Hôm nay,  

Ngày Xuân hát Quan Họ

07/02/201100:00:00(Xem: 5817)
Ngày Xuân hát Quan Họ

Trương Phú Thứ
Những ngày Lập Xuân, công việc đồng áng đã xong, người nông dân Việt Nam có rất nhiều lễ hội qua những tập tục địa phương, niềm tin tưởng nơi Thần Thánh hoặc do những điều kiện thiên nhiên thời tiết thuận lợi. Hội quan họ làng Lim là một lễ hội truyền thống được tổ chức hằng năm vào ngày mười ba tháng Giêng âm lịch trên một ngọn đồi thơ mộng. Trai gái trong vùng tụ tập trao đổi những câu hát quan họ là một trong những thể hát dân ca của dân chúng địa phương được truyền tụng từ nhiều thế hệ hoặc là những câu hát “tức cảnh sinh tình” đối đáp giữa những cô thôn nữ duyên dáng trong chiếc áo tứ thân mầu sác rực rỡ e lệ giấu mặt sau chiếc nón quai thao và những chàng thanh niên đa tình tạm xa con trâu cái cầy cùng với hoa lá cây cỏ mùa xuân vui hưởng những ngày nông nhàn trong câu hò tiếng hát tình tứ thân thương. Hiện nay còn có trên bốn trăm bài hát quan họ được truyền tụng từ nhiều đời. Một số rất nhiều bài đã tuyệt tích và một số bài cũng bị tam sao thất bổn không còn giữ nguyên vẹn được những tình tiết nguyên thủy. Quan họ là một thể hát dân ca cổ truyền mang nhiều từ ngữ cũng như phong thái tình cảm và các tương truyền lịch sử. Những bài hát này không chỉ là những câu hát đối đáp đưa duyên của những nhóm các cô thôn nữ và đám trai làng nhưng được phân chia ra nhiều thể loại khác nhau và gồm có:
1- Giao duyên
2- Thờ cúng tổ tiên
3- Cầu mưa
4- Cầu may mắn và thịnh vượng
5- Cầu ân phúc của tổ tiên
Những câu quan họ giao duyên được được biết và nói đến nhiều nhất vì vì tính chất lãng mạn và tình tứ của lời ca tiếng hát giữa những thanh niên thiếu nữ trong làng hoặc những nhóm quan họ từ các làng lân cận hay từ các vùng xa. Những nhóm thanh niên thiếu nữ này được gọi là những “Bọn quan họ.” Chữ “Bọn” ở đây là một danh xưng cổ truyền và không có gì tỏ ý coi thường hoặc khinh miệt cả. Ngay từ những ngày còn bận rộn lo sắm Tết, các bọn quan họ đã tất bật sửa soạn quần áo và nhất là những bài hát để ra tài đối đáp với không những các bọn quan họ khác mà ngay cả những bọn bị coi như tình địch. Nghệ nhân hát quan họ phải thuộc nhiều bài bản để có thể hát đối và hát đáp mà giọng hát cũng như phong cách diễn tả phải tập luyện cho thành thục để mang lại tiếng tăm cũng như đẳng cấp cho bọn. Hát đối thông thường là những bài hát đã được truyền tụng nhưng hát đối đòi hỏi người hát quan họ phải có phản ứng mau lẹ để kịp thời đối ứng lại các trạng huống tình cảm xẩy ra do sự tác động của những câu hát giữa đôi bên.
Các lễ hội vùng Kinh Bắc được khởi sự từ ngày mùng bốn Tết kéo dài cho đến ngày mười chín tháng Hai âm lịch. Tất cả có bốn mươi chín làng quan họ thay nhau tổ chức hội hè, cũng có nhiều làng tổ chức cùng một ngày. Tuy nhiên lễ hội làng Lim được coi như nổi đình đám nhất vì thời gian tổ chức rất thuận tiện ngay sau ngày mười hai tháng Giêng là ngày hội đình của tất cả sáu làng chung quanh vùng Lim. Địa điểm tổ chức hữu tình trên một ngọn đồi có những cây lim thẳng tắp cành lá xum xuê che bóng một ngôi chùa cổ kính với nhiều truyền thuyết. Trong khu vực lễ hội cũng có những cuộc vui đua tài như đánh đu,đánh vật, chọi chim, chọi gà… và tất nhiên không thể thiếu những trò cờ bạc may rủi trong những ngày đầu năm.
Làng Lim có bốn xóm, mỗi xóm có hai bọn quan họ, một bọn nam và một bọn nữ. Trước ngày hội đến cả hai tháng các bọn quan họ trong làng đã bắt đầu tập luyện đối đáp. Khi chưa đến hội Lim thì những bọn quan họ này cũng được giao phó nhiệm vụ mang chuông đi đánh xứ người trong các lễ hội khác để vừa đua tài và cũng nhân tiện học hỏi rút tỉa kinh nghiệm cho những cuộc tỉ thí sôi động ở lễ hội làng Lim. Về hình thức thì lễ hội làng Lim có hai loại: hát trong nhà và hát ngoài đồi.
1-Hát trong nhà: Gia đình được chỉ định tổ chức hát trong nhà được các liền anh liền chị quan họ đến giúp chuẩn bị và sửa soạn trầu cau trà nước và nhất là bữa cơm quan họ để đãi khách. Khi mọi việc đã tươm tất thì gia chủ cho các em bé ra ngoài chùa Lim chờ khách. Lúc được các em bé chạy về báo tin khách đã tới thì đích thân gia chủ và các liền anh liền chị quan họ lên chùa đón khách. Một người hát quan họ lâu năm có nhà cửa rộng rãi khang trang được chọn làm nhà chứa. Chủ nhà được gọi là “Ông chứa” hay “Bà chứa,” một danh xưng rất được trọng vọng nể vì. Ngưòi dân làng Lim luôn tin tưởng nếu mời được nhiều khách về nhà thì đó chính là điềm may mắn mang lại an vui thịnh vượng cho toàn gia trong năm mới. Những người khách này có thể là những người quen biết đến từ các làng lân cận và cũng có thể là những người hoàn toàn xa lạ đến từ những vùng xa xôi chưa hề quen mặt biết tên. Quan họ bạn vào đến cổng nhà thì dừng lại, cất tiếng hát mừng làng, mừng nhà, mừng bạn. Quan họ chủ đứng ngoài sân hát đón nhời chúc lại làng bạn và chào bạn. Sau đó quan họ chủ đỡ ô nón của quan họ bạn và đón vào ngồi trên một giường trong nhà. Quan họ chủ ngồi trên một giường khác phía bên. Nếu ngồi trên ghế tràng kỷ thì chủ và bạn ngồi hai bên bàn. Quan họ chủ cất tiếng hát mời bạn uống nước ăn trầu. Quan họ bạn hát cảm ơn thịnh tình của gia chủ. Hai bên đối đáp cho đến trưa thì quan họ chủ mời quan họ bạn ăn cơm. Quan họ chủ hát mời bạn ăn và tiếp bạn cho đến khi gần xong bữa thì lúc đó quan họ chủ tạm ngưng hát và ngồi vào mâm của mình. Buổi chiều mọi người lên đồi Lim xem hội. Đến tối cuộc hát lại tiếp tục cho đến sáng ngày hôm sau mới giải tán.

2- Hát ngoài đồi: Trên đồi Lim, các liền chị với những tấm áo tứ thân mớ bẩy mớ ba mầu mè sặc sỡ tay cầm nón quai thao bao giờ cũng đi thành từng bọn. Các liền anh trang trọng với chiếc áo dài the đen, đầu đội khăn đống, tay cầm ô đen cũng có bọn với nhau. Bọn nam tìm trong đám hội một bọn nữ chưa có bạn và mời họ ăn trầu. Nếu bọn nữ nhận trầu tức là nhận lời hát. Nhiều khi bọn nữ chủ động mời bọn nam. Trong khi hát nếu hai bên hợp nhau về cách đối xử và lời ca giọng hát thì bọn nam sẽ hẹn một ngày nào đó để mang lễ vật sang làng bọn nữ xin kết nghĩa. Tục này gọi là “Quan họ nghĩa.” Đứng ngày hẹn, bọn nam mang lễ vật sang làng bọn nữ để xin kết bạn. Bọn nữ đưa bọn nam đến trình tiên chỉ trong làng rồi làm lễ kết nghĩa trước đình, sau đó đưa bạn về nhà ăn uống và ca hát. Những cuộc hát đối đáp có thể giữa từng bọn nhưng nhiều khi lại chỉ giữa một liền anh và một liền chị ở trên bất cứ một địa điểm nào trong khu vực lễ hội. Nếu hai bên thích nhau thì cứ tiếp tục hát, không thì lại chào nhau rồi đi tìm một bọn khác. Đến khi nào tình cảm đã quyến luyến bịn rịn như không rời được nhau thì lại cất lên tiếng hát xao xuyến tấm lòng “người ơi, người ở đừng về.” Như vậy hội Lim có những buổi hát của những liền anh liền chị kết nghĩa trong nhà và những bọn đến xem hội dể tìm bạn ngoài đồi.
3- Hát trên thuyền: Một hình thức hát quan họ khác lôi kéo nhiều người tham dự đó là hát trên thuyền được tổ chức ở làng Bùi vào ngày hai mươi ba tháng Giêng. Lễ hôi này chính là lễ tắm Phật chùa làng Bùi. Một chiếc thuyền rồng được chèo bởi mười cô gái trinh trắng chở đôi chum ra lấy nước từ một cái giếng ở đền Mẫu trên một cồn đất ngoài sông Ngũ Huyện. Thuyền rồng được bao bọc san sát bởi những thuyền con của các bọn quan họ. Khi thuyền rồng ra đến bãi, người ta khiêng chum đặt bên bờ giếng. Trai gái quan họ đứng hai bên. Người đứng đầu dùng gáo đồng múc nước rồi lần lượt chuyền tay cho đến người đứng cạnh chum thì đổ vào chum. Khi chum đầy nước thì phủ một tấm vải đỏ lên miệng chum trong tiếng hát của trai gái quan họ. Chum nước được mang về chùa tắm Phật để cầu mong mưa thuận gió hoà, công việc đồng áng được thuận lợi. Sau đó trai gái trên những chiếc thuyền con bơi quanh đám cây cối rậm rạp hát quan họ cho đến khuya.
Hát quan họ còn có nhiều hình thức khác nhau như lối “Hát trùm đầu” ở làng Viêm Xá, “Hát hiếu” ở Lũng Giang… Hầu như mỗi làng đều có những thêm bớt đặc thù của từng địa phương nhưng tựu chung thì vẫn cùng mục đích vui chơi hội hè đình đám trong những ngày nông nhàn và cầu mong phúc lợi cho một cuộc sống thanh bình thịnh vượng. Vùng Kinh Bắc có đến bốn mươi chín làng quan họ, mỗi làng tổ chức lễ hội vào một thời điểm khác nhau với phong thái và hình thức thay đổi cho phù hợp với thời tiết và các ưu điểm thiên nhiên. Đi tìm nguồn gốc của nghệ thuật hát quan họ, các học giả đều đi đến một kết luận chung ngay từ khởi thủy hát quan họ là một hình thức tương trợ không có văn bản giữa những làng xóm trong xã hội Việt Nam cổ xưa. Làng này có việc hay lễ hội đình đám thì những làng lân cận sang giúp đỡ hoặc góp vui bằng những lễ vật hay câu ca tiếng hát. Thâm tình giữa những làng quan họ đi ra ngoài những tình cảm thông thường bằng cách nghiêm cấm con trai con gái của những làng quan họ không được kết hôn với nhau để giữ tình kết nghĩa lâu bền. Nhưng dù cho luật lệ nghiêm cấm cũng không lấn át được tình cảm trai gái tự nhiên của những liền anh liền chị:
Nghĩa người tôi để lên cân
Bên tình nặng chín, bên ân nặng mười
Nghĩa người tôi để trong cơi
Nắp vàng đậy lại để nơi mình nằm
Đêm ngày tôi giở ra thăm
Đêm ngày ba bẩy lần thăm nghĩa người
Trước khi chia tay, các liền anh liền chị vẫn không quên dặn nhau: “Đến hẹn lại lên.”
Trương Phú Thứ

Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.
Ôn dịch Vũ Hán gây nên một cơn khủng hoảng chưa từng thấy trong khối các nước nghèo khó khiến 100 quốc gia trong số 189 thành viên IMF hiện đang cầu cứu cơ quan quốc tế này viện trợ khẩn cấp. Tưởng cần nên tìm hiểu bối cảnh của những quốc gia đang phát triển song song với các phân tích về tác động của khủng hoảng.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã lộ rõ tâm địa chống dân chủ bằng mọi giá để kéo dài độc tài cai trị, làm giầu bất chính trên lưng người dân nhưng lại ngoan ngoãn cúi đầu trước hành động cướp đất, chiếm Biển Đông của Trung Cộng. Những việc này, tuy không mới, nhưng đã bung ra vào lúc đảng ra sức vận động cán bộ, đảng viên, kể cả cựu lãnh đạo và cựu chiến binh đóng góp ý kiến vào các Dự thảo văn kiện đảng XIII để khoe khoang.
Đại dịch Vũ Hán đang tàn phá Trung Hoa Lục Địa và toàn thể nhân loại. Tuy thế, tai họa này vẫn không giảm thiểu tham vọng bá quyền xâm lược của đảng CSTQ đối với Việt Nam qua các hoạt động tập trận, xâm phạm lãnh hải và vùng kinh tế cũng như hiếp đáp gây thiệt hại cho ngư dân Việt Nam.
Tôi (trộm) nghe nói rằng quân tử ba ngày mà không đọc sách thì diện mạo dơ dáng, và trò chuyện khó nghe. Tôi vốn bẩm sinh mặt mũi không mấy dễ coi, và chuyện trò vô cùng nhạt nhẽo nên (lắm khi) đến vài ba năm cũng chả nhìn đến một cuốn sách nào mà vẫn cứ sống phây phây – chả có (trăng) sao gì ráo trọi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.