Hôm nay,  

Phất Trần Một Phẩy

12/07/200800:00:00(Xem: 8969)
Bóng tùng tỏa rừng thiền quê hương
Niềm thương lan cuộc thế vô thường
Từ thanh xuân đã nguyện dấn thân
Đầu bạc phơ vẫn gậy trúc lên đường.

Lên đường, phải đâu tới lui dăm nẻo quẩn quanh chật hẹp
Đi, đứng, nằm, ngồi, động tác nào chẳng là sự cựa mình uy nghiêm của lan-nhã tượng vương
Nói, im, dịch, thuật, đều là tiếng gầm dũng mãnh của tùng lâm sư tử
Ai người có thể giam nhốt, trói buộc hay lạm dụng một cõi lòng tịch tịnh hư không!
Lão tăng bần hàn, một bát ba y, ở đâu cũng là tịnh-độ niết-bàn
Nơi đây, từ đất lành này đã ươm những hạt mầm cho vô lượng bồ-tát dõng xuất hiện thân
Ngày hai bữa cháo, hai thời thỉnh chuông, hai lần ra-vào, nhưng chính môn thì chỉ có một
Chín mươi năm có là bao trong lũy kiếp hóa hiện
Hà tất phải bận lòng một hạt bụi rơi vào cõi vô sinh
Vì đại nguyện độ sinh mà về đây giữa đời loạn động
Đáng sá gì những hư vị hay phần thưởng tầm thường của trần gian!
Đừng nói danh kia sẽ còn mãi
Phật danh không chấp, nói gì giả danh.

Thế sự đảo điên, thương người thống khổ thấp miệng
Lão tăng một mình cất tiếng cho muôn dân an thái
Nhân tâm trí trá, gió chướng đem gieo cửa thiền
Giả danh, huyễn vị, trở thành đầu mối của suy vong
Con thuyền ấy giương buồm vào trong bão tố
Mà bánh lái đã gãy ngay từ lúc nhổ neo!


Nhẫn nhục, nhẫn nhục, đại nhẫn nhục
Là áo giáp đi qua rừng gươm giáo
Khởi ngôn hay tịnh mặc đều vì lòng từ bi
Đừng nói lão tăng không hay không biết
Chỉ vì 'tùy thuận' mà đành vô ngôn.

Cuối đời lui về nơi tịch liêu lan nhã
Lấy tiểu sự làm đại sự nhân duyên
Thỉnh chuông triêu-mộ gửi hồng trần.
Một tiếng chuông ngân, vỡ tan muôn triệu phiền não
Mỗi ngày hai buổi nghe đủ hai trăm mười sáu tiếng
Sinh tử ở ngay nơi tầm tay, giữa những hạt chuỗi bồ-đề
Muốn đi thì đi, muốn về thì về, nào ai cản ngăn, cột trói
Cỗ xe nhất thừa lướt vào cõi rộng thênh thang
Nhập bất nhị môn tức đắc Huyền thâm Pháp tạng
Ly nhất thiết tướng đương thị Quang đại Phật tông.

Đừng nói mặt trời kia rụng thì trần gian tăm tối
Trí sẵn ngời trong từng hạt giống bồ-đề đã gieo
Sông cạn, lòng từ không cạn
Núi mòn, nguyện rộng chẳng suy
Một phen chân dẫm bất động địa
Vào ra sinh tử là trò chơi.

Rừng thiền vẫn vậy, bóng tùng tỏa
Cuộc thế vô thường khởi bi tâm
Đạt-ma quẫy giép về Tây Trúc
Lão tăng quay đầu, vô khứ lai.

Gậy trúc gõ vào cửa-không-cửa
Thế giới ba ngàn tỏa lung linh.
Phất trần một phẩy rơi rụng hết
Hằng sa lậu hoặc chốn tử sinh.

Nam mô Huyền Quang Đại Nhẫn Đại Từ Đại Trí Bồ Tát Ma Ha Tát

Kính điếu ân sư thượng Huyền hạ Quang
Đệ tử Vĩnh Hảo
http://www.vinhhao.net

“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.