Hôm nay,  

Tiếng Vọng Từ Hoả Lò

01/12/200700:00:00(Xem: 8994)

Tờ bướm và chương trình của đêm thơ nhạc “Tiếng Vọng Từ Đáy Vực” tại Đại Học Berkeley vào tháng 5.1981; Cảnh bên trong nhà lao Hoả Lò ngày nay (ảnh Bùi Văn Phú)

Thời sinh viên, một buổi tối có người đến ký túc xá tìm tôi và tỏ ý muốn tìm hiểu về đời sống ở Việt Nam sau tháng 4.1975. Đó là bà Laola Hironaka, trưởng nhóm sinh hoạt của tổ chức Ân Xá Quốc Tế trong trường (AI Campus Network). Bà mời tôi đến sinh hoạt với nhóm, có chừng 20 thành viên, kể cho họ nghe về tình hình Việt Nam theo tin tức tôi nhận được qua thư gia đình. Nói đơn giản thì đời sống gia đình tôi trong những năm sau ngày 30.4.1975 là khó khăn, các em của tôi đã phải thôi học sớm để lăn lộn vào đời kiếm sống. Nhiều người thân như chú bác, hàng xóm đang “học đại học” và khi nào “học tập tốt” rồi sẽ “tốt nghiệp”. Đó là cách nói mà chỉ người trong cuộc mới hiểu được là những người thân đang bị giam trong những trại học tập, cải tạo được dựng nên ở nhiều nơi trên đất nước Việt Nam lúc bấy giờ.

Sau đó nhóm mời những người đã từng bị tù dưới chế độ cộng sản đến nói chuyện, họ là những cựu “tù nhân lương tâm” như Đoàn Văn Toại, Nguyễn Hữu Hiệu, Trần Xuân Ninh. Để tìm hiểu thêm về những vi phạm nhân quyền ở Việt Nam tôi đã cùng bà Laola đi gặp một số người như nhà văn Võ Phiến, nhà văn Đỗ Tiến Đức, dược sĩ Nguyễn Cao Thăng ở miền Nam California.

Vào thời điểm làn sóng thuyền nhân tị nạn lên cao, sinh viên Việt Nam đã cùng với nhóm Ân Xá Quốc Tế và hội Humanitas tổ chức biểu tình ở Sproul Plaza kêu gọi cộng đồng sinh viên cũng như thế giới cứu giúp thuyền nhân và người tị nạn Đông Dương. Vấn đề nhân quyền tại Việt Nam cũng đã nhiều lần được thảo luận với những diễn giả như ca sĩ Joan Baez, bác sĩ Trần Xuân Ninh, nhà văn Nguyễn Hữu Hiệu, giáo sư Karl Jackson, bà Ginetta Sagan, nhà thần học Michael Buckley, quán quân Nobel Hoà Bình 74 Seán MacBride, quán quân Nobel Văn Chương 80 Czeslaw Milosz và cựu thủ lãnh sinh viên Đoàn Văn Toại.

Khi tin tức về tập thơ của một người tù nhiều năm ở miền Bắc Việt Nam được báo chí của người Việt hải ngoại loan tin, trong một buổi họp mặt tôi cũng chia sẻ thông tin với nhóm. Cuối năm 1980 anh Đoàn Văn Toại gửi tặng tôi tập thơ Tiếng Vọng Từ Đáy Vực. Sau đó có nhạc Mười Bài Ngục Ca do Phạm Duy phổ thơ “Ngục Sĩ” và băng cát-sét với giọng ca của gia đình Phạm Duy.

Trong những sinh hoạt, sinh viên Việt Nam ở Berkeley mỗi năm đều tổ chức tưởng niệm 30.4, không ồn ào, chỉ là một buổi tối họp nhau lại trong phòng sinh hoạt có khi ở ký túc xá, hay trong trường, thắp nến, tâm tình, kể chuyện quê hương cho nhau nghe. Rất đơn sơ nhưng lắng đọng những tâm tư. Năm 1981 với tập thơ tù và những bản ngục ca vừa được phổ biến, chúng tôi quyết định tổ chức văn nghệ tưởng niệm 30.4 bằng một đêm thơ nhạc và thảo luận về chế độ lao tù ở Việt Nam.

Vì là những bài nhạc mới, ít ai biết hát nên chúng tôi phải tìm người ngoài giúp và may mắn được ca sĩ Thu Hà của ban Tam Ca Đông Phương ngày trước, tức bác sĩ Nguyệt Mehlert ở San Jose, sẵn sàng góp giọng ngâm, tiếng hát và góp cả công sức tập dượt cho sinh viên.

Lần này chúng tôi còn quyết định thực hiện chương trình bằng song ngữ để những sinh viên không phải gốc Việt có thể hiểu. Lúc đó trong số sinh viên tôi biết có Nguyễn Khoa Thái Anh rất giỏi tiếng Anh và tiếng Việt vì khi mới sinh hoạt với hội Thái Anh có đưa cho tôi xem bản dịch “Lời Giới Thiệu” của Nguyễn Đình Toàn viết cho cuốn băng Hát Cho Quê Hương Việt Nam 1, với nhạc Trịnh Công Sơn và tiếng hát Khánh Ly. Đọc bản tiếng Anh, tôi rất phục. Hơn nữa trong những lần đối chất với các diễn giả bênh vực cho Hà Nội, Thái Anh phản biện rất trôi chẩy. Về tài văn nghệ thì năm ngoái trong chương trình Đêm Việt Nam đầu tiên, vở kịch thơ “Hận Nam Quan” đã được Thái Anh, vai Nguyễn Trãi, và Nguyễn Ngọc Thanh, vai Nguyễn Phi Khanh, diễn rất thành công.

Vì thời gian tập dượt với ca sĩ Thu Hà không có nhiều, hai ngày cuối tuần, nên chỉ có ba giọng hát sinh viên là Hà Thuý Dung, Nguyễn Thị Huệ và Ninh Ngọc Bảo Khanh và ba giọng diễn ngâm là chị Thu Hà, Thái Anh và Nguyễn Ngọc Thanh cùng tiếng đàn ghi-ta của sinh viên Trung Nghĩa. Trong cộng đồng có cây sáo trúc Bùi Duy Long và tiếng đàn tranh Ngọc Dung, tuy không tập dượt, nhưng đã hứa sẽ đến giúp cho buổi thơ nhạc vì quí mến sinh viên.

Khi viết tờ bướm cũng như soạn chương trình, tôi không rõ về tên tuổi nhà thơ, chỉ biết rằng tập thơ đã được một nhà ngoại giao châu Âu đem ra khỏi Việt Nam. Tôi nhờ trưởng nhóm Ân xá Quốc tế dò hỏi và biết tên thi sĩ đó là Nguyễn Chí Thiện. Vì thế trong tờ bướm, cũng như tờ chương trình đều ghi tên thi sĩ. Có lẽ đây là tài liệu đại chúng đầu tiên ghi rõ Nguyễn Chí Thiện là tác giả của tập thơ. Trong danh sách những tù nhân được Ân xá Quốc tế quan tâm thì thi sĩ Nguyễn Chí Thiện là tù nhân lương tâm đầu tiên từ miền Bắc Việt Nam.

Chương trình diễn ra tốt đẹp. Khi hát hay diễn ngâm bằng tiếng Việt thì lời Anh được chiếu lên. Đọc thơ tiếng Anh có Thái Anh, có phu quân của ca sĩ Thu Hà là Calvin Mehlert và giáo sư Goldman, chủ nhiệm Trung Tâm Nghiên Cứu Nam và Đông Nam Châu Á.

*

Dưới đây là phần trích bài của tôi viết về đêm thơ nhạc:

…

“DDêm Nghe Tiếng Vọng Từ Đáy Vực” được thực hiện bằng cả hai ngôn ngữ Việt và Anh vào tối thứ Sáu ngày 1.5.1981, tại phòng số 160 Kroeber Hall, U.C. Berkeley với sự tham dự của trên 200 khán thính giả.

Ngày 1.5 là ngày Quốc Tế Lao Động. Các nước tự do thường dùng ngày này để tuyên dương hoặc tán tụng các quyền tự do lao động của con người, như quyền đình công, quyền tổ chức và gia nhập nghiệp đoàn, quyền làm việc theo khả năng, ý thích v.v… Trong khi đó tại các nước cộng sản, cũng vào ngày này hằng năm, chính quyền thường đưa ra những chiêu bài lừa bịp, những chính sách bóc lột, bắt người dân phải hy sinh lao động nhiều hơn để phục vụ cho một thiểu số thống trị.

Nhưng đáng ghi nhớ hơn, cách đây 6 năm 1 ngày, vào ngày 30.4.1975 cộng sản chiếm trọn miền Nam Việt Nam và vì thế ngày 1.5.1975 người dân miền Nam đã phải sống trọn một ngày đầu tiên trong cái gọi là “thiên đường” của chủ nghĩa xã hội Việt Nam, một ngày Quốc Tế Lao Động đầu tiên để bắt đầu cho chuỗi ngày “lao động vinh quang”, cho “hội họp, kiểm thảo”, cho “vào tù ra khám”, điển hình như:

Bà kia tuổi sáu mươi rồi

Mà sao không được phép ngồi bán khoai

Cụ kia tuổi bảy mươi hai

Mà sao hội họp mệt nhoài chẳng tha

Tư do tôi quí thiết tha

Mà sao tù ngục hết ra lại vào…

Và cũng là khởi đầu cho chuỗi ngày đắng cay sống dưới “chế độ khoai sắn” với những câu chuyện thật thương tâm:

Bao giờ tôi gặp lại anh

Sẽ kể nghe chuyện khoai sắn

Chuyện thương tâm

Vì là chuyện cùm, chuyện bắn

Chuyện nhục nhằn

Vì là phản phúc gian manh

Sẽ làm đau xót lòng anh

Sẽ làm đau xót lòng anh…

Hay có những câu chuyện cười ra nước mắt:

Miếng thịt lợn chao ôi là vĩ đại

Miếng thịt bò lại vĩ đại bằng hai

Chanh, chuối, cam, đường

Lạc, đỗ, gạo, khoai

Đảng mó tới tự nhiên thành vĩ đại

Chuyện có thực mà tưởng như thần thoại

Mà tưởng như ác mộng bi ai…

Hoặc những chuyện bi hùng:

Tôi có thể ăn vài cân sắn sống

Nhai ngon lành như kẹo súc-cô-la

Bạn phục tôi tài hơn cả lợn à

Tôi đang sống trong trại giam Việt Cộng

Mưa đông rét ào ào gió lộng

Đứng ngâm mình vớt nứa giữa giòng sông

Bạn tưởng tôi da sắt với xương đồng

Tôi đang sống trong trại giam Việt Cộng…

Những chuyện não nùng, bi ai của chế độ:

Một tay em trổ: “DDời xua đuổi”

Một tay em trổ: “Hận vô bờ”

Thế giới ơi! ai có thể ngờ

Đó là một tù nhân tám tuổi

Trên bước đường tù mà tôi rong ruổi

Tôi gặp hàng ngàn em bé như em…

Những lời thơ tiếng nhạc đã nói lên được cuộc sống bi ai nhưng hào hùng của người dân Việt Nam trong lao tù và dưới chế độ cộng sản Hà Nội.

Nhưng để có thể diễn tả cuộc sống lao tù cộng sản một cách sống động hơn, “DDêm Nghe Tiếng Vọng Từ Đáy Vực” còn có phần thảo luận với một số hội thảo viên gồm những người đã phải sống trong trại cải tạo nhiều năm. Trong phần trả lời những câu hỏi, tất cả hội thảo viên đều bác bỏ lập luận của Hà Nội và những tay sai cho là người Việt Nam bỏ nước ra đi là vì lý do kinh tế. Một hội thảo viên khi trả lời câu hỏi này đã bật khóc, nói rằng: “Không lẽ vì lý do kinh tế, vì muốn tìm ấm no cho cuộc sống mà tôi đã phải bỏ lại vợ và đứa con mới chập chững biết đi để tôi ra đi một mình hay sao"”

Qua phần thảo luận, người tham dự đã được biết đến đời sống trong các lao tù của Hà Nội thật khổ cực, chẳng hạn như đã có đến 20 người bị giam chung trong một phòng chỉ rộng 9 mét vuông, hoặc có những bữa cơm chiều chỉ vỏn vẹn 16 hạt bắp.

Còn về sinh hoạt dân chủ dưới chế độ cộng sản tại Việt Nam thì tất cả chỉ là những trò bịp bợm, vì người dân không có quyền ứng cử và bầu cử tự do. Các ứng cử viên đều do Đảng Cộng Sản chỉ định, dân bị bắt buộc bầu cho những người được chỉ định đó.

Cũng trong dịp này, giáo sư Nguyễn Văn Canh, nguyên phụ tá khoa trưởng đặc trách học vụ của Đại Học Luật Khoa Sài Gòn, hiện làm việc tại Trung Tâm Nghiên Cứu Chính Trị Hoover thuộc viện Đại học Stanford, đã nói về các chính sách mà Hà Nội áp dụng tại miền Bắc Việt Nam sau năm 1954 nhằm loại bỏ những thành phần chống đối, như cải cách ruộng đất, diệt tư sản mại bản, đàn áp trí thức. Chính sách này đã gặp phải nhiều chống đối từ dân chúng, điển hình là vụ Quỳnh Lưu Khởi Nghĩa, vụ Nhân Văn Giai Phẩm, các vụ nổi dậy của nông dân v.v… Các chính sách đàn áp này được Hà Nội một lần nữa áp dụng tại Nam Việt Nam vào những năm 1977-78. Qua đợt đàn áp này, mặc dù nhiều người đã bị giết chết hoặc bị bắt giam vì chống đối nhưng hậu quả vẫn là những thất bại không cứu vãn được của bạo quyền Hà Nội trong chính sách cai trị hiện thời của họ.

Sau phần hội thảo kéo dài gần 2 giờ, chương trình chấm dứt bằng “Ngục Ca số 10” tức “Sẽ Có Một Ngày”:

Sẽ có một ngày con người hôm nay

Vất súng

Vất cùm

Vất cờ

Vất đảng

Đội lại khăn tang

Xoay ngang vòng đạn oan khiên…

Lời hát không chỉ là ước mơ của một con người đã phải sống với “cùm, bắn, chém, băm” trong gần 20 năm ngục tù ròng rã, mà cũng là ước mơ của hơn 50 triệu dân Việt đang phải sống những ngày tăm tối nhất trong lịch sử.

“Trái bom sự thật” đã nổ long trời lở đất. Sức công phá của nó đang làm cả thế giới khiếp sợ. Âm vang của “Tiếng Vọng Từ Đáy Vực” đã, đang và chắc chắn sẽ còn được lắng nghe mãi mãi.

[Bán nguyệt san Việt Nam Hải Ngoại, số 97, từ 1 đến 15.6.1981. Chủ biên là cựu luật sư Đinh Thạch Bích.]

Trong bài tường thuật tôi có nhắc đến Nguyễn Chí Thiện là tác giả tập thơ, nhưng toà soạn đã biên tập bỏ đi, với một lời ghi chú: “…một vài người đã tìm cách đưa ra tung tích về tác giả, căn cứ vào một nguồn tin tự nhận từng quen biết lâu năm với “tác giả”. Nhưng chi tiết đưa ra không mấy vững chắc, nên gần đây dư luận chỉ nói đến tập thơ, mà ít nói đến tác giả tập thơ. Có lẽ phải chờ thời gian và hoàn cảnh làm sáng tỏ vấn nạn này.”

*Hôm 17.11.2007 ở San Jose đã có buổi giới thiệu tác phẩm Hoả Lò / Hanoi Hilton Stories của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện. Chương trình do bà Jean Libby, cựu giáo sư sử học tại San Jose City College phối hợp cùng Cộng Đồng Việt Nam Bắc California tổ chức. Anh Nguyễn Khoa Thái Anh và tôi được ban tổ chức mời kể lại chương trình “DDêm Nghe Tiếng Vọng Từ Đáy Vực”. Hôm đó chúng tôi đưa người nghe về với không khí của đêm thơ nhạc xưa. Nguyễn Khoa Thái Anh đọc “Thơ của tôi” và “Sẽ có một ngày” bằng Anh ngữ. Tôi đọc tiếng Việt và cất giọng ngân nga những dòng nhạc thơ vẫn còn thuộc lòng.

Hai mươi sáu năm trước sinh viên Berkeley cất tiếng ngâm thơ, hát vang lên lời ca của một tù nhân còn nằm trong xà lim Hoả Lò. Lời thơ của Nguyễn Chí Thiện đã ghi lại một giai đoạn lịch sử của đất nước. Hôm nay tôi hát lên như để ôn lại kỉ niệm, nhớ về thời sinh viên đầy nhiệt huyết và hăng say, nhớ về đất nước đã có một thời lắm những lao tù, nhọc nhằn và thương đau.

Ngày nay đời sống xã hội Việt Nam thay đổi nhiều và quê hương đang chuyển mình. Trong những lần đến Hà Nội tôi thường đi ngang Phố Hoả Lò, nhìn bức tường mầu vôi vàng với những ô vuông cửa sổ bé nhỏ có song sắt chắn ngang mà liên tưởng đến những lời thơ của Nguyễn Chí Thiện, đến hồi kí của thượng nghị sĩ John McCain, đến những tù nhân của nhiều thời đại đã phải trải qua một phần cuộc đời ở chốn này, tù binh Mỹ cũng như tù nhân Việt. Lần đầu tiên tôi đến Hoả Lò, nơi đây đang được phá đi một phần để xây trung tâm thương mại, tôi xin một cục bê tông to bằng hòn gạch thẻ đem về làm kỉ niệm. Mấy năm sau nhà lao Hoả Lò được đổi lại tên nguyên thuỷ là Maison Centrale và trở thành một bảo tàng ghi lại lịch sử thời Pháp đô hộ nước ta, 1896-1954, nhiều hơn những dấu tích của thời đại khác. Bên cạnh đó giờ đây là một trung tâm thương mại nhiều tầng, cao sang. Tôi vào tham quan trong sự yên lặng rờn rợn người, nhất là khi bước đi giữa những buồng giam trong không gian mờ tối, sắc mầu âm u.

Hai mươi sáu năm, thời gian đã đem đến bao đổi thay. Những trại học tập đóng cửa, tù cải tạo lần lượt lên đường định cư. Mười hai năm trước nhà thơ Nguyễn Chí Thiện cũng đã giã từ thành phố của Hoả Lò để đến bến bờ tự do.

Hai mươi sáu năm trôi qua, những tù nhân lương tâm ngày trước ra đi có người đã trở về. Thượng nghị sĩ McCain cũng đã đưa gia đình đến thăm Hoả Lò, nơi ông và nhiều đồng đội đã bị giam cầm và hành hạ trong thời chiến tranh. Chốn âm u đó được tù binh Mỹ gọi miả mai bằng cái tên Hanoi Hilton. Bây giờ giữa phố phường Hà Nội có một khách sạn sang trọng là Hilton Hanoi Opera Hotel trên đường Lê Thánh Tông.

Việt Nam ngày nay không còn những trại học tập, nhưng trên mảnh đất ấy vẫn còn những người tù cần được quan tâm. Hôm đến San Jose nhà thơ Nguyễn Chí Thiện cùng với lớp người trẻ như anh chị Đỗ Thành Công và Jane, cùng với bác sĩ Nguyễn Xuân Ngãi và nhiều người Việt tiếp tục lên tiếng bênh vực cho nhân quyền nhân phẩm, cho tù nhân lương tâm ở Việt Nam.

Sau 2 năm vật lộn với dịch Covid-19, tình hình kinh tế Việt Nam đang đứng trước viễn ảnh u tối nhất kể từ khi Đổi mới 35 năm trước đây (1986). Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam thì: “Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý III/2021 ước tính giảm 6,17% so với cùng kỳ năm trước, là mức giảm sâu nhất kể từ khi Việt Nam tính và công bố GDP quý đến nay. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,04%; khu vực công nghiệp và xây dựng giảm 5,02%; khu vực dịch vụ giảm 9,28%.“
Ngược lại, những biến cố dồn dập đủ loại trong COVID-19 mở ra cuộc đấu tranh chính trị mới: đòi quyền được sống còn, có thuốc trị cho tất cả, đi lại an toàn, đó là một cái gì thiết thực trong đời sống hằng ngày và không còn chờ đợi được chính quyền ban phát ân huệ; nó khiến cho người dân có ý thức là trong các vấn đề nội chính, cải tổ chế độ là cần ưu tiên giải quyết. Người dân không còn muốn thấy vết nhơ của Đồng Tâm hay tiếp tục qùy lạy van xin, thì không còn cách nào khác hơn là phải có ý thức phản tỉnh để so sánh về các giá trị tự do cơ bản này và hành động trong gạn lọc. Tình hình chung trong việc chống dịch là bi quan và triển vọng phục hồi còn đấy bất trắc. Nhưng đó là một khởi đầu cho các nỗ lực kế tiếp. Trong lâu dài, dân chủ hoá là xu thế mà Việt Nam không thể tránh khỏi. Cải cách định chế chính trị và đào tạo cho con người để thích nghi không là một ý thức riêng cho những người quan tâm chính sự mà là của toàn dân muốn bảo vệ sức khoẻ, công ăn việc làm
Trong vài thập niên vừa qua, giải Nobel Hòa Bình và Văn Chương được xem là một tuyên ngôn của ủy ban giải Nobel về các vấn đề thời cuộc quan trọng trong (những) năm trước và năm 2021 này cũng không là ngoại lệ. Giải Nobel Văn Chương năm nay được trao cho nhà văn lưu vong gốc Tazania - một quốc gia Châu Phi, là Abdulrazak Gurnah "vì sự thẩm thấu kiên định và bác ái của ông đối với những ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dân và số phận của những người tị nạn trong vực sâu ngăn cách giữa các nền văn hóa và lục địa". Cũng vậy, giải Nobel Hoà Bình đã dành cho hai ký giả Maria Ressa của Phi Luật Tân và Dmitry Muratov của Nga "vì những nỗ lực bảo vệ sự tự do ngôn luận, vốn là điều kiện tiên quyết cho nền dân chủ và sự hòa bình lâu dài". Ủy ban Nobel Hòa Bình Na Uy còn nói thêm rằng, "họ đại diện cho tất cả các ký giả đang tranh đấu cho lý tưởng này, trong một thế giới mà nền dân chủ và tự do báo chí đang đối mặt với những điều kiện ngày càng bất lợi" và cho "nền báo chí tự do, độc lập
Sau đó, sau khi “phát khóc” và lau nước mắt/nước mũi xong, bác Hồ liền thỉnh ngay bác Lê về thờ nên mới có Suối Lê Nin (với Núi Các Mác) cùng hình ảnh – cũng như tượng đài – của cả hai ông trưng bầy khắp mọi nơi, để lập ra một tôn giáo mới, thay thế cho Phật/Chúa/Thánh Thần/Ông Bà/Tiên Tổ ... các thứ.
Sự nghiệp chính trị của đại đế Nã-Phá-Luân chẳng liên hệ gì nhiều đến Trung Quốc nên không biết tại sao ông nổi hứng tuyên bố một câu bất hủ mà giờ này có giá trị của một lời tiên tri “Hãy để Trung Hoa ngủ yên bởi vì khi tỉnh giấc nó sẽ làm rung chuyển thế giới.” Vào tháng 03/1978 có một sự kiện ít được biết đến nhưng bắt đầu lay thức gã khổng lồ Trung Quốc khi một hợp tác xã nông nghiệp ở Phúc Kiến xin phép được giữ lại phần sản xuất vượt chỉ tiêu để khuyến khích nông dân hăng hái làm việc. Đây là giai đoạn trước Đổi Mới nên viên thư ký đảng bộ của hợp tác xã bị phê bình kiểm điểm. Chỉ 8 tháng sau đó vào cuối năm 1978 Đặng Tiểu Bình tuyên bố cải tổ và mở cửa nền kinh tế. Đề nghị nói trên của hợp tác xã được mang ra thử nghiệm với kết quả sáng chói nên viên thư ký đảng được ban khen.
Sau 10 năm ra sức Xây dựng, chỉnh đốn hàng ngũ để bảo vệ đảng không tan, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vẫn thừa nhận: ”Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" vẫn chưa được ngăn chặn, đẩy lùi một cách căn bản, thậm chí có mặt còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn, có thể gây ra những hậu quả khôn lường.”
Nếu mối quan hệ Trung Quốc-Hoa Kỳ là một ván bài, thì người Mỹ sẽ nhận ra rằng họ đã được một lá bài tốt và tránh khuất phục trước nỗi sợ hãi hay niềm tin vào sự suy tàn của Hoa Kỳ. Nhưng ngay cả một lá bài tốt cũng có thể thua, nếu chơi tệ. Khi chính quyền của Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden thực hiện chiến lược cạnh tranh đại cường với Trung Quốc, các nhà phân tích tìm các phép ẩn dụ trong lịch sử để giải thích tình trạng cạnh tranh ngày càng sâu sắc. Nhưng trong khi nhiều người dựa vào sự khởi đầu của Chiến tranh Lạnh, thì một ẩn dụ lịch sử đáng lo ngại hơn là sự bắt đầu của Thế chiến thứ nhất. Năm 1914, tất cả các cường quốc đều mong rằng cuộc chiến Balkan lần thứ ba là ngắn ngủi. Thay vào đó, như nhà sử học người Anh Christopher Clark đã chỉ ra rằng, các cường quốc bị mộng du bước vào một trận đại chiến kéo dài bốn năm, phá hủy bốn đế chế và giết chết hàng triệu người.
“Căn bản đời sống của chúng ta là đi tìm sự hạnh phúc và tránh né sự khổ đau, tuy nhiên điều tốt nhất mà ta có thể làm cho chính bản thân chúng ta và cho cả hành tinh này là lật ngược lại toàn bộ suy nghĩ ấy. Pema Chodron đã chỉ cho chúng ta thấy mặt cấp tiến của đạo Phật.”
Năm 1964, anh Phạm Công Thiện được mời vào Sài Gòn để dạy triết Tây tại Viện cao đẳng Phật học vừa được mở tại chùa Pháp Hội (tiền thân của Viện Đại học Vạn Hạnh sau này), tôi được anh cho đi theo. Tôi nhớ anh đã dẫn tôi đến thăm Bùi Giáng vào một buổi chiều, trong một căn nhà ở hẻm Trương Minh Giảng, căn nhà rất ẩm thấp, chật hẹp, gần như không có chỗ cho khách ngồi.
Cố nhớ kỹ lại, tôi vẫn không nghĩ ra là tôi đã gặp thầy Phước An lần đầu vào dịp nào (dĩ nhiên là ở Vạn Hạnh, trong năm 1972, nhưng trong hoàn cảnh nào?). Chỉ nhớ rằng quen nhiều và thân với thầy lắm. Phòng 317 Nội Xá Vạn Hạnh là phòng ở của quý thầy trẻ, là những người tôi rất thân, và đây là một phòng mà tôi có thể ra vào bất cứ lúc nào.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.