Hôm nay,  

Châu Á Há Mồm

22/11/200700:00:00(Xem: 9605)

Sau khi ASEAN tự vả vào miệng...

Kỷ niệm 40 năm thành lập, Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á ASEAN vừa chứng minh rằng tổ chức này vẫn chưa trưởng thành vào tuổi bốn mươi.

Thiếu trưởng thành là trạng thái tâm lý của đứa trẻ bất chấp thực tế mà ham muốn cùng lúc nhiều điều mâu thuẫn. Và nếu không toại ý thì giận hờn đổ lỗi cho ai khác.

Thành hình từ nhu cầu an ninh của thời Chiến tranh lạnh, để lập ra liên minh chống cộng khi miền Nam Việt Nam bị đe dọa, hiệp hội ASEAN núp dưới cây dù bảo vệ của Mỹ. Và nhiều nước đã trục lợi kinh tế nhờ cuộc chiến Việt Nam.

Nhưng, mặc cảm nhược tiểu Á châu - của một chuỗi quốc gia từng cúi đầu dưới ách thực dân Âu châu - khiến các nước muốn tìm cho mình một định mệnh châu Á riêng biệt. Giải pháp dễ dãi nhất là đi tìm sự phồn thịnh của kinh tế thị trường, và an toàn dưới ách cai trị độc tài. Cái gọi là "định mệnh Á châu" ấy chỉ là một nỗ lực thực dụng và lý tài, và ASEAN biến thành một câu lạc bộ các tài phú, hợp tác với nhau để kiếm ăn. An ninh là vấn đề của ai khác, của "người lớn", của Hoa Kỳ hay Nhật Bản, hay Úc Đại Lợi.

Mâu thuẫn giữa mục tiêu kinh tế và an ninh cho chế độ dẫn tới một nguyên tắc hành xử: là hãy cùng lo kiếm ăn mà đừng xiá vào chuyện nội bộ của các thành viên trong câu lạc bộ. Thực tế là nhắm mắt trước một chuỗi hậu quả của hình thái kinh tế tự do kết hợp với chính trị chuyên chế, như là ách độc tài, nạn hủy hoại môi sinh, lạm thác, cháy rừng, và những bất ổn xã hội chính trị tiềm ẩn bên dưới.

Khi Chiến tranh lạnh kết thúc và cùng với việc Trung Quốc rồi Ấn Độ tiến hành cải cách, hiệp hội ASEAN đã có lúc ham muốn thêm chuyện viển vông, là trở thành một lực đối trọng với Trung Quốc hay Ấn Độ. Mục tiêu là để các nước Đông Nam Á Cộng sản hoàn lương khỏi bị rơi vào vùng ảnh hưởng của hai cường quốc Á châu kia. Vì vậy, ASEAN đón nhận Việt Nam, Lào, Cambốt và Miến Điện làm hội viên. Lý luận lý tài là nhờ quan hệ kinh tế, ASEAN sẽ kéo bốn xứ độc tài ấy ra khỏi vùng ảnh hưởng của Trung Quốc.

Đây là sự viển vông không thực tế, vì cả 10 hội viên kết hợp vẫn không đủ trọng lượng trước sức nặng Trung Quốc. Ngược lại, ASEAN còn bị Bắc Kinh đánh tỉa, mỗi hội viên lại được nhử vào một kế hoạch hợp tác riêng lẻ, để hiệp hội hết có nổi một đối sách thống nhất. Cụ thể là việc khai thác sông Mekong - hầu mua chuộc bốn nước Thái, Miến, Mên, Lào - hay thăm dò năng lượng ngoài Đông hải, trên các vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa - nhằm tranh thủ riêng từng nước như Việt Nam, Malaysia, Philippines...

Mặt khác, nguyên tắc không xen lấn vào nội bộ hội viên khiến ASEAN nhắm mắt trước nạn chà đạp nhân quyền và đàn áp dân chủ còn nghiêm trọng hơn thời thuộc địa. Hai thí dụ chói lọi nhất là Việt Nam và Miến Điện.

Bốn mươi năm sau, ASEAN tiến được một bước để... trở về chốn cũ. Đó là chuyện Hội nghị Thượng đỉnh tuần qua tại Singapore.

Hiệp hội bất lực này tiến được một bước khi thu hết can đảm Á châu để soạn thảo ra một văn kiện lịch sử. Bản Hiến chương về Nhân quyền.

Đây là bước tiến vì những bậc đại trí được trao phó nhiệm vụ nghiên cứu và soạn thảo văn kiện ấy là những lãnh tụ năm xưa vẫn đề cao giá trị của mô thức Á châu và nguyên tắc không xen lấn vào nội bộ xứ khác. Họ là nguyên Tổng thống Fidel Ramos của Philippines, nguyên Ngoại trưởng Alias Alatas của Indonesia, hay nguyên Phó Thủ tướng Musa Hitam của Malaysia. ASEAN nhúc nhích ra khỏi sự bất động cũ mà đề cập tới vấn đề nhạy cảm là nhân quyền trong các nước hội viên.

Ít ra cũng là một cách rửa mặt cho Á châu.

Như chuồn chuồn rửa đít. Rồi lại bay sà vào chốn cũ. Nghĩa là nói gì thì nói, nạn chà đạp nhân quyền tại Miến Điện vẫn là vấn đề nội bộ của Miến Điện. Chủ trì Thượng đỉnh ASEAN là Thủ tướng Lý Hiển Long đã đứng trên chiều cao thước tám của mình để bác bỏ lời kêu gọi của Hoa Kỳ, rằng ASEAN phải làm áp lực với Yangoon về việc chế độ quân phiệt đàn áp dân chủ, đánh đập và cầm tù tăng ni. Nói nôm na là nước Mỹ không nên xía vào chuyện nội bộ của ASEAN.

Chẳng những vậy, ASEAN còn đột ngột hủy bỏ một quyết định quan trọng về ngoại giao: Đặc sứ Liên hiệp quốc về hồ sơ Miến Điện là ông Ibrahim Gambari sẽ không được phát biểu trước Hội nghị như ASEAN đã trù tính.

Hùng dũng biết bao!

Và hèn hạ chừng nào, khi ta biết được rằng ba trong bốn nước xuất cảng nhiều nhất vào xứ Miến là Singapore, Thái Lan và Malaysia. Xứ kia là Trung Quốc. Động lực lý tài đã soi sáng cái lý trí bần tiện của châu Á.

Thành thử việc ASEAN ký kết Hiến chương Nhân quyền và lập ra một cơ quan chuyên theo dõi vấn đề nhân quyền trong nội bộ chỉ là trò hề. Cơ quan này là viên thái giám bất lực vì không có khả năng cưỡng hành: không thể làm gì mà không có sự thỏa thuận của tất cả các hội viên. Và tôn chỉ của Hiến chương, như "củng cố dân chủ, cải tiến hệ thống cai trị, phát huy pháp quyền, đề cao và bảo vệ nhân quyền và những quyền tự do căn bản, trong tinh thần tôn trọng quyền hạn và trách nhiệm của các quốc gia hội viên"... chỉ là khẩu hiệu nhảm.

Cũng vì vậy mà trong 10 hội viên, có một quốc gia không bước vào trò chơi đó. Tổng thống Glorial Macapagal-Arroyo của Philippines từ chối không phê chuẩn tờ giấy lộn này. Ít ra cũng khá hơn người Hà Nội!

ASEAN núp sau khẩu hiệu "phải giao kết với các chế độ độc tài" để giúp họ chuyển hoá một cách hoà bình. Dưới khẩu hiệu đó, họ hợp tác với các lãnh tụ hung đồ để trục lợi và ngậm miệng khi nạn chà đạp nhân quyền xảy ra. Chuyện ấy, tháng trước cả thế giới đều thấy rõ khi bọn quân phiệt Miến Điện biến nhà chùa thành nhà tù mà Thượng đỉnh ASEAN vẫn chỉ kêu gọi vu vơ. Và không muốn ai nói tới vấn đề này trong Thượng đỉnh năm nay.

Tinh thần "giao kết để chuyển hoá" của ASEAN khiến người ta nhớ tới lý luận tương tự của những người đang muốn chuyển hoá chế độ Hà Nội để kiếm ăn, và bất chấp thực tế bi thảm ở chung quanh. Họ tự xưng là "Việt kiều Yêu nước", một định nghĩa khác của "bọn ngu xuẩn hữu ích" theo lý luận của Lenin. Từng cá nhân có thể tối mắt như vậy. Nhưng khi cả một hiệp hội 10 quốc gia lại mắc dịch đớn hèn tập thể, thì khái niệm về "giá trị Á châu" chỉ là hài kịch. ASEAN đã há mồm và tự nhổ vào mặt trong dịp ăn mừng 40 năm thành lập. Rõ khéo!

Á châu vốn có nhiều biệt tài hơn thiên hạ. Người ta cứ hay nghĩ như vậy!

Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.
Ôn dịch Vũ Hán gây nên một cơn khủng hoảng chưa từng thấy trong khối các nước nghèo khó khiến 100 quốc gia trong số 189 thành viên IMF hiện đang cầu cứu cơ quan quốc tế này viện trợ khẩn cấp. Tưởng cần nên tìm hiểu bối cảnh của những quốc gia đang phát triển song song với các phân tích về tác động của khủng hoảng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.