Hôm nay,  

Phụ Nữ Và Khủng Bố

14/03/200900:00:00(Xem: 9853)

Phụ Nữ và Khủng Bố
Nguyễn Xuân Nghĩa

Các bà đã... gây ra khủng bố Hồi giáo"
Đầu tháng Ba này, chúng ta được biết kết quả một cuộc khảo sát về tỷ số nam giới tại Việt Nam. Rất lạ - mà cũng thường thôi! Nhưng nghĩ sâu hơn một chút thì có khi ta phải kết luận là chính các bà đã gây ra nạn khủng bố Hồi giáo mà không biết!
***
Tỷ số nam giới, hay "tỷ lệ giới tính", là một khái niệm được dịch từ "Sex Ratio". Xin mở ngoặc đơn để giải thích vấn đề rắc rối này.
Các bộ môn về sinh lý, nhân khẩu (hay dân số) học thường so sánh tỷ lệ của nam giới với nữ giới (hoặc... trống/mái) trong một xã hội của con người - hay súc vật. Hãy chỉ nói về con người thôi.
Khi nói "tỷ lệ giới tính là 105" - hoặc viết cho dễ hiểu hơn rằng "tỷ số nam giới là 105" - thì đấy là cách nói gọn, rằng vào một thời điểm nào đó, một xã hội nào đó có trung bình 105 người nam so với 100 người nữ. Nôm na thì đấy là số trung bình của đàn ông so với 100 người nữ. Dùng chữ "tỷ số" để dịch chữ "ratio" có thể là chính xác hơn "tỷ lệ" mà ta hiểu là "proportion".
Đi vào chi tiết thì ta biết có nhiều loại tỷ số nam giới: tỷ số khi thụ thai (primary sex ratio), tỷ số khi sinh đẻ (secondary sex ratio hay sex ratio at birth - SRB), tỷ số trong tuổi sinh đẻ (tertiary sex ratio) và tỷ số trong tuổi cao niên (quaternary, sau khi đã hết khả năng sinh đẻ)...
Bây giờ, mình đóng ngoặc đơn lại và kể lại chuyện Việt Nam.
***
Nếu tham khảo trang nhà www.plosone.org, ta có thể đọc được một báo cáo mới về tỷ số nam giới tại Việt Nam. Đại để thì tỷ số ấy có gia tăng như trong các xã hội Á Châu khác, nhưng tăng rất mạnh từ năm năm trở lại đây. Mạnh hơn các nơi khác trong khu vực.
Thông thường, người ta nghiệm thấy các xã hội có một tỷ số nam giới là 105, một ngưỡng sinh lý để duy trì khả năng sinh trưởng bình thường. Tại Việt Nam, tỷ số đó đã lên tới 108 vào năm 2005 và 112 vào năm 2006, cao hơn số trung bình một cách đáng kể và đáng ngại.
Chìm sâu dưới hiện tượng xã hội ấy là nhờ khoa học kỹ thuật hiện đại người ta đã có thể thăm thai và biết được giới tính của thai nhi là trai hay gái, rồi có một quyết định văn hoá lạc hậu - là vẫn trọng nam khinh nữ - nên phá thai nhiều hơn khi thấy bào thai là con gái. Hậu quả là tỷ số hài nhi thuộc nữ giới có giảm so với nam giới.
Hãy tưởng tượng rằng ở lúc thọ thai thì nam cũng như nữ, ta có tỷ số phân bố đều hoà của thiên nhiên hay Thượng đế. Nhưng ở lúc sinh đẻ thì người ta đã có quyết định tuyển chọn. Là loại bỏ con gái.
Nghĩa là Việt Nam đã bắt kịp nhiều xứ khác trong sự cải thiện lối sống nhờ tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhưng lại cực đoan hơn nhiều xứ khác trong sự tuyển chọn và đào thải những gì không thích. Kẻ đi sau thường quá khích hơn người đi trước và việc loại bỏ thai nhi nếu là bé gái là một dấu hiệu của sự tiến bộ ngược. Hiện tượng tiến bộ ngược ấy được thấy rõ nhất ở các tỉnh miền Bắc.
"Người Nam Việt đâu có kỳ như vậy!" câu hát đồng dao của trẻ em trong Nam sau năm 54 của thế kỷ trước - với tinh thầm châm biếm "Bắc kỳ di cư" - đang trở thành... hiện thực!
Hậu quả ra sao, đề mục kỳ này không đề cập tới. Xin một dịp khác!
Mình chỉ nói tới hiện tượng phổ biến trên thế giới, đó là khả năng hay quyền quyết định của phụ nữ. Hiện tượng ấy liên hệ tới khá nhiều vấn đề và có thể là một nguyên nhân đáng kể của... nạn khủng bố Hồi giáo.
Đáng kể mà ít ai chú ý!
***
Ít ai chú ý đến một tuyên ngôn của trùm khủng bố Osama bin Laden sau vụ tấn công Hoa Kỳ vào tháng Chín năm 2001.
Trong "Thư gửi nước Mỹ" vào năm 2002, bin Laden viết như sau: "Lũ chúng bay là một quốc gia đã khai thác phụ nữ như hàng tiêu dùng hay vật quảng cáo, để chiêu dụ giới tiêu thụ. Vì mục tiêu lợi nhuận, chúng bay dùng đàn bà để phục vụ hành khách, du khách và ngoại quốc. Rồi tự khoe là giải phóng phụ nữ."
Sau khi giết mấy ngàn người trong vụ khủng bố 9-11, bin Laden đưa ra một lý giải về hành động của mình. Nó liên hệ đến phụ nữ.
Các nhà bình luận về trận chiến giữa Hoa Kỳ và khủng bố của trào lưu Hồi giáo quá khích đã đề cập tới rất nhiều nguyên nhân về địa dư chiến lược hay ngoại giao chính trị mà lại... không chú ý đến phụ nữ, nên bỏ quên yếu tố "nữ quyền".
Khuynh hướng Hồi giáo quá khích chú ý đến điều họ gọi là giá trị truyền thống của gia đình.
Trong gia đình lý tưởng của họ, đàn bà là ở nhà chứ không ra ngoài, nếu có ra ngoài thì phải trùm đầu che mặt. Chuyện giao hợp chỉ có ở trong nhà cho mục tiêu truyền chủng. Hợp cấu ngoài hôn nhân hay bên ngoài gia đình là không chấp nhận được. Đàn bà mà ra khỏi nhà là dễ mời chào chuyện vô đạo.
Nói cho dễ hiểu: đàn bà chỉ có một chức năng là đẻ con cho chồng, cho gia đình và xã hội. Trước sau, chỉ có cái tử cung là đáng kể, và phải được kiểm soát chặt chẽ!
Hoa Kỳ là xứ tiên tiến nhất nên có tội nặng nhất. Đó là để phụ nữ đi làm, đi chơi, áo quần lại phong phanh khêu gợi và còn cổ võ cho nhiều điều trái ý Thượng đế. Thí dụ như không chồng mà chửa, hoặc có chửa rồi lại phá thai, còn ngang nhiên đòi kết hôn với một nàng đồng tính. Vì vậy, nước Mỹ bị đánh để làm gương, bị đánh vì tội đề cao nữ quyền và quảng bá cách mạng tình dục!
***
Thật ra, tự cổ chí kim, tôn giáo nào cũng có khuynh hướng kỳ thị hay áp chế phụ nữ, tùy theo mức độ mà thôi. Và tranh luận trong từng tôn giáo cũng có xảy ra, y như trong từng xã hội. Khuynh hướng bảo thủ nhất của Hồi giáo thì coi đó là chuyện sinh tử và kết tội xã hội phóng túng và ồn ào nhất là Hoa Kỳ.
Đấy là khía cạnh văn hoá của cuộc chiến khủng bố mà chúng ta ít chú ý.
Theo lý luận đó của Osama bin Laden, thì Hollywood có tội khi tung ra phim ảnh đồi trụy với phụ nữ hở hang áo quần, phóng đãng trong cách sống, hoặc khi đề cao tự do luyến ái, có con ngoài hôn nhân, hôn nhân đồng tính, v.v... Tội còn nặng hơn nữa là còn bổ nhiệm phụ nữ làm Ngoại trưởng hay Phụ tá Ngoại trưởng đặc trách thông tin tuyên truyền trong thế giới Hồi giáo (Condoleezza Rice và Karen Hughes). Như vậy, Tổng thống George W. Bush đã... cố tình khiêu khích al Qaeda. Ngày nay, Tổng thống Barack Oabma cũng thế! Các xứ khác cũng vậy, nếu cho đàn bà phong phanh áo quần bước ra khỏi nhà hoặc đưa họ lên tầng lớp lãnh đạo, làm Tổng thống, Thủ tướng hay Bộ trưởng, Tổng quản trị trên doanh trường, v.v...
Đấy là một sự điên khùng về văn hoá, nhưng là phản ứng có thật, đã gây ra cảnh tàn sát tập thể.
Nhưng trong chiều hướng đó, khủng bố Hồi giáo sẽ khủng bố... mệt nghỉ vì không cưỡng lại được một trào lưu phổ biến của xã hội con người.
Tất cả chỉ vì cái đồng hồ, và tấm lịch!
***
Chúng ta thường nghe các cụ mình nói "nữ thập tam, nam thập lục".
Hiểu cho hẹp thì đấy là tuổi có thể bước vào hôn nhân. Hiểu cho rộng thì loài người có khả năng sinh lý - và sinh sản - ở tuổi ấy, con gái 13 con trai 16. "Tuổi của nàng, tôi nhớ chỉ mười ba"... thi sĩ luôn luôn là người tinh ý nhất!
Hãy lấy cái tuổi 13 đó của phụ nữ mà tính: cứ nói cho gọn là thông thường, phụ nữ có khả năng sinh nở là từ 13 đến 43 tuổi. Ba mươi năm của một đời người mà tuổi thọ trung bình trong mấy chục thế kỷ thường chỉ ở khoảng năm chục. Nếu đếm lại cho nhanh thì ta thấy 60% thời gian sinh sống của phụ nữ là giành vào việc sinh đẻ, để gia đình và xã hội có thể tồn tại.


Nếu xét cho kỹ trong trường kỳ thì thời gian "lao động tình dục" cho mục tiêu truyền chủng và sinh tồn ấy có thể ngắn hơn nhờ khoa học kỹ thuật.
Trung bình, một người đàn bà thời... tiền công nghiệp - thế kỷ 18 về trước - thì có bảy tám con là thường. Các cụ còn có khuynh hướng.... đẻ nhiều hơn nhu cầu vì điều kiện kinh tế hay vệ sinh, dinh dưỡng không khả quan nên sinh con yểu tử là thường: đẻ tám đứa giữ được năm ba đứa là mừng. Trong ba chục năm tràn đầy sinh lực để sinh con mà phải đẻ chừng tám đứa, mà mỗi đứa cách nhau chừng năm rưỡi, thì các cụ mất 12 năm "labor intensive". Lỡ bị hư thai thì ngay sau khi hồi phục sẽ phải... đẻ bù.
Ngày nay đã khác.
***
Theo thống kê Liên hiệp quốc thì cách đây chừng bốn chục năm, tỷ lệ sinh đẻ trung bình của một phụ nữ là có 4,5 đứa con. Con số trung bình ấy còn sụt hơn nữa: trung bình của năm 2000 là 2,7 đứa. Thiên hạ tối dạ cứ dọa nhau về nạn nhân mãn, rằng loài người sinh sản nhiều quá. Sự thật đang xảy ra trái ngược một cách tất yếu: Liên hiệp quốc dự báo tỷ lệ sinh đẻ của phụ nữ vào năm 2050 là 2,05 một bà, thấp hơn con số tối thiểu để duy trì dân số như cũ là 2,1 (trung bình, các bà phải đẻ 2,1 đứa con thì dân số mới không giảm). Một thống kê khác của Liên hiệp quốc còn đưa ra con số tiên tiến hơn nhiều, mà đáng sợ hơn nhiểu: vỏn vẹn có 1,6 đứa con.
Và xã hội càng tiến bộ thì các bà càng đẻ ít hơn. Trung bình tại các xứ nhược tiểu, phụ nữ có ít con dần, từ 6,6 đưa nay xuống còn có 5,0 và sẽ chỉ còn 3.0 vào năm 2050 này.
Khi ấy, "ta sẽ làm chi đời ta"" Hãy nhìn vào tấm lịch hay đời sống của các bà.
****
Ngày xưa, phụ nữ ít được đi học. Chức năng sinh sản không cần kiến thức và càng có học thì càng... gây khó cho các ông. Ngày nay, nữ cũng như nam đều được đi học. Và đi học nhiều hơn.
Ngày xưa, 18 tuổi là coi như hoàn tất giáo dục, cấp tú tài là coi như trí thức có học và bắt đầu đi làm. Ngày nay, càng nhiều người đi học hơn, học lâu hơn và đi làm trễ hơn. Người ta lập gia đình cũng trễ hơn và sau khi lập gia đình, có con cũng chậm hơn.
Một người 25 tuổi mới bắt đầu đi làm, gần ba chục tuổi mới lập gia đình và sau đó vài năm mới có con đầu lòng. Đâm ra, quãng thời gian giành cho việc truyền chủng được thu hẹp trong một đời sống kéo dài hơn: từ 50, tuổi thọ trung bình ngày nay đã là hơn bảy chục, hoặc gần 80.
Trong khi ấy, nhu cầu tình dục chẳng những không giảm mà... coi bộ còn tăng!
Ái ân cho mục tiêu ân ái hơn là sinh đẻ đã thành bình thường và phổ biến. Người ta có thuốc ngừa thai, thậm chỉ khả năng phá thai, v.v... để chỉ phục vụ nhu cầu tình dục mà khỏi quan tâm đến chuyện sinh nở, đẻ con, hay nuôi con.
Tính trung bình cho một phụ nữ có hai con và có thể sống tới hơn tám chục tuổi thì thời gian giành cho sinh đẻ chỉ còn là hai lần chín tháng cách quãng chừng ba năm cho một đời sống tám chục. Rất ngắn, có một năm rưỡi cho cả cuộc đời tám chục, là 2% thời gian đời sống! Nếu có đẻ và nuôi con cho tới khi hai đứa con đến tuổi vào mẫu giáo thì trung bình chỉ mất tám năm, 10% thời gian của đời sống.
Thời giờ còn lại, họ làm gì, khi trí tuệ và sự hiểu biết đã gia tăng đáng kể"
Che mặt ngồi nhà hay sao"
***
Trong khuynh hướng chung như vậy của cả thế giới, chức năng của hôn nhân được mặc nhiên quan niệm lại. Ngày xưa, lấy vợ - hay lấy chồng - là để đẻ con rồi nuôi con. Ngày nay đa số thiên hạ không còn nghĩ như vậy nữa. Sự chuyển dịch dân số vì khoa học kỹ thuật đã làm thay đổi quan niệm văn hoá phổ biến về vai trò phụ nữ và hôn nhân. Đấy là động lực tự nhiên dẫn tới phong trào tranh đấu cho nữ quyền, trước khi những người như Bill Clinton hay George W. Bush được đóng tã.
Phụ nữ ngày nay có thế có quan hệ tình dục sớm như phụ nữ ngày xưa - yếu tố sinh lý của con người - nhưng có thể là quan hệ tình dục ngoài hoặc sau hôn nhân. Các bà mẹ độc thân không còn làm ai giật mình nữa.
Ngày xưa, phụ nữ chỉ có quyền giao hợp sau và trong hôn nhân mà thôi. Ngày nay, phụ nữ có thể có chồng - hay không - đôi khi còn có nhiều đời chồng tiếp nối trong một quãng đời ngày càng xông xáo trong xã hội. Và chuyện ái ân khi nào hay với ai là chuyện riêng tư - quyền riêng tư - của phụ nữ.
Đâm ra phụ nữ đang đe dọa những tín điều cổ điển hay "truyền thống" của nhiều xã hội hay tôn giáo - từ Khổng giáo đến Hồi giáo!
Và làm Osama bin Laden nổi điên. Hoa Kỳ bị tấn công... oan uổng vì một trào lưu toàn cầu!
****
Phụ nữ chiếm phân nửa dân số thế giới - hơn phân nửa một chút nhờ tuổi thọ trung bình cao hơn nam giới. Trong phân nửa đó, có một thành phần ngày một đông hơn đang phá vỡ khuôn sáo cũ, chẳng phải vì muốn khiêu khích đức Thánh Khổng hay Allah. Xã hội càng tiến bộ và càng có học thì thành phần này càng đông, khác hẳn đa số phụ nữ trong các xã hội cổ điển, chưa phát triển hay còn nằm trong trạng thái nông nghiệp.
Hãy tưởng tượng đến phụ nữ tại Sàigon và Thái Bình thì ta suy ra trào lưu đó. Bây giờ, phụ nữ tại Thái Bình đã trở thành "văn minh" hơn, biết ngừa thai và thậm chí phá thai có chọn lọc, còn tiên tiến hơn phụ nữ Sàigon, thì ta hiểu ra sự chuyển động âm thầm mà mãnh liệt của tâm lý hay văn hoá con người.
Nói thêm cho gần, ngay trong xã hội Hoa Kỳ, phụ nữ bình dân tại các tiểu bang "bảo thủ" hoặc sùng đạo tại miền Nam cũng có thái độ sống gẫn gũi với truyền thống cổ điển, khác phụ nữ có học tại các tiểu bang Đông Bắc hay miền Tây nước Mỹ. Họ lập gia đình sớm hơn, có con nhiều hơn và sống "kỷ cương" hơn. Nhưng thành phần này sẽ ít dần trong tỷ lệ dân số và sẽ ảnh hưởng tới lá phiếu và chính trường Mỹ trong lâu dài.
Chuyện ấy cứ mặc nhiên xảy ra, trước sự hậm hực của bin Laden hay các đấng đàn ông vẫn luyến tiếc thời vàng son của cảnh "chồng chúa vợ tôi", khi một ông có quyền đa thê còn các bà thì bị gọt đầu bôi vôi, hay trả bè trôi sông. Hoặc bị ném đá cho tới chết!
Cho nên, ngay trong từng xã hội, ta thấy nảy sinh mâu thuẫn "mới/cũ", thể hiện thông tin, tuyên truyền, tranh luận và tranh cử. Nước Mỹ cũng thế mà thôi. Nhưng vì là một xã hội trẻ và cởi mở, nhiệt tình đổi mới của Hoa Kỳ làm nhiều bậc thức giả cổ điển hay bảo thủ lo sợ, khó chịu và họ liên tục cảnh giác về thời "mạt pháp", luông tuồng, phóng túng, sa đọa.
Ít ai trong xã hội đó lại để ý tới phản ứng hãi sợ và bất mãn của một nhóm người sống trong hang đá, những tay lý luận thuộc xu hướng Hồi giáo cực đoan. Đấy là những kẻ khủng bố và đánh nước Mỹ vì tội giải phóng phụ nữ.
Thật ra, không ai trong nước Mỹ lại cố tình phát huy nữ quyền hoặc cổ võ cho hôn nhân đồng tính chỉ vì mục tiêu... đả phá Hồi giáo - hoặc bất cứ tôn giáo nào. Nhưng một thiểu số Hồi giáo cực đoan lại suy luận theo kiểu duy tâm chủ quan ấy, mà kết tội nước Mỹ.
Trước sự thờ ơ của... các bà! Mà chính là các bà tiên tiến nhất trong trào lưu này, những tiếng nói ồn ào nhất trong đảng Dân Chủ Hoa Kỳ, cũng lại kết án nước Mỹ về tội khiêu khích Hồi giáo và gây ra phản ứng khủng bố!
Tội quá!

Tôi yêu những nông dân thôn Hoành, tôi yêu những nông dân Dương Nội. Yêu cái hồn của đất – nơi con người đang phải đối mặt với phong ba bão táp; nơi con người bước trên nghịch cảnh bằng sự cao quý và khí phách của riêng mình. Tôi có một niềm tin vững chắc rằng lòng tử tế và sự dũng cảm của họ sẽ lan toả và lan rộng.
Từ Văn phòng Viện Tăng Thống, tuy chỉ tồn tại trên danh nghĩa, trong phận sự bảo trì ấn tín của Viện Tăng Thống, kế thừa tâm nguyện của Đức Đệ Ngũ Tăng Thống qua phú chúc di ngôn của Ngài trước ngày thị tịch; chúng tôi trên nương tựa uy đức Tăng già và đạo lực gia trì của Chư tôn Trưởng lão, kính gởi đến Chư tôn Hòa Thượng, Chư Thượng tọa, Đại đức Tăng-già nhị bộ, cùng tất cả bốn chúng đệ tử, tâm nguyện Bồ-đề được thể hiện qua các kỳ họp đã nêu, ước mong tất cả bằng Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành, bằng đức lực, trí lực, và tài lực, với hằng tâm và hằng sản, đồng tâm nhất trí góp phần công đức vào sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh mà Chư Thánh Đệ tử, Lịch đại Tổ sư, bằng hùng lực và trí tuệ, bằng từ bi và nhẫn nhục, khoan dung, trải qua vô vàn gian nan chướng duyên trở ngại, đã mang ngọn đèn chánh pháp đến những nơi tăm tối, cho những ai có mắt để thấy, dựng dậy những gì đã sụp đổ, dựng đứng những gì đang nghiêng ngả.
Ngày Phật đản sanh là ngày vui, ngày thiêng liêng và trọng đại của nhân loại. Dù là với truyền thống nào, tông môn pháp phái nào, dù ở quốc độ nào… Người con Phật cũng đều hoan hỷ và thanh tịnh thân tâm để tưởng niệm đức Phật.
Thì tôi cũng nói cho hết lẽ như thế. Chớ bao nhiêu lương dân ở Văn Giang, Dương Nội, Thủ Thiêm, Lộc Hưng… đang sống yên lành mà Đảng & Nhà Nước còn có thể nhẫn tâm biến họ thành những đám dân oan (vật vã khắp nơi) thì cái chính phủ hiện hành có xá chi đến những khúc ruột thừa ở Cambodia.
Bàn về kinh tế không thể không nhắc đến tiền. Tiền không mua được hạnh phúc nhưng không có tiền thì…đói. Tiền mang lại tự do (có tiền mua tiên) hay biến con người thành nô lệ đồng tiền. Con nít lên 3 đã biết tiền dùng để mua bánh kẹo, vậy mà các kinh tế gia giờ này vẫn không đồng ý chuyện tiền để làm chi!
Sau ngày 30/4/1975, nếu phe chiến thắng đã có những chính sách mang lại sự hoà giải quốc gia, đối xử nhân bản với bên thua trận, thay vì cải tạo học tập, càn quét và thiêu huỷ văn hoá miền Nam, đánh tư sản mại bản, thì đã không có hàng triệu người bỏ nước ra đi và người Việt sẽ chẳng mấy ai còn nhớ đến một đất nước của quá khứ, tuy chưa hoàn toàn tự do dân chủ nhưng so với Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì người dân đã được tự do hơn bây giờ rất nhiều.
Tất nhiên phải “thành công” vì đảng một mình một chợ, không có ai cạnh tranh hay đòi chia phần. Nhưng việc đảng chọn cho dân bầu chỉ để tuyên truyền cho phương châm “ý đảng lòng dân”, trong khi người dân không có lựa chọn nào khác mà buộc phải đi bỏ phiếu để tránh bị làm khó trong cuộc sống.
Âm nhạc dễ đi vào lòng người, với hình bóng mẹ, qua lời ca và dòng nhạc, mỗi khi nghe, thấm vào tận đáy lòng. Trước năm 1975, có nhiều ca khúc viết về mẹ. Ở đây, tôi chỉ đề cập đến những ca khúc tiêu biểu, quen thuộc đã đi vào lòng người từ ngày sống trên quê hương và hơn bốn thập niên qua ở hải ngoại.
Những bà mẹ Việt xưa nay rất chơn chất thật thà, rất đơn sơ giản dị cả đời lo cho chồng con quên cả thân mình. Sử Việt nghìn năm đương đầu với giặc Tàu, trăm năm chống giặc Tây. Những bà mẹ Việt bao lần âm thầm gạt lệ tiễn chồng con ra trận, người đi rất ít quay về. Những bà mẹ âm thầm ôm nỗi đau, nỗi nhớ thương da diết.
Trước công luận, Eisenhower lập luận là cuộc chiến không còn nằm trong khuôn khổ chống thực dân mà mang một hình thức chiến tranh ủy nhiệm để chống phong trào Cộng Sản đang đe doạ khắp thế giới. Dân chúng cần nhận chân ra vấn đề bản chất của Việt Minh là Cộng Sản và chỉ nhân danh đấu tranh giành độc lập cho Việt Nam; quan trọng nhất là phải xem ông Hồ chí Minh là một cánh tay nối dài của Liên Xô. Đó là lý do cộng đồng quốc tế cần phải tiếp tục hỗ trợ cho Pháp chiến đấu.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.