Hôm nay,  

Tĩnh Lặng Vô Ngôn

17/01/200900:00:00(Xem: 7868)
TĨNH LẶNG VÔ NGÔN
Hạnh Chi
Bất cứ hành giả nào đọc, hay học qua kinh Duy Ma Cật, dù hiểu cạn hay sâu, ít nhất cũng có cảm nhận về cuốn kinh đại thừa này qua cái nhìn chung là "Tĩnh lặng vô ngôn. Tịch nhiên bất động."
Quả thật, toàn bộ cuốn kinh không trang nào không phảng phất làn hương trầm Bát Nhã của chiều sâu tâm thức. Ngay cả những cuộc viếng thăm  đông đảo của hàng Bồ Tát hay cảnh rực rỡ khi thiên nữ rải hoa vẫn biểu hiện cái uyên nguyên cực kỳ tĩnh lặng của "tâm không dính cảnh, dù cảnh chẳng rời tâm".
Mỗi khi chợt nghĩ đến Thầy, lòng tôi lại rộn lên niềm hạnh phúc của phút sơ tâm khi học kinh Duy Ma Cật, cái sơ tâm của trẻ con khi cố tìm ra lý luận để phản bác người lớn.     
Tôi không thoải mái chút nào khi kinh trình bày một người cư sỹ trí tuệ đến mức các đại đệ tử của Phật đều không dám đến gặp. Rồi khi ngài đệ nhất trí Văn Thù Sư Lợi đồng ý đi thăm bệnh Duy Ma Cật, đối đáp cùng nhau, đến chương cuối, trưởng giả hỏi các vị Bồ Tát thế nào là vào cửa Bất Nhị thì tôi chẳng thể đồng ý với ngài Văn Thù Sư Lợi chút nào!  
Có bị phạt quỳ hương hết bó nhang tôi cũng không nói khác được!
Làm sao mà sau khi nghe đủ hơn ba mươi vị Bồ Tát trả lời "Thế nào là vào cửa pháp Bất Nhị"", đến cuối cùng, ngài Văn Thù Sư Lợi hỏi trưởng giả Duy Ma Cật thì lại chỉ nhận được sự im lặng" Ấy thế mà cái sự im lặng đó lại được ngài Văn Thù tán thán: "Lành thay! Lành Thay! Cho đến không còn văn tự và ngôn thuyết mới thật là vào cửa Bất Nhị!"
Tới đây, tôi đã khởi ý nghi ngài Văn Thù Sư Lợi không công bằng cho lắm!       
Không biết vào thời mạt pháp này ngài có còn thỉnh thoảng hiện thân hành khất trên Ngũ-Đài-Sơn hay không" Nếu biết chắc ngài còn thương tưởng chúng sanh mà hóa hiện, tôi sẽ không quản ngại xa xôi, sẽ trèo đèo lội suối tới dẫy núi huyền bí kia, chờ gặp được ngài để bộc bạch nỗi ấm ức của mình.
Tất nhiên, tôi chẳng bao giờ có nổi cơ hội này.
Nhưng may quá, sau một lần nhập thất, thầy Tuệ Sỹ đã giải thoát cho tôi ra khỏi nỗi buồn tưởng là thiên thu bất tận này.
Lần nhập thất đó Thầy đã hoàn tất "Huyền thoại Duy Ma Cật", trong đó, ở chương "Cửa Vào Bất Nhị", Thầy đã nhẹ nhàng đặt bút:
"Trong đối thoại về Bất Nhị môn này, sự im lặng của Duy Ma Cật được nhận thức là cao nhất, là diễn tả tuyệt vời nhất về Bất Nhị. Nhưng, nhìn từ một hướng khác, nếu không có minh giải từ Văn Thù thì sự im lặng của Duy Ma Cật trở thành vô nghĩa! Cho nên, điều vi diệu ở đây là nói lên được cái không thể nói. Trước, sự  im lặng của Duy Ma Cật là diễn đạt của Văn Thù. Sau, sự im lặng của Duy Ma Cật cũng là sự diễn đạt của Văn Thù. Cả hai, Thánh-mặc-nhiên và Thánh-ngôn-ngữ đều cùng hiển thị một thực tướng duy nhất, là thực tướng ly ngôn…"
Thì ra, trưởng giả Duy Ma Cật tuy dùng sự im lặng, nhưng cũng phải có cái hữu-tướng mới có thể trình bày được cái vô-tướng; cũng như Văn Thù Sư Lợi, đã dùng ngôn-ngữ để giãi bày cái vô-ngôn.

Chúng sanh vô minh này xin sám hối cùng đại trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.
Con xin cảm tạ Thầy Tuệ Sỹ.
Thầy lại vừa nhập thất.
Không biết lần này Thầy nhập thất bao lâu nhưng tôi biết, từ nhiều thập niên, Thầy chỉ dùng bữa trưa với lưng chén cơm đạm bạc, sau đó, không gì thêm ngoài nước trà, cho đến trưa hôm sau. Ngay cả khi tứ đại bất an, chúng tôi xin Thầy dùng chút sữa thì Thầy nhẹ nhàng từ chối: "Sức khỏe tui, tui biết, các anh các chị làm sao biết được".     
Thế là huynh đệ chúng tôi có xót xa cũng đành mượn cách trả lời vào cửa Bất Nhị của Duy Ma Cật là im lặng!
Lần này, tôi may mắn được Thầy giảng giải cho dăm điều thắc mắc trong kinh Trường-A-Hàm trước khi nhập thất, vì sau đó, Thầy sẽ cắt đứt mọi thông tin, chỉ có thị giả là mỗi ngày còn được gặp Thầy dăm phút khi đưa cơm mà thôi.
Tôi đã về tới đường hẻm đó, đã bước lên những bực thang xi măng buốt lạnh dẫn tới hành lang heo hút đó, đã thấy căn phòng làm việc đơn sơ với chiếc võng con, bàn viết nhỏ, máy vi tính cũ kỹ và một kệ sách. Nơi ấy, từ nhiều thập niên qua, Thầy đã là biểu tượng của "Tĩnh lặng vô ngôn. Tịch nhiên bất động". Hoa thơm rải tới, hay bùn đất tạt vào cũng chỉ được đáp lại bằng tiếng gió lao xao thổi nhẹ qua những giò phong lan.
Phải chăng đó là hữu-tướng hiển bày vô-tướng, là hữu-thanh truyền đạt vô-thanh; như mặt trăng tịnh nhiên bất động giữa hư không nhưng ánh trăng vẫn tỏa chiếu muôn sông, muôn suối. Nơi nào nước trong sẽ thấy trăng tỏ, nơi nào nước đục sẽ chỉ thấy trăng mờ.
Những bài học bằng thân-giáo như vậy chẳng phải thời nào cũng có, nếu thế gian không quá đảo điên trầm thống; chén cơm cam lộ được xông ướp bằng hương đại bi của Như Lai từ cõi Phật Hương Tích chẳng phải thời nào cũng ban phát, nếu cơ duyên không tựu thành pháp hội Yêm-la.
Khó đến thế nhưng chẳng là thất vọng vì: "Pháp-thân vốn vô tướng  nhưng lại ứng hiện theo từng hình tướng đặc thù. Vần điệu chí cao thì vẫn không lời mà thư tịch huyền vi khắp nơi quảng bá" (*)  
Thầy đang nhập thất.
Thị-Ngạn-Am vẫn đó, gần, thật gần.
Nhưng những gì Thầy cưu mang và ấp ủ từ am thất nhỏ bé đó, đã và đang đi xa, thật xa. Từng đêm "Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn"(+)  đã hoàn tất những quà tặng đẹp đẽ cho đời, từ sáng tác tới dịch thuật. Đó là những trang cảo thơm Thắng Man Giảng Luận, Tô Đông Pha-Những Phương Trời Viễn Mộng, Giấc Mơ Trường Sơn, Trường-A-Hàm, Trung-A-Hàm, Tạp-A-Hàm, tuyển tập Nikàya A-Hàm, Triết Học Tánh Không, Thành Duy Thức Luận, Thiền Luận, Ngục Trung Mị Ngữ, Huyền Thoại Duy Ma Cật ..v…v..
 Mới hay, phương tiện được nhìn qua lăng kính Cư-trần-lạc-đạo có vẻ đơn giản nhưng thật ra chẳng đơn giản chút nào!
NAM MÔ CÔNG ĐỨC LÂM BỒ TÁT.
NAM MÔ ĐẠI TRÍ VĂN THÙ SƯ LỢI BỒ TÁT.
Hạnh Chi
(Độc-Cư-Am, tháng giêng 2009)
(*) Tăng Duệ, tựa kinh Duy Ma Cật
(+) Thơ TS

Năm con chuột này sao tai họa dịch bệnh ập đến trong đời sống con người trên thế giới mà ngay xứ Cờ Huê nầy vừa dịch bệnh đe dọa mạng sống vừa xảy ra biến động trên chính trường! Đến lúc nào mới được thở phào, nhẹ nhõm, bình yên. Có lẽ bài viết Viết Cuối Năm Con Chuột là bài viết cuối cùng của cuộc đời liên quan đến con giáp nầy. Có lẽ đến năm Nhâm Tý 2032, không còn viết nữa vì sẽ là người thiên cổ, trở về hư vô & cát bụi.
Ngay từ khi ra đời, khoa học đã liên tục phát triển vì một lý do cơ bản: tích lũy bằng chứng thực nghiệm mà những quan điểm cố chấp không thể đáp ứng được. Những thay đổi kết quả thường nhỏ nhưng đôi khi chúng mang tính chất lớn, như trong cuộc cách mạng lượng tử tương đối vào những năm đầu của thế kỷ 20.
Amanda cho biết cô cũng chọn lọc ngôn từ rất cẩn trọng, đọc lại lịch sử của những chữ sử dụng vì theo lời cô nói, "chúng ta từng thấy những cách mà ngôn ngữ bị xúc phạm và để hạ nhân tính. Làm sao có thể phục hồi Anh ngữ để chúng ta có thể thấy nó là một nguồn hy vọng, sự tinh tuyền và ý thức".
Dù cuộc chiến đã tàn gần nửa thế kỷ nhưng mãi cho đến giờ con số binh sĩ thương vong của bên thắng cuộc vẫn chưa được “giải mật.” Bởi thế, không có gì ngạc nhiên khi không ít xương cốt của binh sĩ (của cả hai bên) vẫn còn vương vãi khắp nơi nhưng không hề khiến cho những kẻ đang nắm giữ quyền bính có chút bận tâm nào cả.
Gọi là đưa tiền cho Mỹ xài vì Việt Nam cho vay chịu lỗ với lãi xuất âm -1.02% (sau lạm phát). Đến khi Việt Nam đòi thì Hoa Kỳ in đô-la trả lại. Nhưng không riêng gì An-Nam mà nhiều nước khác tiếp tục mua nợ công của Mỹ cho nên mức lời nằm lì ở mức cực thấp trong khi đô-la không mất giá. Trong truyền thuyết có ông vua Midas sờ ra vàng thì nay các phù thủy kinh tế Hoa Kỳ bấm chuột (mouseclick) ra tiền!
Tốt đẹp? Thật ra, Đại hội Đảng XIII là sinh hoạt của một hội kín thời phong kiến hay sứ quân. Mọi thông tin được xem là tuyệt mật, nên ai loan truyền ra bên ngoài là vi phạm, sẽ bị truy tố. Khi dân không biết thì ai có phương tiện kiểm tra hay đối chứng? Nguyên tắc Dân biết, Dân làm, Dân bàn và kiểm tra chỉ còn là một khẩu hiệu, không có hiệu lực ràng buộc.
Trong “không khí rộn ràng, vui tươi cho người dân cố đô nhân kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng Thừa Thiên Huế” và trong số “hàng nghìn người dân và du khách” ngắm nhìn “thành phố Huế lung linh trong sắc pháo hoa” (chắc) cũng không có mấy thân nhân liệt sĩ, cũng như thân nhân của những gia đình nạn nhân đã bị quí vị liệt sĩ trói tay rồi đập chết (mấy mươi năm trước) đâu.
Yêu thương - hai chữ nói dễ mà làm rất khó. Nếu trên trái đất này mọi người đều yêu thương, đùm bọc lẫn nhau, người này giúp đỡ người kia với trái tim chân thật, không còn ghen ghét, không còn thù hằn thì xã hội này tuyệt đẹp biết bao.
Với cơ chê này, việc cải tổ chính trị, thay đổi thế chế sẽ gặp hai trở ngại chính. Đó là sự cứng nhắc cùa ý thức hệ và thiếu vắng một người có đủ quyền lực và khả năng cải tô chính trị một cách dứt khoát như Tưởng Kinh Quốc ở Đài Loan, Khrushchev và Gorbachev ở Nga Xô.
Đại hội XIII của đảng Cộng sản Việt Nam, kết thúc ngày 01 tháng 02 (2021), đã tái bầu ông Nuyễn Phú Trọng, 77 tuổi, tự nhận “không được khỏe lắm” tiếp tục ngồi ghế Tổng Bí thư để kiểm soát quyền lực. Điều này cho thấy đang có khủng hoảng lãnh đạo ở Việt Nam.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.