Hôm nay,  

Tĩnh Lặng Vô Ngôn

17/01/200900:00:00(Xem: 7976)
TĨNH LẶNG VÔ NGÔN
Hạnh Chi
Bất cứ hành giả nào đọc, hay học qua kinh Duy Ma Cật, dù hiểu cạn hay sâu, ít nhất cũng có cảm nhận về cuốn kinh đại thừa này qua cái nhìn chung là "Tĩnh lặng vô ngôn. Tịch nhiên bất động."
Quả thật, toàn bộ cuốn kinh không trang nào không phảng phất làn hương trầm Bát Nhã của chiều sâu tâm thức. Ngay cả những cuộc viếng thăm  đông đảo của hàng Bồ Tát hay cảnh rực rỡ khi thiên nữ rải hoa vẫn biểu hiện cái uyên nguyên cực kỳ tĩnh lặng của "tâm không dính cảnh, dù cảnh chẳng rời tâm".
Mỗi khi chợt nghĩ đến Thầy, lòng tôi lại rộn lên niềm hạnh phúc của phút sơ tâm khi học kinh Duy Ma Cật, cái sơ tâm của trẻ con khi cố tìm ra lý luận để phản bác người lớn.     
Tôi không thoải mái chút nào khi kinh trình bày một người cư sỹ trí tuệ đến mức các đại đệ tử của Phật đều không dám đến gặp. Rồi khi ngài đệ nhất trí Văn Thù Sư Lợi đồng ý đi thăm bệnh Duy Ma Cật, đối đáp cùng nhau, đến chương cuối, trưởng giả hỏi các vị Bồ Tát thế nào là vào cửa Bất Nhị thì tôi chẳng thể đồng ý với ngài Văn Thù Sư Lợi chút nào!  
Có bị phạt quỳ hương hết bó nhang tôi cũng không nói khác được!
Làm sao mà sau khi nghe đủ hơn ba mươi vị Bồ Tát trả lời "Thế nào là vào cửa pháp Bất Nhị"", đến cuối cùng, ngài Văn Thù Sư Lợi hỏi trưởng giả Duy Ma Cật thì lại chỉ nhận được sự im lặng" Ấy thế mà cái sự im lặng đó lại được ngài Văn Thù tán thán: "Lành thay! Lành Thay! Cho đến không còn văn tự và ngôn thuyết mới thật là vào cửa Bất Nhị!"
Tới đây, tôi đã khởi ý nghi ngài Văn Thù Sư Lợi không công bằng cho lắm!       
Không biết vào thời mạt pháp này ngài có còn thỉnh thoảng hiện thân hành khất trên Ngũ-Đài-Sơn hay không" Nếu biết chắc ngài còn thương tưởng chúng sanh mà hóa hiện, tôi sẽ không quản ngại xa xôi, sẽ trèo đèo lội suối tới dẫy núi huyền bí kia, chờ gặp được ngài để bộc bạch nỗi ấm ức của mình.
Tất nhiên, tôi chẳng bao giờ có nổi cơ hội này.
Nhưng may quá, sau một lần nhập thất, thầy Tuệ Sỹ đã giải thoát cho tôi ra khỏi nỗi buồn tưởng là thiên thu bất tận này.
Lần nhập thất đó Thầy đã hoàn tất "Huyền thoại Duy Ma Cật", trong đó, ở chương "Cửa Vào Bất Nhị", Thầy đã nhẹ nhàng đặt bút:
"Trong đối thoại về Bất Nhị môn này, sự im lặng của Duy Ma Cật được nhận thức là cao nhất, là diễn tả tuyệt vời nhất về Bất Nhị. Nhưng, nhìn từ một hướng khác, nếu không có minh giải từ Văn Thù thì sự im lặng của Duy Ma Cật trở thành vô nghĩa! Cho nên, điều vi diệu ở đây là nói lên được cái không thể nói. Trước, sự  im lặng của Duy Ma Cật là diễn đạt của Văn Thù. Sau, sự im lặng của Duy Ma Cật cũng là sự diễn đạt của Văn Thù. Cả hai, Thánh-mặc-nhiên và Thánh-ngôn-ngữ đều cùng hiển thị một thực tướng duy nhất, là thực tướng ly ngôn…"
Thì ra, trưởng giả Duy Ma Cật tuy dùng sự im lặng, nhưng cũng phải có cái hữu-tướng mới có thể trình bày được cái vô-tướng; cũng như Văn Thù Sư Lợi, đã dùng ngôn-ngữ để giãi bày cái vô-ngôn.

Chúng sanh vô minh này xin sám hối cùng đại trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.
Con xin cảm tạ Thầy Tuệ Sỹ.
Thầy lại vừa nhập thất.
Không biết lần này Thầy nhập thất bao lâu nhưng tôi biết, từ nhiều thập niên, Thầy chỉ dùng bữa trưa với lưng chén cơm đạm bạc, sau đó, không gì thêm ngoài nước trà, cho đến trưa hôm sau. Ngay cả khi tứ đại bất an, chúng tôi xin Thầy dùng chút sữa thì Thầy nhẹ nhàng từ chối: "Sức khỏe tui, tui biết, các anh các chị làm sao biết được".     
Thế là huynh đệ chúng tôi có xót xa cũng đành mượn cách trả lời vào cửa Bất Nhị của Duy Ma Cật là im lặng!
Lần này, tôi may mắn được Thầy giảng giải cho dăm điều thắc mắc trong kinh Trường-A-Hàm trước khi nhập thất, vì sau đó, Thầy sẽ cắt đứt mọi thông tin, chỉ có thị giả là mỗi ngày còn được gặp Thầy dăm phút khi đưa cơm mà thôi.
Tôi đã về tới đường hẻm đó, đã bước lên những bực thang xi măng buốt lạnh dẫn tới hành lang heo hút đó, đã thấy căn phòng làm việc đơn sơ với chiếc võng con, bàn viết nhỏ, máy vi tính cũ kỹ và một kệ sách. Nơi ấy, từ nhiều thập niên qua, Thầy đã là biểu tượng của "Tĩnh lặng vô ngôn. Tịch nhiên bất động". Hoa thơm rải tới, hay bùn đất tạt vào cũng chỉ được đáp lại bằng tiếng gió lao xao thổi nhẹ qua những giò phong lan.
Phải chăng đó là hữu-tướng hiển bày vô-tướng, là hữu-thanh truyền đạt vô-thanh; như mặt trăng tịnh nhiên bất động giữa hư không nhưng ánh trăng vẫn tỏa chiếu muôn sông, muôn suối. Nơi nào nước trong sẽ thấy trăng tỏ, nơi nào nước đục sẽ chỉ thấy trăng mờ.
Những bài học bằng thân-giáo như vậy chẳng phải thời nào cũng có, nếu thế gian không quá đảo điên trầm thống; chén cơm cam lộ được xông ướp bằng hương đại bi của Như Lai từ cõi Phật Hương Tích chẳng phải thời nào cũng ban phát, nếu cơ duyên không tựu thành pháp hội Yêm-la.
Khó đến thế nhưng chẳng là thất vọng vì: "Pháp-thân vốn vô tướng  nhưng lại ứng hiện theo từng hình tướng đặc thù. Vần điệu chí cao thì vẫn không lời mà thư tịch huyền vi khắp nơi quảng bá" (*)  
Thầy đang nhập thất.
Thị-Ngạn-Am vẫn đó, gần, thật gần.
Nhưng những gì Thầy cưu mang và ấp ủ từ am thất nhỏ bé đó, đã và đang đi xa, thật xa. Từng đêm "Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn"(+)  đã hoàn tất những quà tặng đẹp đẽ cho đời, từ sáng tác tới dịch thuật. Đó là những trang cảo thơm Thắng Man Giảng Luận, Tô Đông Pha-Những Phương Trời Viễn Mộng, Giấc Mơ Trường Sơn, Trường-A-Hàm, Trung-A-Hàm, Tạp-A-Hàm, tuyển tập Nikàya A-Hàm, Triết Học Tánh Không, Thành Duy Thức Luận, Thiền Luận, Ngục Trung Mị Ngữ, Huyền Thoại Duy Ma Cật ..v…v..
 Mới hay, phương tiện được nhìn qua lăng kính Cư-trần-lạc-đạo có vẻ đơn giản nhưng thật ra chẳng đơn giản chút nào!
NAM MÔ CÔNG ĐỨC LÂM BỒ TÁT.
NAM MÔ ĐẠI TRÍ VĂN THÙ SƯ LỢI BỒ TÁT.
Hạnh Chi
(Độc-Cư-Am, tháng giêng 2009)
(*) Tăng Duệ, tựa kinh Duy Ma Cật
(+) Thơ TS

Tác giả của bộ phim Ván Bài Lật Ngửa, ông Trần Bạch Đằng (Bí Thư Thành Ủy Sài Gòn) qua đời vào năm 2007. Tuy thế, hơn 10 năm sau nhiều vị trí thức ở Thành Phố Hồ Chí Minh Quang Vinh vẫn tụ tập nhau lại để vinh danh ông là Kẻ Sĩ Nam Bộ bằng một tác phẩm cùng tên – dầy đến 400 trang.
chiều rớt/xanh/ lưỡi dao, tôi khứng! chờ ... mưa tới. Hai câu cuối trong bài “chiều rớt/xanh/lưỡi dao” anh viết cuối tháng 9/2019 như một lời giã biệt. Và, cơn mưa chiều 7.10.2019 đã tới, anh thay áo mới chân bước thảnh thơi trở về quê cũ. Xin từ biệt anh: Du Tử Lê!
Phát triển nền Kinh Tế Số Hóa là yếu tố quan trọng để hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Nền Kinh Tế Số Hóa phát triển vượt biên giới, kết nối toàn cầu. Một quốc gia nếu không phát triển nền Kinh tế số hóa, không thể tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Vì nền kinh tế số hóa có khả năng kết nối qua mạng, giới thiệu công ty, sản phẩm, dich vụ, cung cấp thông tin cho mọi quốc gia. Vì tầm vóc quan trong của nền kinh tế số hóa, chúng ta thử tìm hiểu và nghiên cứu bản chất của nền kinh tế này như thế nào?
Cuối năm, chính xác là vào ngày 18 tháng 12 năm 2019, FB Thanh Hieu Bui (hốt hoảng) báo động về một tai họa … đã hơi bị cũ: “Cái tin này mới đáng sợ này, đồng bằng Cửu Long là vựa lúa lớn nhất nước, chuyện này liên quan khủng khiếp đến đời sống nhân dân. Một trong những nguyên nhân là bọn Tàu Khựa nó lấy nước nguồn sông, khiến mực nước sông xuống thấp, nước mặn tràn vào.”
Kinh tế gia gốc Á-châu Richard Koo trong quyển Mặt Trái của Kinh Tế Vĩ Mô và Tương Lai của Toàn Cầu Hóa (The Other Half of Macroeconomics and the Fate of Globalization) nhận xét rằng một nền kinh tế thường trải qua 3 giai đoạn trong quá trình phát triễn: tiền công nghiệp, công nghiệp và sau đó là…bị rượt (pursued phase)!
Có ba sự kiện quan trọng đối với Việt Nam năm 2020, nhưng ánh sáng tương lai vẫn chưa lóe lên ở cuối đường hầm.
Ngày 9 tháng 11-1989, cột mốc lịch sử vô cùng quan trọng của châu Âu, của Cộng sản Liên Xô, của Đông Âu, của Chiến Tranh Lạnh–bức tường Đông Bá Linh sụp đổ! Ngay sau đó những biến cố to lớn của Âu châu nối tiếp nhau diễn tiến.
Ngày trước ông bà chúng ta được bố mẹ cho phép gặp nhau vài lần không có thông báo trước (arranged marriage), rồi lấy nhau cái rụp, rất giản dị; nhưng cơ hội sống với nhau cho đến răng long đầu bạc lại rất cao.
Có rất nhiều nghiên cứu về khoảng cách giàu nghèo ở Âu-Mỹ nhưng bài này chỉ chọn ra 2 giải thích được người viết xem như đáng chú ý nhất
Theo tôi hiểu,tôi lớn lên ở Việt Nam trong một gia đình khác với nhiều người. Tôi nhớ các mùa nghỉ hè bận rộn với các sinh hoạt cộng đồng, nhất là từ năm 1972 cho đến 1974.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.