Hôm nay,  

Hoàng Sa Nhìn Lại

15/01/201000:00:00(Xem: 10025)

Hoàng Sa Nhìn Lại

đỗ xuân tê
Tôi tuy sống ở quận Cam từ nhiều năm nay, nhưng lại hay quan tâm về chuyện biển Đông, chẳng phải bây giờ mà kể từ 1974 khi bạn tôi, một hạm phó của một tàu Hải quân VNCH, thuật lại trận tử chiến Hoàng Sa khi anh trở về từ vùng  biển chết.
Ấy vậy mà đã trên ba thập niên tính đến 19-1 năm nay.Bạn tôi hiện đang sống ở Úc, người hạm trưởng của anh đang ở San Jose. Cả hai vẫn kín tiếng chưa một lần phát biểu hay tham gia bất cứ cuộc hội thảo nào liên quan đến trận đánh. Không phải các anh bàng quan với thời cuộc, cũng chẳng phải  thiếu lòng tự hào khi tham dự một trận đánh để đời nay đã đi vào quân sử, mà hình như hai người đầu đàn của một khu trục hạm năm xưa vẫn mang niềm u uẩn của những con sói biển khi cảm thấy uất ức vì để mất Hoàng Sa cho bá quyền Trung quốc và cảm thương sâu sắc cho  đồng đội Hạm trưởng Ngụy văn Thà (hộ tống hạm Nhật Tảo HQ10) cùng 123 thủy thủ của lực lượng hải chiến VNCH đã ở lại với biển.
Cách đây một năm, anh có sang Mỹ chơi, với tình bạn vừa là người ưa viết lách, tôi có gợi ý anh cho tôi một số chi tiết hoặc  cảm nghĩ về  cái ngày tháng giêng 19 khi bốn con tầu của Hải quân Việt nam rẽ sóng ra khơi từ bờ biển Đà nẵng theo lệnh của Tư lệnh tối cao Nguyễn văn Thiệu bằng mọi giá tiến chiếm lại Hoàng Sa, phát huy truyền thống giữ nước giữ biển của ông cha ta từ những ngày Đại Việt, khi anh vẫn còn là nhân chứng sống của một thiên bi hùng sử mà một thời ngưòi ta chưa đánh giá đúng mức hay  lường trước được hậu quả chiến lược về chủ quyền biển đảo di hại đến nhiều thế hệ sau.
 Như biết được suy nghĩ của tôi, anh vẫn  khiêm tốn góp ý là những gì về Hoàng Sa ngày ấy thì sách, báo, chứng cứ lịch sử, cá nhân, tập thể đã nói nhiều, đều trung thực và khả tín, rồi như sợ tôi mất lòng, anh từ chối khéo khi lấy một tập quán chỉ huy dù không thành văn của hải quân là khi hạm trưởng còn sống mà chưa ‘lên tiếng’ sẽ là một sự bất kính khi hạm phó hoặc những người theo tầu được phép phát ngôn. Anh nghiêm túc thổ lộ điều anh trăn trở là cần làm nổi bật cho các thế hệ sau tinh thần bất khuất  của Ngụy văn Thà và những người con yêu của biển đã hi sinh trong trận hải chiến thiếu cân bằng về tương quan lực lượng nhưng không hề khiếp nhược về mặt quyết chiến quyết tử khi đối mặt với một kẻ thù cướp đảo mà âm mưu xâm lược và ý đồ thôn tính đã có một lịch sử lâu đời từ thuở Bạch Đằng giang.
Thật sự  ngôn từ của anh không hẳn lúc nào cũng bóng bảy như  tôi viết lại, nhưng trong câu chuyện trao đổi anh vẫn tỏ ý buồn là cái chết của những người đồng đội của anh chưa được đánh giá và tri ân đúng mức. Tất nhiên huy chương nào cũng có mặt trái, chiến công nào  đôi khi cũng có sự thổi phồng, nhưng một trận đánh nếu không thắng thì tất yếu nó vẫn bị đánh giá thấp và những tác nhân  xoay quanh cuộc chiến rất dễ bị lãng quên, nếu không muốn nói đôi khi còn bị  phẩm bình soi mói.


Cứ theo ý của anh, thì sự kiện Hoàng Sa năm 1974 không thể hiểu như vậy và cũng không thể xếp vào trường hợp này, mà ta phải kể đến bối cảnh của miền Nam thời ấy, một thời điểm cuộc chiến sắp tàn, một hiệp định đình chiến bó tay khi phải đối phó với người nội thù phiá bắc, lại hết thời hậu thuẫn của nguời bạn đồng minh bên kia bờ đại dương,  lực bất tòng tâm vẫn phải đơn phương chống chỏi với kẻ thù xâm lược khi mà người trong nhà gà cùng một mẹ không đồng tình chia sẻ, trong cách hiểu nào đó lại án binh bất động tỏ tình quốc tế vô sản với người ‘vừa là đồng chí vừa là anh em’.
Qua câu chuyện tôi cũng thấy anh phần nào có lý khi cỗ máy tuyên truyền, cùng những người chỉ huy của chúng tôi, đã không mở một chiến dịch quảng bá sâu rộng ý nghĩa cuộc chiến tranh cướp đảo và ý đồ của bọn Trung quốc, hậu thuẫn ngầm của những người lãnh đạo Hà nội và sự hi sinh cao cả, kiên cường  của những người lính biển đã âm thầm  ‘ôm tàu, ôm đảo’ để ‘hóa thành Tổ quốc trùng khơi’ (*), mà phần nào ưu tiên đặt nặng những chiến công trên rừng trên đất, mải lo cho chiến dịch lấn đất dành dân  sau hiệp định Paris, nên thiếu ngợi ca những người ở lại, ghi công chiếu lệ với những người trở về từ vùng biển đảo mà ngàn năm sau dù một chế độ đã bị bức  tử thì sự hi sinh của họ vẫn là ‘những người yêu nước, chết vì nước không thể nào là ‘ngụy’ như lời ngợi ca của nhà thơ Trần Mạnh Hảo, một người lính bên kia chiến tuyến đã công bằng đánh giá, được phổ biến rộng rãi trên báo in, báo mạng  qua bài thơ “Người anh hùng họ Ngụy” hồi năm ngoái.
Ngẫm lại, cái gì cũng có luật bù trừ, thời  gian sẽ là nhân chứng đứng về phía chính nghĩa. Lịch sử vẫn công bằng và giờ đây từ bắc chí nam, từ trong nước ra hải ngoại, đều biết đến tên tuổi Ngụy Văn Thà, người anh hùng đã phát  lệnh xung kích, bắn phát hỏa đạn đầu tiên, sau lần cảnh cáo tàu địch không chịu rút khỏi lãnh hải chủ nhà, hết đạn, bị thương nặng, không chịu tải thương, ở lại tàu cùng chết với đồng đội, chết theo tàu khi trúng hỏa tiễn của địch, vĩnh viễn ở lại với biển.
Nay nhìn lại Hoàng Sa  khi “Gió biển Đông đã đổi chiều” (**), tác giả có ít dòng hoài niệm vinh danh người anh hùng của trận đánh Hoàng Sa, xin ghi lại như một nén hương lòng tưởng nhớ những người con yêu của Tổ Quốc.
HOÀNG SA BÂT KHUẤT
Hoàng sa! Hoàng sa!
Ngụy Văn Thà
Tên anh tên đảo
Con tàu Nhật tảo
Như chim báo bão
Một ngày không xa
Biển Đông dậy sóng
*
Ba mươi lăm năm
Biển Đông nhìn lại
Anh vẫn ngủ yên
Trong lòng của biển
Tên anh tên biển
Hòa quyện ngàn năm
Hoàng Sa bất khuất!
đỗ xuân tê
(*) trích thơ của T.M.H.
(**)bài viết của đxt

Sau 75 năm có mặt trên đất nước, có bao giờ Quân đội Cộng sản Việt Nam tự hỏi mình: Chúng ta là của dân hay của đảng cầm quyền độc tài?
“Nói chuyện Tháng Giêng” là đề tài tôi viết để gửi đăng trên một số các báo xuân ở Hải Ngoại cách đây nhiều năm. Câu chuyện xoay quanh một số các từ ngữ từ sau năm 1975, vì lý do này hay lý do khác, hầu như không còn được dùng nữa.
WESTMINSTER (VB) – Một thời ông viết truyện, một thời ông làm thơ, một thời ông dịch các nhà thơ kinh điển Việt Nam sang tiếng Anh, và một thời ông nghiên cứu về Triết học Tây Phương và Đông Phương.
Hoa Kỳ liên lạc ngoại giao chính thức với Trung Hoa từ năm 1844, thời nhà Thanh. Quan hệ nầy thay đổi quan trọng từ khi Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, tức Trung Cộng thành lập năm 1949.
Khoảng cách giàu nghèo ở Tây Phương hiện gây ra những cơn chấn động về chính trị nhưng thiết tưởng cần nhận biết chính xác triệu chứng nằm ở đâu rồi sau đó mới đi tìm nguyên do và phương thuốc giải quyết.
Những sai lầm liên tiếp và cực kì nguy hiểm của đảng này qua nhiều giai đoạn đã xô đẩy VN rơi vào hoàn cảnh cực kì nguy hiểm: Kinh tế kiệt quệ và lệ thuộc bên ngoài; những kẻ cầm quyền tham nhũng và tha hóa cùng cực, thẳng tay đàn áp nhân dân
Nhìn từng cuộn khói lam mong manh lan tỏa từ lư hương, bà Nắng tưởng như thấy lại được hình ảnh vật vả, khổ đau của chính Bà khi được Bộ Tư Lệnh Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) báo tin Hải Quân đại úy Tạ Quang Nắng đã mất tích trong trận hải chiến với Trung cộng tại Hoàng Sa, ngày 19 tháng 01 năm 1974!
Đức Huỳnh Phú Sổ sinh tại làng Hoà Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc ngày 15/1/1920, nhằm ngày 25/11 năm Kỷ Mùi, gần 100 năm trước.
trong nhiều năm qua, lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng trưởng ở mức hai con số, nhưng tỷ lệ quay trở lại thấp (chỉ từ 10% đến 40%) . Chi tiêu của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam không cao
Chả việc gì phải “nhậy cảm” đến thế đâu, ông B.S ạ. Bên giới dược họ còn bán cả đến thuốc giả nữa cơ mà đã có sao đâu. Bà Kim Tiến vẫn hạ cánh an toàn đấy thôi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.