thu vét cho đầy túi tham, lợi ích nhóm hay làm tay sai cho Ngoại bang mới bị loại khỏi đội ngũ cầm quyền. Ngược lại, nếu vẫn tiếp tục chọn người theo thông lệ “đảng cử dân bầu” hay “đảng chọn, cán bộ bỏ phiếu” thì có trăm năm, nhân dân Việt Nam vẫn chưa tìm thấy ánh sáng ở cuối đường hầm.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.