Hôm nay,  

Kinh Tế Và Tự Do

29/01/201000:00:00(Xem: 9924)

Kinh Tế Và Tự Do

Nguyễn Xuân Nghĩa & Việt Long RFA

...độc tài chính trị và giới hạn tự do mới dễ gây ra khủng hoảng kinh tế...
Tuần qua, phúc trình hàng năm về trình độ tự do kinh tế của các quốc gia trên thế giới đã được công bố. Việt Nam vẫn thuộc thành phần có ít tự do kinh tế, đứng hạng thứ 144 trên 188 nước và còn tụt hậu so với năm trước. Cũng tuần qua, tạp chí Foreign Policy tại Hoa Kỳ đã có bài viết về các thế lực tiền bạc mới tại Việt Nam với những dự báo bi quan cho xã hội. Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu về một vấn đề vừa kinh tế vừa xã hội của Việt Nam qua phần trao đổi cùng nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa. Chương trình chuyên đề này sẽ do Việt Long thực hiện sau đây.
Việt Long: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Thưa ông, như mọi năm, cứ vào đầu năm tại Hoa Kỳ thì Sáng viện The Heritage Foundation và nhật báo The Wall Street Journal lại công bố kết quả khảo sát về tình hình tự do kinh tế của các nước trong năm qua. Năm nay, Việt Nam vẫn thuộc thành phần các quốc gia không có tự do kinh tế, chỉ đứng hạng 144 trong số 188 quốc gia được khảo sát và lại còn tụt hậu so với năm 2008, chỉ được bình quân là 49,8 điểm trên 100. Hôm 21 vừa qua, tạp chí chuyên đề Foreign Policy cũng có bài của tác giả Bill Hayton viết về hiện tượng thế lực tiền bạc mới của gia tộc những người có quyền lực tại Việt Nam. Trong mấy chương trình cuối năm Sửu và chuẩn bị cho năm Dần sắp tới, chúng tôi xin đề nghị ông phân tích giúp cho hiện tượng này. Một câu hỏi cụ thể là dường như người dân Việt Nam chưa có tự do kinh tế nhưng một thành phần thiểu số lại có những đặc quyền lớn lao để có thể làm giàu nhanh chóng. Vì sao lại như vậy"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi xin trước nhất lại nói về bối cảnh rồi mình mới đào sâu vào vấn đề để tìm ra câu trả lời. Mình hãy nói về trình độ tự do kinh tế trước.
- Đầu tiên, Sáng viện The Heritage Foundation là một lò nghiên cứu nổi tiếng của Hoa Kỳ, theo chủ trương phát huy tự do và kinh tế thị trường. Wall Street Journal là nhật báo chuyên đề về kinh tế có số bán chạy nhất Hoa Kỳ, mỗi ngày hơn hai triệu tờ. Với quan điểm tự do kinh tế là yếu tố đóng góp cho thịnh vượng của quốc gia, từ năm 1995, hai cơ sở này vẫn yêu cầu các chuyên gia của họ khảo sát tình hình tự do kinh tế của các nước trên thế giới theo 10 tiêu chuẩn để đánh giá trình độ của từng nước. Báo cáo này rất được các thị trường và nhà đầu tư theo dõi.
- Tuần qua, phúc trình của họ cho biết tình trạng sa sút của Việt Nam, một quốc gia vốn đã thuộc loại ít có tự do kinh tế và còn bị tụt hậu trong năm tiêu chuẩn là quyền tự do kinh doanh, mức công chi ngân sách, quyền tự do tiền tệ, tự do đầu tư và tự do lao động. Vì 2009 là năm suy trầm toàn cầu nên nhiều chính quyền phải gia tăng can thiệp vào kinh tế và có giới hạn tự do, nhưng việc Việt Nam đứng quá rất thấp, ở hạng 33 trong 41 quốc gia Á châu Thái bình dương, và lại còn tụt điểm nên cũng là một điều đáng chú ý và rất đáng buồn.
Việt Long: Trong khi ấy, tờ Foreign Policy lại có một bài viết còn bi quan về Việt Nam và nêu ra hiện tượng tư bản thân tộc trong một quốc gia tự xưng là xã hội chủ nghĩa. Nghịch lý ấy lại càng đáng chú ý hơn không"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Người ta phải kết luận là trong khi thị trường chưa có tự do, tư doanh vẫn bị nhiều giới hạn thì một thiểu số lại làm giàu rất nhanh nhờ quan hệ gia tộc với những người có chức có quyền. Lồng bên dưới, bài viết nhấn mạnh đến vai trò của các tổng công ty quốc doanh như những thế lực kinh tế thậm chí chính trị, và đến trách nhiệm của đảng Cộng sản khi vẫn thực tế khống chế cả doanh nghiệp nhà nước lẫn tư doanh. Đáng chú ý nhất là khi bài báo kết luận rằng đảng lại gia tăng đàn áp và tập trung quyền lực nên có thể dẫn Việt Nam từ tình trạng có tiến bộ về kinh tế qua một tai họa xã hội.
- Do cố giáo sư Samuel Huntington xuất bản từ năm 1970, Foreign Policy là một bán nguyệt san có uy tín về bang giao quốc tế và rất được giới lãnh đạo trên thế giới theo dõi. Có lẽ, đây là lần đầu mà vấn đề nhạy cảm như vậy của Việt Nam được quốc tế công khai phơi bày cho dư luận. Khi Việt Nam bị đánh giá là thiếu tự do kinh tế mà một thiểu số thân tộc của đảng Cộng sản lại thành những thế lực tiền tài mới thì người ta phải nêu câu hỏi về cái định hướng gọi là "xã hội chủ nghĩa" của đảng Cộng sản Việt Nam.
Việt Long: Vì sao Việt Nam lại có mâu thuẫn ấy, giữa cái gọi là "định hướng xã hội chủ nghĩa" và hiện tượng tập trung quyền lực và tiền tài vào trong tay một thiểu số có quan hệ chặt chẽ với đảng Cộng sản"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Chỉ vì đặc quyền tất nhiên dẫn tới đặc lợi và thuộc tính của nó là nạn tham nhũng. Thí dụ như về quyền tự do thoát khỏi nạn than nhũng, thì Việt Nam chỉ được có 27 trên 100 điểm, tức là thuộc loại tham nhũng rất nặng. Tham nhũng là sự cấu kết giữa quyền lực chính trị và thị trường. Khi có tập trung quyền lực và giới hạn tự do, thì thiểu số có quyền tất nhiên có nhiều cơ hội làm giàu hơn đa số người dân còn lại, dù họ có tự xưng là cộng hoà, là dân chủ hay là xã hội chủ nghĩa. Khi Việt Nam lại gia tăng kiểm soát báo chí như ta thấy rõ trong năm qua thì không ai dám tố cáo những sự nhũng lạm đó nữa.
Việt Long: Nếu nhìn rộng ra ngoài, người ta có thấy ra hiện tượng "tư bản thân tộc" hay "crony capitalism" là điều có xảy ra tại các nước Á châu Thái bình dương vào nhiều thập niên trước. Việt Nam có đi vào con đường ấy hay không"


Nguyễn Xuân Nghĩa: - Có thể là ta thấy ra một hiện tượng văn hóa rất tệ của Á châu là quy luật "một người làm quan cả họ được nhờ". Nhưng nói chung thì trừ trường hợp Trung Quốc và Việt Nam - là hai quốc gia đã chuyển hướng kinh tế cho tự do hơn bên dưới một chế độ độc đảng - các nước trong khu vực đều tự gỡ bỏ khỏi tệ nạn này, hoặc cũng đã bị khủng hoảng nên chế độ dân chủ đã cho phép cải sửa. Việt Nam và Trung Quốc thì chưa, chủ yếu vì chưa có dân chủ.
- Điều nguy hiểm là khi thiểu số có quyền lại chi phối doanh trường để làm lợi cho tay chân thì ta có hiện tượng "cái đuôi điều khiển cái đầu", tức là vì đặc lợi cho một thiểu số mà làm lệch lạc chính sách kinh tế quốc dân và gieo họa cho đa số nghèo khổ ở dưới. Một thí dụ cụ thể mà diễn đàn này của chúng ta đã nhiều lần nói tới là tay chân của các tổng công ty nhà nước ở Việt Nam lại nắm luôn hệ thống doanh nghiệp tài chính tự mệnh danh là tư nhân và đi vào những nghiệp vụ đầu tư về địa ốc hay cổ phiếu rồi gây nên nạn bong bóng đầu cơ. Tín dụng quá rẻ và có trợ cấp, vì gọi là thuộc diện chính sách, lại được ưu tiên trút vào các doanh nghiệp nhà nước để rồi tuồn ra thị trường bằng ngả khác và gây rất nhiều bất ổn cho nền kinh tế vĩ mô. Chính là những tệ nạn ấy mới dễ gây ra bất ổn xã hội khi người nghèo lại càng nghèo hơn dưới quyền quyết định của một thiểu số ngày càng giàu hơn. Người ta đang trở lại chế độ bóc lột, nhưng dưới danh nghĩa "xã hội chủ nghĩa".
Việt Long: Ngày xưa, Việt Nam theo chế độ tập trung quản lý thì xứ sở nghèo đói và kinh tế bị khủng hoảng. Từ hai chục năm nay, Việt Nam đã có đổi mới và kinh tế đã đạt tốc độ tăng trưởng khả quan hơn, nhưng cuối cùng thì sinh hoạt kinh tế thông thoáng hơn vẫn không làm thay đổi được chính trị cho tự do hơn" Vì sao Việt Nam lại có hiện tượng như vậy, các xứ khác có gặp tệ nạn ấy hay không"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Quan niệm duy vật ngày xưa và cả quan điểm tư bản ngày nay đều có chung một sai lầm nghiêm trọng. Đó là tưởng rằng kinh tế ở dưới sẽ làm thay đổi chính trị ở trên.
- Ngày xưa, chế độ cộng sản lầm tưởng như vậy khi muốn dùng kinh tế để chi phối tư duy và chính trị, từ chế độ hộ khẩu đến tem phiếu hoặc bỏ đói những người tủ cải tạo để làm thay đổi các suy nghĩ của con người. Kết quả chỉ là khủng hoảng kinh tế. Sau này, khi Việt Nam đi theo kinh tế thị trường thì giới đầu tư cũng có lý luận tương tự là dùng đòn bảy kinh tế để tạo ra sự phồn thịnh và nhờ đó mà người dân cũng sẽ có tự do, dân chủ. Đây là sự ngụy biện của những người muốn vào làm ăn với một chế độ chuyên quyền và không muốn gây xáo trộn bất lợi cho việc kinh doanh của họ. Kết cuộc thì nhiều người đã liên doanh và trở thành đồng lõa cho một việc bóc lột trên quy mô toàn quốc. Hiện tượng tư bản thân tộc chỉ là mặt nổi của tệ nạn đó.
Việt Long: Nhưng ông vừa trình bày là nhiều quốc gia Á châu khác cũng đã từ bỏ được chế độ tư bản thân tộc và bất công này, có phải là nhờ kinh tế phát triển và người dân được no ấm hơn nên đã đòi hỏi nhiều quyền tự do hơn hay không"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi xin lấy vài thí dụ trong khu vực để mình cùng thấy ra điều ấy. Đài Loan hay Đại Hàn đã có tốc độ tăng trưởng rất cao và công bằng hơn Việt Nam và Trung Quốc. Rồi lãnh đạo của họ đã chủ động giải phóng dần sinh hoạt chính trị cho dân chủ hơn, Đài Loan kể từ năm 1978 về sau, Nam Hàn kể từ năm 1988. Trong khi ấy, Indonesia đã có ba chục năm gọi là "ổn định" dưới chế độ độc tài Suharto, đến khi bị khủng hoảng kinh tế năm 1998, thành phần lãnh đạo của họ đã không lấy lý cớ khủng hoảng để duy trì độc tài mà lại còn tiến hành cải cách chính trị mạnh mẽ hơn. Chính là những quyết định chính trị dân chủ mới giúp cho kinh tế phát triển theo hướng công bằng và lành mạnh hơn. Bảo rằng kinh tế ở dưới sẽ làm thay đổi chính trị ở trên thì cũng phi lý như nói rằng con người ta suy nghĩ bằng cái bao tử. Con người ta thực sự có trình độ tư duy cao hơn chứ không là một sinh vật kinh tế. Ngược lại, chính là ách độc tài chính trị và việc giới hạn tự do mới dễ gây ra khủng hoảng kinh tế.
Việt Long: Nếu như vậy thì mình có thể kết luận là giải phóng kinh tế không nhất thiết dẫn đến giải phóng chính trị"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Dù là một người nghiên cứu về kinh tế, tôi vẫn có lý luận ngược là giải phóng chính trị mới dẫn đến giải phóng kinh tế và một chế độ chính trị dân chủ với người dân có quyền tự do thì mới có hy vọng chọn lựa giải pháp kinh tế có lợi nhất cho đa số. Những sai lầm về chính sách kinh tế có thể được cải sửa khi người dân có quyền chọn lựa lãnh đạo khác.
- Ngược lại, khi có hiện tượng giải phóng nửa vời như trường hợp Việt Nam trong hai chục năm gọi là đổi mới vừa qua, người ta trước tiên giải phóng những thói tật xấu nhất. Kết quả là sự băng hoại đạo đức trong một xã hội lý tài, nơi mà người có đặc quyền sẽ có nhiều đặc lợi nhất và lại dùng đặc lợi ấy khuynh đảo quyền lực mà không ai có thể can ngăn hay kiểm soát được. Việc báo chí bị cấm đoán, tôn giáo và trí thức bị đàn áp và nhiều trung tâm nghiên cứu độc lập không được lên tiếng, v.v.. khiến quốc tế than phiền, rằng năm qua, Việt Nam vừa tụt hậu về quản lý kinh tế lại vừa gia tăng đàn áp tự do. Đó là một hồi chuông cảnh báo, vì khủng hoảng xã hội mà bùng nổ thì tất yếu dẫn tới khủng hoảng chính trị, chứ người dân không có giải pháp nào khác.

Bằng chứng: ”Sự bùng phát mạnh của làn sóng Covid-19 lần thứ tư cùng với các đợt giãn cách liên tiếp khiến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (DN) bị ảnh hưởng nặng nề, đặc biệt là các địa phương phía Nam. Theo Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường trong 8/2021 là 85,5 nghìn doanh nghiệp, tăng 24,2% so với cùng kỳ năm 2020.
Mặc dù rõ ràng là Hoa Kỳ có thể điều hành công việc ra khỏi Afghanistan tốt đẹp hơn, nhưng thảm kịch xảy ra vào tháng này đã kéo dài trong 20 năm. Ngay từ đầu, Mỹ và các đồng minh đã chấp nhận - và không bao giờ xem lại - một chiến lược xây dựng nhà nước từ trên xuống dưới luôn được xem là thất bại như do định mệnh đã an bài. Hoa Kỳ đã xâm chiếm Afghanistan 20 năm trước với hy vọng tái thiết đất nước, nay đã trở thành một tai họa cho thế giới và chính người dân của họ. Trước đợt tăng quân năm 2009, Tướng Stanley McChrystal giải thích, mục tiêu là “chính phủ Afghanistan kiểm soát toàn vẹn lãnh thổ để hỗ trợ ổn định khu vực và ngăn chặn việc sử dụng này cho chủ nghĩa khủng bố quốc tế.“ Hiện nay, với việc thiệt mạng hơn 100.000 và thất thoát khoảng 2 nghìn tỷ đô la, tất cả nước Mỹ phải thể hiện cho nỗ lực của mình là cảnh của một cuộc tranh giành tuyệt vọng để chạy ra khỏi đất nước trong tháng này - một sự sụp đổ nhục nhã gợi nhớ đến sự sụp đổ của Sài Gòn năm 1975. Điều sai lầ
Gặp gỡ và nói chuyện nhiều với những người thông dịch viên Afghanistan, tôi mới hiểu thêm rất nhiều về dân tộc họ và biết rằng chính phủ Afghanistan là một chính phủ tham nhũng lan tràn từ cấp thấp cho đến cấp cao, mức độ nào họ cũng có thể ăn hối lộ được, chỉ có người dân thấp cổ bé miệng là khổ. Người Mỹ biết rất rõ nhưng vẫn không làm gì hết. Bản thân chúng tôi khi ra vào đất nước này, cũng phải đóng cho những nhân viên hải quan đủ thứ tiền, mà phải bằng tiền đô la Mỹ, mệnh giá 100 đồng mới tinh, cũ hoặc dính 1 vết mực, họ không nhận và không chịu ký giấy và đóng mộc. Nói để thấy rằng chúng ta, người Mỹ, hy sinh tiền bạc, xương máu cho họ, thật không đáng chút nào. Rút ra khỏi đất nước này là đúng và là một việc phải làm ngay.
Cứ tới cuối tuần, dân Tây réo nhau xuống đường biểu tình chống chương trình chích ngừa dịch vũ hán và, tiếp theo, chống biện pháp kiểm soát có chích hay không bằng «thông hành y tế» (pass-sanitaire), tờ giấy có dấu hiệu đã chích ngừa của Cơ quan Bảo hiểm sức khỏe cấp qua Cơ quan tổ chức chích hoặc y sĩ gia đình hay dược sĩ.
Đầu năm 70, bạn đồng minh Huê kỳ quyết định bỏ rơi VNCH, không thực hiện cam kết rút quân, Việt-nam hóa chiến tranh, mặc nhiên giao Miền nam cho Hà nội. Ngày 30/04/75, quân Bắt Việt tiến vào Sài gòn, ngỡ ngàng. Dân chúng hoảng loạn bỏ chạy. Nhưng 14 năm sau thất bại nhục nhã ở Việt nam, bức tường Bá-linh bổng sụp đổ, kéo theo cộng sản Liên xô xuống hố, giúp Huê kỳ kết thúc cuộc chiến tranh lạnh làm kẻ chiến thắng.
Người Mỹ nói “Nothing is certain but tax and death” (Không ai tránh khỏi thuế và chết). Thuế mang ý nghĩa đặc biệt vì lịch sử nước Mỹ được thành hình từ ngày dân chúng thuộc địa nổi loạn chống nhà nước bảo hộ Anh Hoàng với khẩu hiệu bất hủ “Taxation without representation is tyranny” (Bị đánh thuế mà không được có đại biểu là bạo quyền.) Cho nên mỗi kỳ bầu cử đều tranh luận gay gắt về thuế má – nhưng không chỉ là cải cọ vô bổ vì khi thành luật sẽ theo đó móc từ túi tiền của mỗi người dân nhiều hay ít.
Đảng cộng sản VN cũng “khởi nghiệp” với những tuyên ngôn và khẩu hiệu nghe (tử tế) tương tự. Họ hô hào chống lại áp bức, bất công, kỳ thị … Nhờ vậy, họ vận động được quần chúng - kể cả những thành phần thiểu số, “ở vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng” - nổi dậy “giành lấy chính quyền về tay nhân dân.” Chả phải vô cớ mà Cách Mạng Tháng Tám vẫn được mệnh danh là “Cuộc Khởi Nghĩa Của Những Người Tay Không.” Chỉ có điều đáng phàn nàn là sau khi “những người tay không” nắm được quyền bính trong tay thì họ (tức khắc) hành xử như một đám côn đồ, đối với tất cả mọi thành phần dân tộc
Người lính Mỹ, trong nhân dáng hiên ngang, với những bước chân chắc nịch, đôi mắt nhìn thẳng và kỹ thuật tác chiến tuyệt vời. Nhưng người lính Mỹ cũng có trái tim biết rung động, biết nhớ thương, biết đau khổ như bạn và tôi. Xin đừng “thần thánh hóa” hoặc đòi hỏi những điều mà người lính Mỹ không thể thực hiện được; vì người lính Mỹ còn phải chu toàn bổ phận đối với người hôn phối, gia đình và người thân. Xin hãy nghĩ đến những trái tim tan vỡ trong mỗi gia đình, khi một người lính Mỹ gục ngã!
Như vậy, tuy không công khai, nhưng Bà Harris có quan tâm đến nhân quyền, các quyền tự do và vai trò của các tổ chức Xã hội Dân sự ở Việt Nam, một việc mà đảng và nhà nước CSVN luôn luôn chống đối và đàn áp. Tuy nhiên, tất cả báo Việt Nam, kể cả những báo “ôn hòa” như Thanh Niên, Tuổi Trẻ, Lao Động và Người Lao Động đều không đăng lời tuyên bố chống Trung Hoa của Bà Phó Tổng thống Harris.
Sau hơn một năm vất vả phòng chống Covid và kể từ khi có thuốc tiêm ngừa, nước Mỹ đang trở lại bình thường trong những điều kiện mới. Việc đeo khẩu trang và giãn cách xã hội sẽ trở thành những nét sinh hoạt trong đời sống. Bắt buộc cũng có mà tự nguyện cũng có. Từ mùa xuân năm nay nhiều tiểu bang đã bỏ những giới hạn sinh hoạt vì Covid. Riêng California, nơi có nhiều hạn chế gắt gao nhất trong công tác phòng chống, giới hạn được bỏ từ ngày 15/6 vừa qua.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.