Hôm nay,  

Bi Kịch Tây Tạng

10/03/200700:00:00(Xem: 11262)

Bi Kịch Tây Tạng

Trong một thế giới đóng kịch, dân Tây Tạng lại sống rất thực...

DHARAMSALA - Ngày hôm nay, Thứ Bảy mùng 10 tháng Ba, người dân Tây Tạng có một sinh hoạt đặc biệt.

Họ kỷ niệm ngày nổi dậy của dân Tây Tạng tại thủ đô Lhasa - mùng 10 tháng Ba năm 1959 - khi Trung Quốc đưa quân từ các tỉnh miền Đông, mà họ đã chiếm đóng từ 10 năm trước, tấn công Lhasa và đặt ách cai trị từ đó cho đến nay.

Từ hôm trước, nhiều xe phóng thanh đã len lỏi trên các đường dốc của Lhasa về lễ kỷ niệm nay. Thật ra, những bích chương biểu ngữ nhắc nhở biến cố đau buồn trên đã xuất hiện từ nhiều ngày trước. Xe phóng thanh - những chiếc xe con cóc nhỏ xíu - chỉ bắc loa kêu gọi từ sau ba rưỡi chiều. Trước đó, hầu như cả thị trấn Dharamsala chỉ thấy vang vọng lời thuyết giảng của đức Đạt Lai Lạt Ma trong khoá dạy của Ngài, bắt đầu từ mùng ba.

Từ ngôi đền thờ chính, nằm đối diện với "Cung điện" của Chính phủ Lưu vong Tây Tạng và nơi nghỉ ngơi của đức Đạt Lai Lạt Ma, người Tây Tạng đã bắc loa truyền thanh bài giảng của Ngài. Nhưng, tân kỳ hơn thế, người ta còn phóng lời cầu kinh và những giải thích về Phật pháp của đức Đạt Lai Lạt Ma lên băng tần FM.

Nhà nào trong khu vực cũng có thể bật radio lên nghe và dân Ấn Độ cũng vậy, vì lời giảng được trực tiếp phiên dịch ra Anh ngữ và nhiều thứ tiếng khác.

Cho tới khi khoá giảng trong ngày kết thúc, xe phóng thanh bắt đầu xuất hiện và nhắc đến ngày 10 tháng Ba. Và tối thứ Sáu, nhiều nơi đã có chiếu phim hoặc băng hình về cuộc nổi dậy 1959, và về những vụ đàn áp khác đã xảy ra tại Tây Tạng trước sự thờ ơ của thế giới.

Thế giới loài người có biệt tài.... đóng kịch!

Từ hơn ngàn năm nay, dân Tây Tạng đã có một sự chuyển hoá... đầy lợi hại nhờ Phật giáo. Tây Tạng từ bỏ chiến tranh, và hoàn toàn mưu cầu hoà bình theo lời Phật dậy. Ấy là mặt "lợi" nhìn từ đạo pháp. Mặt "hại" là xứ này không có khả năng tự phòng vệ trước những sức mạnh vốn không coi đạo pháp là gì!

Trong lịch sử Tây Tạng, có hai đế quốc đã triệt để khai thác điều ấy và làm thế giới bị lầm lạc về Tây Tạng. Trước hết là đế quốc Anh, kế tiếp là Trung Quốc. Hai xứ này tự coi là và được thế giới tưởng như là hai quốc gia am hiểu nhất về Tây Tạng. Và họ đóng kịch rồi cho cả thế giới vô tình đóng theo cùng một vở.

Năm 1904, cách đây trăm năm, đế quốc Anh nhòm ngó Tây Tạng nhưng không muốn đế quốc Nga xía vào cuộc chơi lớn này (the "Great Game" theo các nhà địa dư chính trị học) và cũng không muốn đế quốc Mãn Thanh mất lòng. Họ trình bày cho thế giới rằng Tây Tạng là một đất phụ dung của Trung Quốc. Nhưng, về thực chất, họ biết Tây Tạng là một xứ độc lập, có chủ quyền, nên ký kết những thỏa ước riêng với Lhasa.

Vừa độc quyền khai thác quan hệ song phương với Tây Tạng, vừa cho nhà Mãn Thanh uống nước đường về một tư thế không hề có tại Lhasa, họ vừa củng cố được vị trí của mình tại Hong Kong! Chuyện thiên hạ đại thế - geopolitics - của Anh vì vậy là một hài kịch.

Trung Quốc dưới triều Đại Thanh cũng biết rõ bài bản của vở kịch hơn ai hết.

Y như Thiên triều Bắc Kinh đối với Việt Nam thời xưa, họ biết rõ Tây Tạng không phải là chư hầu, một nước phụ dung hay trực trị. Họ hưởng cái hư vị của một đại cường có ảnh hưởng mà chẳng có thẩm quyền gì về thực tế.  Lý do là dân Tây Tạng luôn luôn nghĩ mình là người Tây Tạng, không hề là và không muốn là người Trung Hoa, hay thần dân của nhà Mãn Thanh.

Trước đó cũng thế, họ nhập nhằng gọi xứ này là Tây Tạng và giải thích chữ "Tạng" là tàng, là kho báu ở miền Tây - của Trung Quốc. Một kho báu họ với không tới vì ở quá xa và quá cao.

Đến khi Cộng sản Trung Hoa xuất hiện với Mao Trạch Đông, Trung Quốc trở nên thực tiễn hơn các Hoàng đế phong kiến thời xưa. Vừa chiếm được Hoa lục, Mao liền xua quân chiếm miền Đông Tây Tạng, với khẩu hiệu sau này trở thành quen thuộc: "giải phóng".

Trước là giải phóng Tây Tạng khỏi chế độ phong kiến lạc hậu, sau - năm 1959 - là giải phóng Tây Tạng khỏi sự xâm lăng của "đế quốc", dù khi đó Lhasa chỉ có chừng tám học giả hay các nhà nghiên cứu Tây phương đang tìm hiểu về xứ sở huyền bí này!

Dân Tây Tạng vốn đã từ bỏ việc đao binh từ lâu nên không thể đương cự nổi. Và từ 1959, hơn một triệu dân Tây Tạng đã được giải phóng khỏi kiếp sống. Nôm na là bị giết, bị đấu tố đến chết. Và đền đài hay kho báu Phật giáo của họ bị phá tan.

Giết người chưa đủ, họ muốn thủ tiêu luôn nền văn minh Tây Tạng và tiến hành cải tạo văn hoá, tư tưởng. Họ đưa bảy triệu người Hoa vào sống với sáu triệu Tạng dân và đang biến dân Tây Tạng thành người Hoa. Họ khai thác tài nguyên hết sức phong phú của xứ này, và từ 1987 mới "trả lại" chút đỉnh, chừng 5% theo ước tính của giới lãnh đạo Tây Tạng, bằng hệ thống cầu đường - và gọi đó là "hiện đại hóa".

Cách đây hơn nửa thế kỷ, nhân loại đã ngoảnh mặt làm ngơ khi chín triệu người Do Thái bị Đức quốc xã sát hại. Ngày nay, sáu triệu người Tây Tạng sẽ không bị đẩy vào lò hỏa thiêu - nhân loại vốn đã văn minh hơn - nhưng di sản văn hoá và tôn giáo của họ đang bị tiêu diệt. Và họ có thể bị biến chất trước sức mạnh vật chất của một đế quốc quái quỷ.

Nhìn trên toàn cảnh như vậy, người ta mới thấy ra vị trí của đức Đạt Lai Lạt Ma và vai trò của người Tây Tạng lưu vong.

Trong lễ kỷ niệm ngày hôm nay, vị lãnh đạo tinh thần Tây Tạng sẽ có một thông điệp nhắc nhở, kế tiếp là bài diễn văn của vị Thủ tướng Chính phủ Lưu vong Tây Tạng.

Còn lại, thế giới có muốn tiếp tục là đồng lõa cho vở bi kịch Tây Tạng không" Lòng tham - một thị trường đông dân nhất thế giới - và sự khiếp nhược - ai dám đụng vào cái vảy ngược của con rồng - là những cám dỗ rất lớn!

Chỉ có dân Tây Tạng là không chịu sống trong vở kịch đó. Đáng kính vô cùng!

Ngày nay Đại Lễ Vesak (Hợp nhất của ba ngày Đản Sinh, Thành Đạo và Nhập Diệt) của Đức Phật đã được Liên Hiệp Quốc công nhận. Trong ngày lễ này, Tổng Thư Ký LHQ, các vị nguyên thủ quốc gia, các giới chức chính quyền cao cấp tại những quốc gia Phật Giáo, hoặc tham dự hoặc gửi điện văn chúc mừng, chiêm bái tự viện, viếng thăm hoặc dâng hoa cúng dường chư tăng ni và Lễ Hội Phật Đản đã được quần chúng tổ chức trang nghiêm, cung kính.
Nhung các đối thủ (Nga, Tàu) hay đối tác (Âu) không chịu thua mà tìm đủ mọi cách phá vỡ vòng kim cô USD để tránh bị phong tỏa kinh tế lại điểm trúng tử huyệt của nền trật tự tự do toàn cầu (liberal world order) do Mỹ gầy dựng trên nền móng USD. Giải pháp nào sẽ hất ngã USD trong khi cả NDT lẫn Euro đều còn ít đáng tin hơn USD? Dưới đây là vài phỏng đoán thay vì dựa trên chứng cớ vững vàng. Giữa Trung Quốc, Nga và Iran đều thiết lập những đường dây hoán đổi ngoại tệ (currency swap) mà không thông qua hệ thống ngân hàng Mỹ. Thí dụ Iran bán dầu thu vào NDT rồi dùng NDT nhập cảng máy điện toán từ Trung Quốc (với điều kiện các máy điện toán này không chứa đựng bản quyền Mỹ trong đó.) Ngân hàng Iran có thể đổi trước một lượng tiền nội địa ra NDT dự trữ giao dịch mà không cần chờ đợi phải thu NDT từ bán dầu mới mua hàng Trung Quốc.
Nơi trạm xe buýt cuối ngày, chuyến xe cuối cùng chuẩn bị lăn bánh. Những người đến trễ và những người muốn ngủ lại nơi băng ghế chờ đợi, sẽ bị bỏ lại. Cơ hội tái diễn cho một chuyến xe khác, có thể là ngày hôm sau. Nhưng hôm sau, nào ai đoán được chuyện gì sẽ xảy ra. Người ta cần phải bước qua, bỏ lại lịch sử phía sau, bằng không sẽ bị bỏ lại bên lề lịch sử.
Cùng thời điểm, các nước trong vùng như Ấn độ, Mã lai, Phi luật tân,...bị Tây phương đô hộ, đều lần lược thu hồi độc lập, tổ chức đất nước theo thể chế tự do dân chủ và nhờ đó, đất nước phát triển mà không phải có hơn 10 triệu dân chết oan uổng như Việt nam. Chỉ vì họ không có hiện tượng Hồ Chí Minh!
NHững người trẻ sẽ không còn là “không chịu lớn.” Họ đã trưởng thành trong suy nghĩ của riêng họ. Và khi phải xuống đường bày tỏ những ước muốn của mình. Họ biết họ phải làm gì. Không thể nào ai đó bảo họ phải làm cái này hay phải làm cái kia. Họ không còn cần phải có lãnh tụ. Đất nước cần những con em như thế.
Hiệp Định Geneve, cũng như Hiệp Định Paris, đối với Bác và Đảng – rõ ràng – đều chỉ là một mớ giấy lộn. Tổng Tuyển Cử (1956) hay Đình Chiến (1973) cũng thế. Hoà bình là từ ngữ không hề có trong tự điển của những người cộng sản. Họ nhất định phải nhuộm đỏ hết cả nước VN (bằng mọi giá và mọi cách) thì mới thoả lòng.
Lần đầu tiên tôi đi thăm Huynh Trưởng Huy Phương đang bệnh già. Đây là chuyến "thoát ly" đặc biệt sau hơn một năm tự giam mình. Trong suốt thời gian Huynh Trưởng bị bệnh, nằm nhà thương dài dài trong bao nhiêu ngày có đại dịch, tuy không phải bị con virus mắc dịch hành hạ, nhưng là một bệnh ngặt nghèo phát sinh theo tuổi tác.
Mùa an cư năm nay không có Thông Điệp giáo giới của Tôn Sư Tòng lâm Tông tượng sách tấn bốn chúng như pháp như luật hành trì. Những tiếng kêu của lừa dê chồn cáo không thay thế được tiếng rống của sư tử chấn động ma quân. Vậy, không gì hơn chúng ta cùng đọc lại “Huấn thị an cư Phật lịch 2548” của Đức Đệ Tứ Tăng Thống Trưởng lão Hòa thượng Thích Huyền Quang. Huấn thị không nói gì nhiều hơn ngoài những kim ngôn Thánh giáo mà Đức Thích Tôn đã truyền dạy trên 25 thế kỷ. Tụng đọc và suy niệm kỹ.
Nhìn chung, vấn đề hoàn toàn bế tắc khi cả hai phe đều vi phạm pháp luật, tận dụng bạo lực để duy trì mọi yêu sách và không có thiện chí hiếu hoà để giải quyết tranh chấp. Các nỗ lực quốc tế, đặc biệt nhất là qua nhiểu tổng thống Mỹ, không mang lại kết quả. Các chương trình viện trợ tái thiết của các định chế quốc tế không tô điểm cho cuộc sống của dân chúng tốt đẹp hơn. Tình trạng thảm hại chung là thực tế đau thương.
Càng lớn tuổi, tôi càng tin vào thuyết Nhân Quả của nhà Phật, người nào làm việc xấu thì gặp việc xấu đến, người nào làm việc tốt thì mọi sự tốt lành sẽ đến. Sống làm sao được bình yên trong tâm hồn là đủ, giàu nghèo sang hèn đâu có gì quan trọng, sống mình biết đủ là đủ. Hãy nhìn tính tốt của người khác, người nào cũng có tính tốt, tại chúng ta không nhìn thấy mà thôi?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.