Hôm nay,  

Phất Trần Một Phẩy

12/07/200800:00:00(Xem: 8849)
Bóng tùng tỏa rừng thiền quê hương
Niềm thương lan cuộc thế vô thường
Từ thanh xuân đã nguyện dấn thân
Đầu bạc phơ vẫn gậy trúc lên đường.

Lên đường, phải đâu tới lui dăm nẻo quẩn quanh chật hẹp
Đi, đứng, nằm, ngồi, động tác nào chẳng là sự cựa mình uy nghiêm của lan-nhã tượng vương
Nói, im, dịch, thuật, đều là tiếng gầm dũng mãnh của tùng lâm sư tử
Ai người có thể giam nhốt, trói buộc hay lạm dụng một cõi lòng tịch tịnh hư không!
Lão tăng bần hàn, một bát ba y, ở đâu cũng là tịnh-độ niết-bàn
Nơi đây, từ đất lành này đã ươm những hạt mầm cho vô lượng bồ-tát dõng xuất hiện thân
Ngày hai bữa cháo, hai thời thỉnh chuông, hai lần ra-vào, nhưng chính môn thì chỉ có một
Chín mươi năm có là bao trong lũy kiếp hóa hiện
Hà tất phải bận lòng một hạt bụi rơi vào cõi vô sinh
Vì đại nguyện độ sinh mà về đây giữa đời loạn động
Đáng sá gì những hư vị hay phần thưởng tầm thường của trần gian!
Đừng nói danh kia sẽ còn mãi
Phật danh không chấp, nói gì giả danh.

Thế sự đảo điên, thương người thống khổ thấp miệng
Lão tăng một mình cất tiếng cho muôn dân an thái
Nhân tâm trí trá, gió chướng đem gieo cửa thiền
Giả danh, huyễn vị, trở thành đầu mối của suy vong
Con thuyền ấy giương buồm vào trong bão tố
Mà bánh lái đã gãy ngay từ lúc nhổ neo!


Nhẫn nhục, nhẫn nhục, đại nhẫn nhục
Là áo giáp đi qua rừng gươm giáo
Khởi ngôn hay tịnh mặc đều vì lòng từ bi
Đừng nói lão tăng không hay không biết
Chỉ vì 'tùy thuận' mà đành vô ngôn.

Cuối đời lui về nơi tịch liêu lan nhã
Lấy tiểu sự làm đại sự nhân duyên
Thỉnh chuông triêu-mộ gửi hồng trần.
Một tiếng chuông ngân, vỡ tan muôn triệu phiền não
Mỗi ngày hai buổi nghe đủ hai trăm mười sáu tiếng
Sinh tử ở ngay nơi tầm tay, giữa những hạt chuỗi bồ-đề
Muốn đi thì đi, muốn về thì về, nào ai cản ngăn, cột trói
Cỗ xe nhất thừa lướt vào cõi rộng thênh thang
Nhập bất nhị môn tức đắc Huyền thâm Pháp tạng
Ly nhất thiết tướng đương thị Quang đại Phật tông.

Đừng nói mặt trời kia rụng thì trần gian tăm tối
Trí sẵn ngời trong từng hạt giống bồ-đề đã gieo
Sông cạn, lòng từ không cạn
Núi mòn, nguyện rộng chẳng suy
Một phen chân dẫm bất động địa
Vào ra sinh tử là trò chơi.

Rừng thiền vẫn vậy, bóng tùng tỏa
Cuộc thế vô thường khởi bi tâm
Đạt-ma quẫy giép về Tây Trúc
Lão tăng quay đầu, vô khứ lai.

Gậy trúc gõ vào cửa-không-cửa
Thế giới ba ngàn tỏa lung linh.
Phất trần một phẩy rơi rụng hết
Hằng sa lậu hoặc chốn tử sinh.

Nam mô Huyền Quang Đại Nhẫn Đại Từ Đại Trí Bồ Tát Ma Ha Tát

Kính điếu ân sư thượng Huyền hạ Quang
Đệ tử Vĩnh Hảo
http://www.vinhhao.net

Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
Hình ảnh thay cho ngàn lời nói, ghi nhận rõ "sự hấp hối" của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ghi lại cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, nỗi lo sợ của dân chúng lũ lượt rời nơi đang sinh sống, đã bỏ nhà cửa trốn chạy trước khi VC tràn vào thành phố
Chúng ta liệu có thể đóng vai trò giúp đỡ những người nhập cư và tị nạn trong tương lai như là người Mỹ đã từng làm cho chúng ta không? Theo lời của Emma Lazarus, liệu chúng ta có nâng “... ngọn đèn bên cạnh cánh cửa vàng” cho “... kẻ bão táp, người vô gia cư ... người mệt mỏi, người nghèo khổ” không? Đối với chúng tôi, trong ngày 30 tháng 4 này, không có câu hỏi nào có ý nghĩa và tính quan trọng hơn câu hỏi này.
Khách đến Việt Nam ngày nay thấy nhiều nhà cao cửa rộng, xe chạy chật đường hơn xưa. Nhưng đa số người Việt Nam có vẻ không có cái nhu cầu dân chủ của người Myanmar hay người Hồng Kông. Hay là họ có, nhưng 20 năm chiến tranh đã làm họ mệt mỏi, xuôi xị chấp nhận chút đầy đủ vật chất, nhắm mắt với tương lai? Và Đảng Cộng sản Việt Nam có thể hy vọng người Việt sẽ ngoan ngoãn như người dân Bắc Hàn, không cần dự phần tự quyết cho tương lai của mình và con cháu mình?
Ngày 30/4 năm thứ 46 sau 1975 đặt ra câu hỏi: Còn bao nhiêu năm nữa thì người Việt Nam ở hai đầu chiến tuyến trong chiến tranh mới “hòa giải, hòa hợp” được với nhau để thành “Một Người Việt Nam”? Hỏi chơi vậy thôi chứ cứ như tình hình bây giờ thì còn mút mùa lệ thủy. Nhưng tại sao?
30 tháng Tư. Đó là ngày nhắc nhở chúng ta cần có dự tính cho tương lai. Vào năm 1975, ai có thể ngờ rằng sẽ có gần 2 triệu người Việt tại Hoa Kỳ nuôi dưỡng cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp một cách đáng kể cho xã hội? Ai ngờ được rằng hiện đã có thế hệ người Mỹ gốc Việt thứ ba, thứ tư?
Tổng thống Joe Biden như một người thuyền trưởng, nắm con thuyền quốc gia giữa cơn bão dữ. Chỉ trong cơn sóng lớn mới thấy được khả năng người lèo lái. Những thách thức vẫn còn trước mặt, nhưng con thuyền quốc gia hứa hẹn sẽ đến được chân trời rộng mở. Sự lãnh đạo và phục vụ thầm lặng, bền đỗ cho quốc gia và người dân của tổng thống Joe Biden đã được chứng minh bằng kết quả hiển hiện trong 100 ngày vừa qua.
Ca sĩ Tina Turner, có lẽ ai cũng biết nhưng quá trình tìm đến đạo Phật, trở thành Phật tử và sự tinh tấn của cô ta chắc không nhiều người biết. Giáo lý đạo Phật đã vực dậy đời sống cá nhân cũng như sự nghiệp của cô ta từ hố thẳm đau khổ, thất vọng.
Một nhân vật còn sống sót sau thảm họa Lò sát sinh (Holocaust) và từng đoạt giải Nobel Hòa bình, Elie Wiesel, nói: "Sự đối nghịch của tình thương không phải là sự ghét bỏ, mà là sự dửng dưng. Sự dửng dưng khiến đối tượng thành vắng bóng, vô hình…"
Tháng 10/1954, ông Trần Văn Hương được bổ nhiệm làm Đô Trưởng thủ đô Sài Gòn nhưng chỉ được vài tháng ông xin từ chức không cho biết lý do. Ngày 26/4/1960, ông Hương cùng 17 nhân sĩ quốc gia thành lập nhóm Tự Do Tiến Bộ, tổ chức họp báo công bố một bản tuyên cáo tại khách sạn Caravelle. Nội dung Bản Tuyên Cáo rất ôn hòa chỉ yêu cầu Tổng thống Ngô Đình Diệm mở rộng chính quyền để các nhà trí thức có thể hợp tác với chính phủ nếu được yêu cầu. Ngày 11/11/1960, ông Hương ký tên ủng hộ cuộc đảo chánh do Đại tá Nguyễn Chánh Thi khởi xướng, ông bị bắt trong tù ông có viết một tập thơ lấy tên là “Lao trung lãnh vận” (Những vần thơ lạnh lẽo ở trong tù).
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.