Hôm nay,  

Phất Trần Một Phẩy

12/07/200800:00:00(Xem: 9055)
Bóng tùng tỏa rừng thiền quê hương
Niềm thương lan cuộc thế vô thường
Từ thanh xuân đã nguyện dấn thân
Đầu bạc phơ vẫn gậy trúc lên đường.

Lên đường, phải đâu tới lui dăm nẻo quẩn quanh chật hẹp
Đi, đứng, nằm, ngồi, động tác nào chẳng là sự cựa mình uy nghiêm của lan-nhã tượng vương
Nói, im, dịch, thuật, đều là tiếng gầm dũng mãnh của tùng lâm sư tử
Ai người có thể giam nhốt, trói buộc hay lạm dụng một cõi lòng tịch tịnh hư không!
Lão tăng bần hàn, một bát ba y, ở đâu cũng là tịnh-độ niết-bàn
Nơi đây, từ đất lành này đã ươm những hạt mầm cho vô lượng bồ-tát dõng xuất hiện thân
Ngày hai bữa cháo, hai thời thỉnh chuông, hai lần ra-vào, nhưng chính môn thì chỉ có một
Chín mươi năm có là bao trong lũy kiếp hóa hiện
Hà tất phải bận lòng một hạt bụi rơi vào cõi vô sinh
Vì đại nguyện độ sinh mà về đây giữa đời loạn động
Đáng sá gì những hư vị hay phần thưởng tầm thường của trần gian!
Đừng nói danh kia sẽ còn mãi
Phật danh không chấp, nói gì giả danh.

Thế sự đảo điên, thương người thống khổ thấp miệng
Lão tăng một mình cất tiếng cho muôn dân an thái
Nhân tâm trí trá, gió chướng đem gieo cửa thiền
Giả danh, huyễn vị, trở thành đầu mối của suy vong
Con thuyền ấy giương buồm vào trong bão tố
Mà bánh lái đã gãy ngay từ lúc nhổ neo!


Nhẫn nhục, nhẫn nhục, đại nhẫn nhục
Là áo giáp đi qua rừng gươm giáo
Khởi ngôn hay tịnh mặc đều vì lòng từ bi
Đừng nói lão tăng không hay không biết
Chỉ vì 'tùy thuận' mà đành vô ngôn.

Cuối đời lui về nơi tịch liêu lan nhã
Lấy tiểu sự làm đại sự nhân duyên
Thỉnh chuông triêu-mộ gửi hồng trần.
Một tiếng chuông ngân, vỡ tan muôn triệu phiền não
Mỗi ngày hai buổi nghe đủ hai trăm mười sáu tiếng
Sinh tử ở ngay nơi tầm tay, giữa những hạt chuỗi bồ-đề
Muốn đi thì đi, muốn về thì về, nào ai cản ngăn, cột trói
Cỗ xe nhất thừa lướt vào cõi rộng thênh thang
Nhập bất nhị môn tức đắc Huyền thâm Pháp tạng
Ly nhất thiết tướng đương thị Quang đại Phật tông.

Đừng nói mặt trời kia rụng thì trần gian tăm tối
Trí sẵn ngời trong từng hạt giống bồ-đề đã gieo
Sông cạn, lòng từ không cạn
Núi mòn, nguyện rộng chẳng suy
Một phen chân dẫm bất động địa
Vào ra sinh tử là trò chơi.

Rừng thiền vẫn vậy, bóng tùng tỏa
Cuộc thế vô thường khởi bi tâm
Đạt-ma quẫy giép về Tây Trúc
Lão tăng quay đầu, vô khứ lai.

Gậy trúc gõ vào cửa-không-cửa
Thế giới ba ngàn tỏa lung linh.
Phất trần một phẩy rơi rụng hết
Hằng sa lậu hoặc chốn tử sinh.

Nam mô Huyền Quang Đại Nhẫn Đại Từ Đại Trí Bồ Tát Ma Ha Tát

Kính điếu ân sư thượng Huyền hạ Quang
Đệ tử Vĩnh Hảo
http://www.vinhhao.net

Công an xã Đông Thành huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long liền gởi giấy mời đồng đạo Nguyễn Ngọc Tân đến làm việc với công an địa phương vào ngày Thứ Hai 21-10-2019
Nó đi laị lồng lộn trong phòng, đụng đâu đá đó chán bèn nằm ườn trên giường, lăn lộn rồi kéo mền trùm kín đầu..
Trương Ba, tuổi còn trẻ, lại giỏi tài đánh cờ tướng, tiếng tăm bay tới bên Tàu. Lúc bấy giờ, bên Tàu có ông Kỵ Như cũng nổi tiếng là vua cờ, nghe danh Trương Ba, bèn qua Việt nam, tìm tới Trương Ba để thi tài cao thấp.
Cũng như thời gian bà con ta đã từng sống với ngục tù Cộng Sản, các nạn nhơn của chế độ Cộng Sản – một chế độ coi thường nhơn quyền, coi thường tình thương nhơn loại, nên chế độ đối đãi người tù thường đặt vào hạng chót.
Cường độ sợ Tầu và miệt thị Trí thức đã gia tăng trong ngôn ngữ và hành động của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng và của Ban Chấp hành Trung ương đảng CSVN.
Thế là gã thành thi sĩ, sau bao nhiêu năm đăng rải rác trên báo. Giờ gã in riêng cho mình một tập. Bạn bè, người thân chúc mừng nhiều lắm.
Tuyển tập Thong Dong Khắp Mọi Nẻo Đường của Tiến Sĩ Bạch Xuân Phẻ (Cư sĩ Tâm Thường Định) tập trung nhiều bài viết trong nhiều chủ đề -- Giáo Dục, Quê Hương, Đạo Pháp, Văn Học Nghệ Thuật
Tôi cũng là người may mắn, vì nếu rời Oakland sớm hơn chút nữa thì xe của tôi cũng đã nằm dưới đường xa lộ Cypress hai tầng bị xập khi động đất, làm 42 người thiệt mạng
Phong trào thơ mới ra đời sau năm 1930, thi sĩ không còn bị gò bó trong những nguyên tắc phức tạp của thơ Đường, thi sĩ tự do diễn đạt cảm nghĩ và cảm xúc của mình.
Sau ba năm lưu lạc nơi xứ người, bài thơ Đêm, Nhớ Trăng Sài Gòn của nhà thơ Du Tử Lê sáng tác năm 1978, mang nỗi buồn xót xa của kẻ mất quê hương, nhớ lại hình ảnh xa xưa với bao kỷ niệm đã in sâu trông tâm khảm
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.