Hôm nay,  

Châu Á Há Mồm

22/11/200700:00:00(Xem: 9443)

Sau khi ASEAN tự vả vào miệng...

Kỷ niệm 40 năm thành lập, Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á ASEAN vừa chứng minh rằng tổ chức này vẫn chưa trưởng thành vào tuổi bốn mươi.

Thiếu trưởng thành là trạng thái tâm lý của đứa trẻ bất chấp thực tế mà ham muốn cùng lúc nhiều điều mâu thuẫn. Và nếu không toại ý thì giận hờn đổ lỗi cho ai khác.

Thành hình từ nhu cầu an ninh của thời Chiến tranh lạnh, để lập ra liên minh chống cộng khi miền Nam Việt Nam bị đe dọa, hiệp hội ASEAN núp dưới cây dù bảo vệ của Mỹ. Và nhiều nước đã trục lợi kinh tế nhờ cuộc chiến Việt Nam.

Nhưng, mặc cảm nhược tiểu Á châu - của một chuỗi quốc gia từng cúi đầu dưới ách thực dân Âu châu - khiến các nước muốn tìm cho mình một định mệnh châu Á riêng biệt. Giải pháp dễ dãi nhất là đi tìm sự phồn thịnh của kinh tế thị trường, và an toàn dưới ách cai trị độc tài. Cái gọi là "định mệnh Á châu" ấy chỉ là một nỗ lực thực dụng và lý tài, và ASEAN biến thành một câu lạc bộ các tài phú, hợp tác với nhau để kiếm ăn. An ninh là vấn đề của ai khác, của "người lớn", của Hoa Kỳ hay Nhật Bản, hay Úc Đại Lợi.

Mâu thuẫn giữa mục tiêu kinh tế và an ninh cho chế độ dẫn tới một nguyên tắc hành xử: là hãy cùng lo kiếm ăn mà đừng xiá vào chuyện nội bộ của các thành viên trong câu lạc bộ. Thực tế là nhắm mắt trước một chuỗi hậu quả của hình thái kinh tế tự do kết hợp với chính trị chuyên chế, như là ách độc tài, nạn hủy hoại môi sinh, lạm thác, cháy rừng, và những bất ổn xã hội chính trị tiềm ẩn bên dưới.

Khi Chiến tranh lạnh kết thúc và cùng với việc Trung Quốc rồi Ấn Độ tiến hành cải cách, hiệp hội ASEAN đã có lúc ham muốn thêm chuyện viển vông, là trở thành một lực đối trọng với Trung Quốc hay Ấn Độ. Mục tiêu là để các nước Đông Nam Á Cộng sản hoàn lương khỏi bị rơi vào vùng ảnh hưởng của hai cường quốc Á châu kia. Vì vậy, ASEAN đón nhận Việt Nam, Lào, Cambốt và Miến Điện làm hội viên. Lý luận lý tài là nhờ quan hệ kinh tế, ASEAN sẽ kéo bốn xứ độc tài ấy ra khỏi vùng ảnh hưởng của Trung Quốc.

Đây là sự viển vông không thực tế, vì cả 10 hội viên kết hợp vẫn không đủ trọng lượng trước sức nặng Trung Quốc. Ngược lại, ASEAN còn bị Bắc Kinh đánh tỉa, mỗi hội viên lại được nhử vào một kế hoạch hợp tác riêng lẻ, để hiệp hội hết có nổi một đối sách thống nhất. Cụ thể là việc khai thác sông Mekong - hầu mua chuộc bốn nước Thái, Miến, Mên, Lào - hay thăm dò năng lượng ngoài Đông hải, trên các vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa - nhằm tranh thủ riêng từng nước như Việt Nam, Malaysia, Philippines...

Mặt khác, nguyên tắc không xen lấn vào nội bộ hội viên khiến ASEAN nhắm mắt trước nạn chà đạp nhân quyền và đàn áp dân chủ còn nghiêm trọng hơn thời thuộc địa. Hai thí dụ chói lọi nhất là Việt Nam và Miến Điện.

Bốn mươi năm sau, ASEAN tiến được một bước để... trở về chốn cũ. Đó là chuyện Hội nghị Thượng đỉnh tuần qua tại Singapore.

Hiệp hội bất lực này tiến được một bước khi thu hết can đảm Á châu để soạn thảo ra một văn kiện lịch sử. Bản Hiến chương về Nhân quyền.

Đây là bước tiến vì những bậc đại trí được trao phó nhiệm vụ nghiên cứu và soạn thảo văn kiện ấy là những lãnh tụ năm xưa vẫn đề cao giá trị của mô thức Á châu và nguyên tắc không xen lấn vào nội bộ xứ khác. Họ là nguyên Tổng thống Fidel Ramos của Philippines, nguyên Ngoại trưởng Alias Alatas của Indonesia, hay nguyên Phó Thủ tướng Musa Hitam của Malaysia. ASEAN nhúc nhích ra khỏi sự bất động cũ mà đề cập tới vấn đề nhạy cảm là nhân quyền trong các nước hội viên.

Ít ra cũng là một cách rửa mặt cho Á châu.

Như chuồn chuồn rửa đít. Rồi lại bay sà vào chốn cũ. Nghĩa là nói gì thì nói, nạn chà đạp nhân quyền tại Miến Điện vẫn là vấn đề nội bộ của Miến Điện. Chủ trì Thượng đỉnh ASEAN là Thủ tướng Lý Hiển Long đã đứng trên chiều cao thước tám của mình để bác bỏ lời kêu gọi của Hoa Kỳ, rằng ASEAN phải làm áp lực với Yangoon về việc chế độ quân phiệt đàn áp dân chủ, đánh đập và cầm tù tăng ni. Nói nôm na là nước Mỹ không nên xía vào chuyện nội bộ của ASEAN.

Chẳng những vậy, ASEAN còn đột ngột hủy bỏ một quyết định quan trọng về ngoại giao: Đặc sứ Liên hiệp quốc về hồ sơ Miến Điện là ông Ibrahim Gambari sẽ không được phát biểu trước Hội nghị như ASEAN đã trù tính.

Hùng dũng biết bao!

Và hèn hạ chừng nào, khi ta biết được rằng ba trong bốn nước xuất cảng nhiều nhất vào xứ Miến là Singapore, Thái Lan và Malaysia. Xứ kia là Trung Quốc. Động lực lý tài đã soi sáng cái lý trí bần tiện của châu Á.

Thành thử việc ASEAN ký kết Hiến chương Nhân quyền và lập ra một cơ quan chuyên theo dõi vấn đề nhân quyền trong nội bộ chỉ là trò hề. Cơ quan này là viên thái giám bất lực vì không có khả năng cưỡng hành: không thể làm gì mà không có sự thỏa thuận của tất cả các hội viên. Và tôn chỉ của Hiến chương, như "củng cố dân chủ, cải tiến hệ thống cai trị, phát huy pháp quyền, đề cao và bảo vệ nhân quyền và những quyền tự do căn bản, trong tinh thần tôn trọng quyền hạn và trách nhiệm của các quốc gia hội viên"... chỉ là khẩu hiệu nhảm.

Cũng vì vậy mà trong 10 hội viên, có một quốc gia không bước vào trò chơi đó. Tổng thống Glorial Macapagal-Arroyo của Philippines từ chối không phê chuẩn tờ giấy lộn này. Ít ra cũng khá hơn người Hà Nội!

ASEAN núp sau khẩu hiệu "phải giao kết với các chế độ độc tài" để giúp họ chuyển hoá một cách hoà bình. Dưới khẩu hiệu đó, họ hợp tác với các lãnh tụ hung đồ để trục lợi và ngậm miệng khi nạn chà đạp nhân quyền xảy ra. Chuyện ấy, tháng trước cả thế giới đều thấy rõ khi bọn quân phiệt Miến Điện biến nhà chùa thành nhà tù mà Thượng đỉnh ASEAN vẫn chỉ kêu gọi vu vơ. Và không muốn ai nói tới vấn đề này trong Thượng đỉnh năm nay.

Tinh thần "giao kết để chuyển hoá" của ASEAN khiến người ta nhớ tới lý luận tương tự của những người đang muốn chuyển hoá chế độ Hà Nội để kiếm ăn, và bất chấp thực tế bi thảm ở chung quanh. Họ tự xưng là "Việt kiều Yêu nước", một định nghĩa khác của "bọn ngu xuẩn hữu ích" theo lý luận của Lenin. Từng cá nhân có thể tối mắt như vậy. Nhưng khi cả một hiệp hội 10 quốc gia lại mắc dịch đớn hèn tập thể, thì khái niệm về "giá trị Á châu" chỉ là hài kịch. ASEAN đã há mồm và tự nhổ vào mặt trong dịp ăn mừng 40 năm thành lập. Rõ khéo!

Á châu vốn có nhiều biệt tài hơn thiên hạ. Người ta cứ hay nghĩ như vậy!

Niềm vui trong Ngày Hội Ngộ, với đặc san được quý nương “khen” còn mấy ông già chồng chỉ gật gù “mầy giữ gìn sức khỏe để tiếp tục”. Tháng 5 năm 2020 và tháng 5 năm nay vì cái dịch Covod-19, không có cơ hội gặp nhau. Dù “ghét cay ghét đắng” mấy ông già chồng hành hạ “con dâu” nầy nhưng không được dịp hội ngộ với nhau, nhớ nhiều.
Khi đối với cha mẹ có thể cung kính mà vui vẻ, mới là tận Hiếu. Chữ “Kính” nhấn mạnh việc không để xảy ra sơ suất dù rất nhỏ, phụng dưỡng cha mẹ già xuất phát từ nội tâm, với khuôn mặt vui vẻ, mới có thể nói là “Hiếu.” Người già không khác những đứa trẻ, nhiều khi hay tủi thân, hờn dỗi và dễ phiền muộn. Con cái có thể cho cha mẹ ăn uống, hầu hạ cha mẹ khuya sớm nhưng rất khó biết đến nỗi buồn của cha mẹ lúc về già.
Giáo hội xin tán thán tinh thần hộ đạo và tu đạo của quí Thiện nam Tín nữ trong hoàn cảnh tai ương đầy kinh hãi hiện nay. Tất cả năng lực và công đức lớn lao này của người đệ tử, chúng con xin dâng lên cúng dường đức Thế Tôn trong ngày Đản sinh. Hàng trăm ngàn trái tim, hàng vạn ngàn bàn tay siết chặt giữa những thương đau tràn ngập của nhân loại, chúng con nguyện quán chiếu thật sâu sự khổ nạn hiện nay để kiên nhẫn mà vượt qua.
Có lẽ cả Trung Cộng lẫn Hoa Kỳ đều không mong muốn việc khơi mào cho một cuộc xung đột vũ trang, nhưng trước thái độ xác quyết của tổng thống Joe Biden, Trung Cộng hiểu rằng họ đang đối đầu với một đối thủ nguy hiểm gấp bội lần so với những năm qua.
Với chế độ độc đảng toàn trị hiện hành, với bộ máy tam trùng hiện tại, với văn hoá tham nhũng hiện nay, và với chủ trương cấm tự do báo chí cố hữu … thì chuyện sống được bằng lương mãi mãi chỉ là một kỳ vọng xa vời. Vô phương thực hiện!
Hội nghị Paris là một quá trình đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt kể từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, sau ngày 25 tháng 1 năm 1969 có thêm Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) tham gia. Ngoài 202 phiên họp chính thức của bốn bên, còn có thêm 24 cuộc mật đàm khác giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, Xuân Thủy. Cuối cùng, hội nghị kết thúc sau bốn năm chín tháng và bốn bên chính thức ký kết Hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.
Ngày 30 tháng Tư năm 1975 khép lại trang sử Việt của hai lực lượng dân tộc đối đầu nhau trong thế tương tranh quốc tế giữa tư bản và cộng sản. Thế tương tranh này kéo dài từ tranh chấp giữa hai triết thuyết xuất phát từ phương Tây – Duy Tâm và Duy Vật, đã làm nước ta tan nát. Việt Nam trở thành lò lửa kinh hoàng, anh em một bọc chém giết nhau trong thế cuộc đảo điên cạnh tranh quốc tế.
Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
Hình ảnh thay cho ngàn lời nói, ghi nhận rõ "sự hấp hối" của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ghi lại cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, nỗi lo sợ của dân chúng lũ lượt rời nơi đang sinh sống, đã bỏ nhà cửa trốn chạy trước khi VC tràn vào thành phố
Chúng ta liệu có thể đóng vai trò giúp đỡ những người nhập cư và tị nạn trong tương lai như là người Mỹ đã từng làm cho chúng ta không? Theo lời của Emma Lazarus, liệu chúng ta có nâng “... ngọn đèn bên cạnh cánh cửa vàng” cho “... kẻ bão táp, người vô gia cư ... người mệt mỏi, người nghèo khổ” không? Đối với chúng tôi, trong ngày 30 tháng 4 này, không có câu hỏi nào có ý nghĩa và tính quan trọng hơn câu hỏi này.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.