Hôm nay,  

Thảm Sát Hãi Hùng

22/04/200900:00:00(Xem: 11638)
THẢM SÁT HÃI HÙNG
Nguyễn Lộc Yên
 Ngày 1 tháng 4 năm 1975, tỉnh Phú Yên bị thất thủ, có rất nhiều anh em Sĩ quan, Công chức, cán bộ Xây dựng nông thôn, Cảnh sát...  của Miền Nam lâm cảnh hung hiểm. Việt cộng mong muốn hãm hại thành phần Sĩ quan hoặc Công chức cao cấp của Việt Nam cộng hòa và thành phần đảng phái Quốc gia đối lập với đảng Cộng sản. Tại tỉnh Phú Yên có nhiều người theo đảng Đại Việt, bởi lẽ đảng trưởng là chí sĩ Trương Tử Anh (1914-1946), quê Hiếu Xương (nay là Tuy Hòa), tỉnh Phú Yên, có lẽ từ đấy mà ảnh hưởng đến nhiều người nơi địa phương này, những ai sinh sống nơi đây, có lòng nhiệt huyết vì quốc gia dân tộc, đã vào đảng Đại Việt theo tiếng gọi chống Cộng cứu nước, mặc dù họ chỉ là Cán bộ Xây dựng nông thôn, Cảnh sát hay thường dân.
 Sau mấy ngày gọi là "giải phóng", chính phủ "cắt mạng" tại địa phương đến bắt bớ hoặc kêu gọi đích danh, gồm 125 người đi học tập, trong số ấy có sĩ quan, cảnh sát, xây dựng nông thôn, ấp trưởng... mà đa số là những người đảng viên của Đại Việt, trình diện tại tỉnh Phú Yên, để học tập với thời gian ngắn hạn.
Người viết được một người sống sót trong vụ thảm sát, anh ngậm ngùi kể lại: "Nghe đi học tập thời gian ngắn hạn, tôi lật đật lấy đồ dùng cá nhân, không quên đem theo lưỡi lam để cạo râu. Râu của tôi dài, chưa cạo được, vì mấy ngày lo trốn tránh. Sợ râu ria xồm xoàm họ ghét, nên vừa đến tỉnh, trong khi ngồi chờ đợi thì tôi cạo râu ngay.
Sau đấy, mọi người được dẫn đến Núi Đất thuộc xã Hòa Định, quận Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên (gần mương dẫn thủy số 1, gần nơi Lù Đôi), tay bị trói chặt phía trước và cột lối xâu chuỗi, từ tay người này đến tay người kia.
 Tôi nhớ, đêm đó là vào khoảng đêm ngày 3 tháng tư năm 1975 (22 tháng 2 năm Ất mão), nên trời không trăng, những ánh sao xa xăm trông lờ mờ, vì vậy cả vùng núi đồi nơi đấây như bóng đen bao trùm vạn vật. Chúng đã dùng súng trung liên và AK bắn xối xả. Tôi đứng gần sau chót, mặc dù chưa bị trúng đạn, nhưng tôi ngã người xuống đất để cầu may sống sót, những anh em bị trúng đạn, tiếng la thảm thiết, thân xác ngã chồng chất lên mình tôi, máu me chảy lênh láng, chúng bắn liên tục khoảng một tiếng đồng hồ mới xong việc thảm sát này. Thời gian bắn giết kéo dài khoảng một tiếng đồng hồ, là vì sự bắn giết do du kích thực hiện, nên chỉ có súng trung liên và AK.

Tôi nghe chúng nói với nhau, tất cả mọi người đều bị bắn chết sạch rồi, bây giờ chúng ta đi tìm kiếm đồng hồ và lục lọi bóp (ví). Nghe vậy, sợ bọn chúng biết tôi còn sống sẽ bắn bồi, nên dùng lưỡi lam cắt dây trói, bỏ chạy. Chúng bắn theo, tôi bị trúng đạn ở đùi, nhưng nhờ trời tối tăm, nên trốn được. Trời ơi! Sau mấy ngày thân nhân của anh em bị thảm sát mới hay biết, tìm đến nơi thấy cả một đống thân người chết chồng chất, những thân xác chết nằm ở bìa ngoài bị khô đét thật thảm thương! Họ phải tỉ mỉ tìm tòi từng chân răng kẽ tóc, hoặc dấu vết đặc biệt của người quá cố, mới biết ai là người của gia đình bị thảm sát nơi này.
Tôi còn nhớ tên một số người bị thảm sát:
-  Ông Nguyễn Khánh, chủ tịch xã Hòa Thắng
-  Ông Nguyễn Phúc (em ông Khánh), trưởng ban quân xa ty Cảnh sát Phú Yên
-  Ông Trung úy Nguyễn Văn Nê là cuộc trưởng thị xã Tuy Hòa
-  Ông Nguyễn Phương (rể ông Khánh) là cuộc phó xã Hòa Đa
-  Ông Châu Văn Hiển là Cảnh sát viên ty Cảnh sát Tuy Hòa
-  Ông Nguyễn Hai là Cán bộ Xây dựng nông thôn
-  Ông Ngô Văn Bộn là Cán bộ Xây dựng nông thôn...
Thảm thiết thay gia đình ông Nguyễn Khánh, bị thảm sát bốn người một lúc.
Ngoài ra, trong số sát thủ trong đêm thảm sát hãi hùng, tôi còn nhớ tên một người du kích là: Nguyễn Công Chánh".
Trong thời gian xảy ra đêm thảm sát hãi hùng này, lúc ấy người viết đã bị Việt cộng bắt giam ở một nơi khác gọi là Tam Giác Sốt (3 hòn núi chụm lại, chính giữa có một con suối cạn, ai vào đây một tuần là bị bệnh sốt rét ngay, mỗi ngày trung bình một người bị chết vì sốt rét xuất huyết, nơi này thuộc quậân Sơn Hòa. Ơ Ûđây giam giữ các sĩ quan VNCH, đa số là bị bắt trong cuộc di tản từ cao nguyên, trên liên tỉnh lộ 7B). Lúc ấy người viết ở trong tù có nghe nhưng thiếu tin tức chính xác về vụ thảm sát, mãi cho đến nay người viết được nghe người còn sống sót kể lại vụ thảm sát ấy, nên nhân dịp 30 tháng tư đen năm 2009, người viết xin tường trình, nếu sau này có thêm chi tiết khác sẽ xin bổ túc. Việc tường trình này là để cho đồng bào thấy được một sự trả thù dã man và hèn hạ của kẻ luôn tráo trở "chính sách khoan hồng của cách mạng".
Không biết bà con đồng hương nghĩ sao về vụ thảm sát này" Riêng người viết nghiêng mình kính cẩn tiếc thương những người quá cố, để thắp nén hương lòng, người viết xin trân trọng gởi vài vần thơ chia sẻ cùng thân nhân và tưởng niệm người quá cố.
Nước nhà "giải phóng" giải gì đây"!
 Nòi giống tương tàn đau đớn thay!
 Lang sói xuống đồng, gây thảm thiết
 Đồng bào vượt biển, chịu chua cay
 Bóng hình người mất, luôn nhung nhớ
 Dân chúng sống còn, mãi đọa đày
 Hồn hởi phiêu diêu miền cực lạc!
 Anh linh phù hộ nước non này!
Nguyễn Lộc Yên, Tháng Tư - 2009

Nhưng vấn đề không đơn giản như họ nghĩ để buộc người miền Nam phải làm theo vì không còn lựa chọn nào khác. Trong 45 năm qua, ai cũng biết nhà nước CSVN đã đối xử kỳ thị và bất xứng với nhân dân miền Nam trên nhiều lĩnh vực. Từ công ăn việc làm đến bảo vệ sức khỏe, di trú và giáo dục, lý lịch cá nhân của người miền Nam đã bị “phanh thây xẻ thịt” đến 3 đời (Ông bà, cha mẹ, anh em) để moi xét, hạch hỏi và làm tiền.
Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.