Hôm nay,  

Châu Á Há Mồm

22/11/200700:00:00(Xem: 9471)

Sau khi ASEAN tự vả vào miệng...

Kỷ niệm 40 năm thành lập, Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á ASEAN vừa chứng minh rằng tổ chức này vẫn chưa trưởng thành vào tuổi bốn mươi.

Thiếu trưởng thành là trạng thái tâm lý của đứa trẻ bất chấp thực tế mà ham muốn cùng lúc nhiều điều mâu thuẫn. Và nếu không toại ý thì giận hờn đổ lỗi cho ai khác.

Thành hình từ nhu cầu an ninh của thời Chiến tranh lạnh, để lập ra liên minh chống cộng khi miền Nam Việt Nam bị đe dọa, hiệp hội ASEAN núp dưới cây dù bảo vệ của Mỹ. Và nhiều nước đã trục lợi kinh tế nhờ cuộc chiến Việt Nam.

Nhưng, mặc cảm nhược tiểu Á châu - của một chuỗi quốc gia từng cúi đầu dưới ách thực dân Âu châu - khiến các nước muốn tìm cho mình một định mệnh châu Á riêng biệt. Giải pháp dễ dãi nhất là đi tìm sự phồn thịnh của kinh tế thị trường, và an toàn dưới ách cai trị độc tài. Cái gọi là "định mệnh Á châu" ấy chỉ là một nỗ lực thực dụng và lý tài, và ASEAN biến thành một câu lạc bộ các tài phú, hợp tác với nhau để kiếm ăn. An ninh là vấn đề của ai khác, của "người lớn", của Hoa Kỳ hay Nhật Bản, hay Úc Đại Lợi.

Mâu thuẫn giữa mục tiêu kinh tế và an ninh cho chế độ dẫn tới một nguyên tắc hành xử: là hãy cùng lo kiếm ăn mà đừng xiá vào chuyện nội bộ của các thành viên trong câu lạc bộ. Thực tế là nhắm mắt trước một chuỗi hậu quả của hình thái kinh tế tự do kết hợp với chính trị chuyên chế, như là ách độc tài, nạn hủy hoại môi sinh, lạm thác, cháy rừng, và những bất ổn xã hội chính trị tiềm ẩn bên dưới.

Khi Chiến tranh lạnh kết thúc và cùng với việc Trung Quốc rồi Ấn Độ tiến hành cải cách, hiệp hội ASEAN đã có lúc ham muốn thêm chuyện viển vông, là trở thành một lực đối trọng với Trung Quốc hay Ấn Độ. Mục tiêu là để các nước Đông Nam Á Cộng sản hoàn lương khỏi bị rơi vào vùng ảnh hưởng của hai cường quốc Á châu kia. Vì vậy, ASEAN đón nhận Việt Nam, Lào, Cambốt và Miến Điện làm hội viên. Lý luận lý tài là nhờ quan hệ kinh tế, ASEAN sẽ kéo bốn xứ độc tài ấy ra khỏi vùng ảnh hưởng của Trung Quốc.

Đây là sự viển vông không thực tế, vì cả 10 hội viên kết hợp vẫn không đủ trọng lượng trước sức nặng Trung Quốc. Ngược lại, ASEAN còn bị Bắc Kinh đánh tỉa, mỗi hội viên lại được nhử vào một kế hoạch hợp tác riêng lẻ, để hiệp hội hết có nổi một đối sách thống nhất. Cụ thể là việc khai thác sông Mekong - hầu mua chuộc bốn nước Thái, Miến, Mên, Lào - hay thăm dò năng lượng ngoài Đông hải, trên các vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa - nhằm tranh thủ riêng từng nước như Việt Nam, Malaysia, Philippines...

Mặt khác, nguyên tắc không xen lấn vào nội bộ hội viên khiến ASEAN nhắm mắt trước nạn chà đạp nhân quyền và đàn áp dân chủ còn nghiêm trọng hơn thời thuộc địa. Hai thí dụ chói lọi nhất là Việt Nam và Miến Điện.

Bốn mươi năm sau, ASEAN tiến được một bước để... trở về chốn cũ. Đó là chuyện Hội nghị Thượng đỉnh tuần qua tại Singapore.

Hiệp hội bất lực này tiến được một bước khi thu hết can đảm Á châu để soạn thảo ra một văn kiện lịch sử. Bản Hiến chương về Nhân quyền.

Đây là bước tiến vì những bậc đại trí được trao phó nhiệm vụ nghiên cứu và soạn thảo văn kiện ấy là những lãnh tụ năm xưa vẫn đề cao giá trị của mô thức Á châu và nguyên tắc không xen lấn vào nội bộ xứ khác. Họ là nguyên Tổng thống Fidel Ramos của Philippines, nguyên Ngoại trưởng Alias Alatas của Indonesia, hay nguyên Phó Thủ tướng Musa Hitam của Malaysia. ASEAN nhúc nhích ra khỏi sự bất động cũ mà đề cập tới vấn đề nhạy cảm là nhân quyền trong các nước hội viên.

Ít ra cũng là một cách rửa mặt cho Á châu.

Như chuồn chuồn rửa đít. Rồi lại bay sà vào chốn cũ. Nghĩa là nói gì thì nói, nạn chà đạp nhân quyền tại Miến Điện vẫn là vấn đề nội bộ của Miến Điện. Chủ trì Thượng đỉnh ASEAN là Thủ tướng Lý Hiển Long đã đứng trên chiều cao thước tám của mình để bác bỏ lời kêu gọi của Hoa Kỳ, rằng ASEAN phải làm áp lực với Yangoon về việc chế độ quân phiệt đàn áp dân chủ, đánh đập và cầm tù tăng ni. Nói nôm na là nước Mỹ không nên xía vào chuyện nội bộ của ASEAN.

Chẳng những vậy, ASEAN còn đột ngột hủy bỏ một quyết định quan trọng về ngoại giao: Đặc sứ Liên hiệp quốc về hồ sơ Miến Điện là ông Ibrahim Gambari sẽ không được phát biểu trước Hội nghị như ASEAN đã trù tính.

Hùng dũng biết bao!

Và hèn hạ chừng nào, khi ta biết được rằng ba trong bốn nước xuất cảng nhiều nhất vào xứ Miến là Singapore, Thái Lan và Malaysia. Xứ kia là Trung Quốc. Động lực lý tài đã soi sáng cái lý trí bần tiện của châu Á.

Thành thử việc ASEAN ký kết Hiến chương Nhân quyền và lập ra một cơ quan chuyên theo dõi vấn đề nhân quyền trong nội bộ chỉ là trò hề. Cơ quan này là viên thái giám bất lực vì không có khả năng cưỡng hành: không thể làm gì mà không có sự thỏa thuận của tất cả các hội viên. Và tôn chỉ của Hiến chương, như "củng cố dân chủ, cải tiến hệ thống cai trị, phát huy pháp quyền, đề cao và bảo vệ nhân quyền và những quyền tự do căn bản, trong tinh thần tôn trọng quyền hạn và trách nhiệm của các quốc gia hội viên"... chỉ là khẩu hiệu nhảm.

Cũng vì vậy mà trong 10 hội viên, có một quốc gia không bước vào trò chơi đó. Tổng thống Glorial Macapagal-Arroyo của Philippines từ chối không phê chuẩn tờ giấy lộn này. Ít ra cũng khá hơn người Hà Nội!

ASEAN núp sau khẩu hiệu "phải giao kết với các chế độ độc tài" để giúp họ chuyển hoá một cách hoà bình. Dưới khẩu hiệu đó, họ hợp tác với các lãnh tụ hung đồ để trục lợi và ngậm miệng khi nạn chà đạp nhân quyền xảy ra. Chuyện ấy, tháng trước cả thế giới đều thấy rõ khi bọn quân phiệt Miến Điện biến nhà chùa thành nhà tù mà Thượng đỉnh ASEAN vẫn chỉ kêu gọi vu vơ. Và không muốn ai nói tới vấn đề này trong Thượng đỉnh năm nay.

Tinh thần "giao kết để chuyển hoá" của ASEAN khiến người ta nhớ tới lý luận tương tự của những người đang muốn chuyển hoá chế độ Hà Nội để kiếm ăn, và bất chấp thực tế bi thảm ở chung quanh. Họ tự xưng là "Việt kiều Yêu nước", một định nghĩa khác của "bọn ngu xuẩn hữu ích" theo lý luận của Lenin. Từng cá nhân có thể tối mắt như vậy. Nhưng khi cả một hiệp hội 10 quốc gia lại mắc dịch đớn hèn tập thể, thì khái niệm về "giá trị Á châu" chỉ là hài kịch. ASEAN đã há mồm và tự nhổ vào mặt trong dịp ăn mừng 40 năm thành lập. Rõ khéo!

Á châu vốn có nhiều biệt tài hơn thiên hạ. Người ta cứ hay nghĩ như vậy!

Liên Hiệp Âu châu, cả Anh quốc, Huê kỳ và Canada đều đồng loạt lên tiếng cực lực lên án Xi và đảng cộng sản Trung Quốc là tội phạm chống nhơn loại. Các nước văn minh trên đây đã quyết định trừng phạt Trung quốc vì tội diệt chủng nhằm vào dân tộc thiểu số Duy-ngô-nhĩ ở Tân-cương, miền Tây-Bắc nước Tàu.
Trước hiện trạng kỳ thị, không chỉ bạo hành bằng lời nói, mà còn tấn công hung bạo và bắn giết khiến nhiều người đã thiệt mạng hoặc bị thương tích nặng, các chuyên gia và các nhà hoạt động đã đưa ra một số biện pháp để chống trả vấn nạn này và giúp các thành viên trong cộng đồng tự bảo vệ
Lực lượng “ăn cháo đá bát” rất đông và lan nhanh như bệnh dịch, nhưng chưa bao giờ được công khai cho dân biết để dân bàn, dân kiểm tra. Ngược lại, dân lại là nạn nhân của đám ong nuôi trong tay áo từ bao năm nay. Chúng nằm trong ngành Tuyên giáo, trước đây gọi là Ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương và Ban Khoa giáo Trung ương. Sau lưng đảng còn có đội ngũ chuyên nghề nói thuê và viết mướn gồm Báo cáo viên và Dư luận viên được trả lương bằng tiền thuế của dân.
Vào sáng ngày 1 tháng 5-1975 Trung tá bác sĩ Hoàng Như Tùng, nguyên chỉ huy trưởng Quân Y viện Phan Thanh Giản - Cần Thơ, mặc đồ dân sự, trong tư thế quân phong, đưa tay lên chào vĩnh biêt Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lênh Quân Đoàn IV, Quân Khu IV, Vùng 4 Chiến Thuật, trước sự kinh ngạc của một nhóm sĩ quan cấp cao của bộ đội cộng sản vì sự dũng cảm của bác sĩ Trung Tá Hoàng Như Tùng. Một sĩ quan của bộ đội cộng sản mang quân hàm thiếu tá tiến đến và yêu cầu bác sĩ Hoàng Như Tùng nhận diện Tướng Nguyễn Khoa Nam.
Sách này sẽ được ghi theo hình thức biên niên sử, về các sự kiện từ ngày 8/5/1963 cho tới vài ngày sau cuộc chính biến 1/11/1963, nhìn từ phía chính phủ Hoa Kỳ. Phần lược sử viết theo nhiều tài liệu, trong đó phần chính là dựa vào tài liệu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ “Foreign Relations of the United States 1961-1963”, một số tài liệu CIA lưu giữ ở Bộ Ngoại Giao, và một phần trong sách “The Pentagon Papers” của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, ấn bản Gravel Edition (Boston: Beacon Press, 1971). Vì giờ tại Việt Nam và Hoa Kỳ cách biệt nhau, cho nên đôi khi ghi ngày sai biệt nhau một ngày.
Tôi là anh trưởng trong gia đình, với 9 đứa em cả trai lẫn gái, nên trách nhiệm thật khó khăn, từ nhân cách cho đến cuộc sống. Nhưng may mắn tôi gặp được những người anh ngoài xã hội để noi gương và học hỏi. Một trong số những nhân vật hiếm hoi đó, chính là anh Nguyễn Văn Tánh, người mà tôi đã có cơ hội được tiếp tay hỗ trợ và đồng hành cùng anh trong suốt 20 cuộc Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế Liên Hiệp Quốc tại thành phố New York từ 20 năm qua.
Tôi tha phương cầu thực gần như trọn kiếp (và may mắn lạc bước đến những nơi không thiếu bơ thừa sữa cặn) nên bất ngờ nhìn thấy mảnh đời cùng quẫn thì không khỏi chạnh lòng. Nghe tiếng mời chào khẩn thiết, nhìn những khuôn mặt khẩn cầu của đồng bào mình mà muốn ứa nước mắt.
Các định kiến tai hại đối với các phụ nữ Á Châu trong văn hóa đại chúng của Mỹ đã có từ ít nhất thế kỷ thứ 19. Từ đó, các nhà truyền giáo và binh sĩ Mỹ tại Á Châu đã xem phụ nữ mà họ gặp đó như là ngoại lai và dễ tùng phục. Các định kiến này đã ảnh hưởng luật di trú đầu tiên của Hoa Kỳ dựa vào chủng tộc, Đạo Luật 1875 Page Act, ngăn cản các phụ nữ Trung Quốc vào Hoa Kỳ. Giả thuyết chính thức là rằng, ngoại trừ được chứng minh ngược lại, các phụ nữ TQ tìm cách vào Hoa Kỳ đã thiếu tư cách đạo đức và là những gái mại dâm. Trên thực tế, nhiều người là vợ tìm cách đoàn tụ với những ông chồng là những người đã đến Hoa Kỳ trước đó. Khoảng cùng thời gian đó, các phụ nữ TQ tại San Francisco cũng bị làm dê tế thần bởi các viên chức y tế địa phương là những người sợ rằng họ sẽ lây truyền các bịnh lây lan qua đường tình dục cho các đàn ông da trắng, là những người sau đó sẽ lây lan cho các bà vợ của họ. Vào giữa thế kỷ 20, các căn cứ chiến tranh và quân sự của Hoa Kỳ tại TQ, Nhật, Phi Luật Tân,
Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Bá Thanh, Nguyễn Thiện Nhân, Nguyễn Hòa Bình, Nguyễn Xuân Phúc … quả đúng là những kẻ thuộc giới ăn trên ngồi trốc. Họ là những hạt giống đỏ được gieo trồng từ miền Bắc, và đã ươm mầm thành cây. Loại cây này, học giả Phan Khôi gọi một cách lịch sự là cây Cộng Sản. Còn dân gian thì gọi là cây cứt lợn!
Nếu đảng đủ can đảm và ông Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng còn đủ bản lĩnh của một Lãnh đạo gương mẫu trong công tác phòng, chống tham nhũng thì hãy công khai cho dân biết Tổ chức Thanh niên của đảng đã làm được những gì cho dân cho nước trong 90 năm qua. Hay ngót 7 triệu Đoàn viên TNCS chẳng làm được trò trống gì, ngoải vai trò tay sai đã tuyệt đối trung thành với đảng và với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.