Hôm nay,  

Đóa Hoa Mùa Vu Lan

09/08/200800:00:00(Xem: 10079)

Nhạc sĩ Trần Chí Phúc cảm xúc mùa Vu Lan, mời nghe nhạc Vu Lan ở www.tranchiphuc.com.

Năm 1983, hồi còn ở thành phố Calgary, Canada, người Việt ở đây khỏang chục ngàn và có Hội Phật Giáo Việt Nam Calgary. Mỗi chủ nhật, Hội tổ chức lễ tụng kinh tại một hội trường thuê, chứa được khỏang hai trăm người.

Một ngày nhân mùa Vu Lan, có tổ chức lễ bông hồng cài áo. Nhìn một số cụ già mắt đẫm lệ khi được cài bông hồng trắng lẫn bông hồng đỏ, tôi vừa xúc động vừa ngạc nhiên. Và tôi hiểu ra rằng những cụ già kia đang nhớ mẹ của họ, lúc đó họ trở thành đứa bé trong tâm tưởng đối với người mẹ đã khuất. Cho dù cánh hoa hồng đỏ do đứa con đang có mặt cài lên tặng để kính trọng tình mẫu tử, nhưng niềm vui kia không đủ lấn át nỗi buồn.

Hội thực hiện đặc san và nhờ tôi viết một ca khúc. Tôi chọn đề tài đóa hoa mùa Vu Lan và đặt tên cho bài hát. Đã có bản Bông Hồng Cài Ao của Phạm Thế Mỹ phổ thơ Nhất Hạnh quá nổi tiếng, giống như Lý Bạch phải thán phục bài thơ Hòang Hạc Lâu của Thôi Hiệu  mà không dám đề bút tả ngôi lầu nổi tiếng này, và tôi phải ráng.

Lời ca của bản Đóa Hoa Mùa Vu Lan như sau:

"Cành hoa hồng thắm cài lên áo em. Cùng nhau chia vui mẹ hiền còn đó. Hỏi em, me thương em không, em bảo mẹ thuơng em lắm. Hỏi em, em yêu mẹ không, em cười sao lại không yêu.

Tình yêu nào đó nồng lên mắt em. Tình yêu bao la của mẹ cao quí. Ngày thơ tung tăng bên me, xứ người giờ con lỡ bước. Lời khuyên ra đi năm nao, con ghi nhớ mãi trong lòng.

Điệp khúc: Nay mùa Vu Lan, mùa báo hiếu đó em. Chấp tay ta cùng nguyện cầu, nén hương dâng trước Phật đài. Cầu cho mẹ yêu an vui, cầu cho quê hương đau thương, không còn khói lửa, không còn hận thù.

Cành hoa hồng thắm cài lên áo em. Này em vui đi, kìa sao em khóc. Nghìn công ơn sâu của mẹ, bao giờ đời con báo đáp. Ngày quê hương thôi chia ly, mẹ hiền hết câu mong chờ.

Đóa hoa mùa Vu Lan, nở ngát trong tim, tình yêu của mẹ."

Có người bảo là câu hỏi em có thương mẹ hay mẹ có thương em hay không là vớ vẩn. Thực ra chỉ là lấy cớ để hỏi người em gái, để có câu chuyện trao đổi và để người em có dịp để nói về tình mẫu tử của mình.

Còn việc em được cài bông hồng đỏ mà sao lại khóc là có thật. Cô gái vượt biển lưu lạc xứ người, nhìn hoa đỏ mà nhớ mẹ ở quê nhà vời vợi.

Ý này khác với lời ca trong Bông Hồng Cài Ao rằng anh, em hãy vui sướng đi vì còn mẹ nên được cài bông đỏ.

Rốt cuộc, ca khúc Đóa Hoa Mùa Vu Lan cũng có nét riêng. Có tình mẹ, có dâng hương lễ Phật, có bông hồng cài áo và có chất Vu Lan. Và chỉ hát đúng vào mùa Vu Lan mà thôi.

Tôi nhờ ca sĩ Mai Hương hát thu băng. Chị tâm sự rằng khi hát câu cuối, lòng chợt nhớ mẹ của chị đã khuất.

Hòa âm của Đặng Xuân Thìn với bốn vĩ cầm và một dương cầm, anh viết rất khéo, quyện vào tiếng hát lóng lánh của giọng ca mang chất cổ điển- Mai Hương- tiếng hát không làm phiền chúng ta-  nhà báo Ngô Đình Vận đã viết như vậy.

Khi sáng tác ca khúc, lòng tôi nghĩ về mẹ ở Tuy Hòa. Lúc thực hiện xong CD, năm 1996, tôi gởi về quê và nhắn người nhà mở cho mẹ nghe để biết thằng con ở xứ người vẫn thương vẫn nhớ. Nhưng bà chưa kịp thưởng thức thì bệnh nặng và qua đời. Đây là một nỗi niềm chư a trọn vẹn của tác giả Đóa Hoa Mùa Vu Lan.

Khi tụng kinh cầu nguyện, tâm trí hướng về Phật, hướng về người thân đã khuất với ý tưởng tốt lành. Có thể khi ca khúc ca ngợi tình mẹ dâng lên cũng tạo nên bầu không khí an hòa.

Mùa lễ Vu Lan 2008, mời quí vị nghe một bài hát để yêu, để nhớ mẹ cho dù còn sống hay đã khuất. Xin vào www.tranchiphuc.com, tiếng hát Mai Hương với Đóa Hoa Mùa Vu Lan.

Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
Hình ảnh thay cho ngàn lời nói, ghi nhận rõ "sự hấp hối" của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ghi lại cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, nỗi lo sợ của dân chúng lũ lượt rời nơi đang sinh sống, đã bỏ nhà cửa trốn chạy trước khi VC tràn vào thành phố
Chúng ta liệu có thể đóng vai trò giúp đỡ những người nhập cư và tị nạn trong tương lai như là người Mỹ đã từng làm cho chúng ta không? Theo lời của Emma Lazarus, liệu chúng ta có nâng “... ngọn đèn bên cạnh cánh cửa vàng” cho “... kẻ bão táp, người vô gia cư ... người mệt mỏi, người nghèo khổ” không? Đối với chúng tôi, trong ngày 30 tháng 4 này, không có câu hỏi nào có ý nghĩa và tính quan trọng hơn câu hỏi này.
Khách đến Việt Nam ngày nay thấy nhiều nhà cao cửa rộng, xe chạy chật đường hơn xưa. Nhưng đa số người Việt Nam có vẻ không có cái nhu cầu dân chủ của người Myanmar hay người Hồng Kông. Hay là họ có, nhưng 20 năm chiến tranh đã làm họ mệt mỏi, xuôi xị chấp nhận chút đầy đủ vật chất, nhắm mắt với tương lai? Và Đảng Cộng sản Việt Nam có thể hy vọng người Việt sẽ ngoan ngoãn như người dân Bắc Hàn, không cần dự phần tự quyết cho tương lai của mình và con cháu mình?
Ngày 30/4 năm thứ 46 sau 1975 đặt ra câu hỏi: Còn bao nhiêu năm nữa thì người Việt Nam ở hai đầu chiến tuyến trong chiến tranh mới “hòa giải, hòa hợp” được với nhau để thành “Một Người Việt Nam”? Hỏi chơi vậy thôi chứ cứ như tình hình bây giờ thì còn mút mùa lệ thủy. Nhưng tại sao?
30 tháng Tư. Đó là ngày nhắc nhở chúng ta cần có dự tính cho tương lai. Vào năm 1975, ai có thể ngờ rằng sẽ có gần 2 triệu người Việt tại Hoa Kỳ nuôi dưỡng cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp một cách đáng kể cho xã hội? Ai ngờ được rằng hiện đã có thế hệ người Mỹ gốc Việt thứ ba, thứ tư?
Tổng thống Joe Biden như một người thuyền trưởng, nắm con thuyền quốc gia giữa cơn bão dữ. Chỉ trong cơn sóng lớn mới thấy được khả năng người lèo lái. Những thách thức vẫn còn trước mặt, nhưng con thuyền quốc gia hứa hẹn sẽ đến được chân trời rộng mở. Sự lãnh đạo và phục vụ thầm lặng, bền đỗ cho quốc gia và người dân của tổng thống Joe Biden đã được chứng minh bằng kết quả hiển hiện trong 100 ngày vừa qua.
Ca sĩ Tina Turner, có lẽ ai cũng biết nhưng quá trình tìm đến đạo Phật, trở thành Phật tử và sự tinh tấn của cô ta chắc không nhiều người biết. Giáo lý đạo Phật đã vực dậy đời sống cá nhân cũng như sự nghiệp của cô ta từ hố thẳm đau khổ, thất vọng.
Một nhân vật còn sống sót sau thảm họa Lò sát sinh (Holocaust) và từng đoạt giải Nobel Hòa bình, Elie Wiesel, nói: "Sự đối nghịch của tình thương không phải là sự ghét bỏ, mà là sự dửng dưng. Sự dửng dưng khiến đối tượng thành vắng bóng, vô hình…"
Tháng 10/1954, ông Trần Văn Hương được bổ nhiệm làm Đô Trưởng thủ đô Sài Gòn nhưng chỉ được vài tháng ông xin từ chức không cho biết lý do. Ngày 26/4/1960, ông Hương cùng 17 nhân sĩ quốc gia thành lập nhóm Tự Do Tiến Bộ, tổ chức họp báo công bố một bản tuyên cáo tại khách sạn Caravelle. Nội dung Bản Tuyên Cáo rất ôn hòa chỉ yêu cầu Tổng thống Ngô Đình Diệm mở rộng chính quyền để các nhà trí thức có thể hợp tác với chính phủ nếu được yêu cầu. Ngày 11/11/1960, ông Hương ký tên ủng hộ cuộc đảo chánh do Đại tá Nguyễn Chánh Thi khởi xướng, ông bị bắt trong tù ông có viết một tập thơ lấy tên là “Lao trung lãnh vận” (Những vần thơ lạnh lẽo ở trong tù).
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.