Hôm nay,  

Chỉ Còn Là Thời Gian

09/03/201100:00:00(Xem: 9822)

Chỉ Còn Là Thời Gian

Ts. Nguyễn Đình Thắng

Cuộc cách mạng hoa lài bùng ra bất ngờ và lan rộng, làm rúng động cả vùng Trung Đông và Bắc Phi. Điều này làm cho những người Việt yêu dân chủ tăng niềm tin về khả năng thay đổi đất nước trong một tương lai gần. Phản ứng lại, chính quyền Việt Nam gia tăng trấn áp và kiểm soát những đối tượng có thể xúc tác quần chúng đứng lên.

Có hai yếu tố góp phần quan trọng cho cuộc cách mạng hoa lài.

Thứ nhất là người dân hết sợ. Chế độ độc tài chỉ có thể ngự trị trên sự sợ hãi của quần chúng. Khi người dân hết sợ thì vị thế giữa dân và chính quyền bắt đầu đổi ngôi. Cũng như sự sợ hãi, lòng dũng cảm có đặc tính lây lan.

Thứ hai là khả năng tụ hội để tạo sức mạnh. Phương tiện truyền thông xã hội (social media) cho phép người dân vượt qua sự kiểm soát của chính quyền. Đối lại với sự kiên cố của kim tự tháp là dòng nước uyển chuyển với sức công phá vỡ bờ.

Tập thể người Việt ở hải ngoại có thể giúp đẩy luồng gió dân chủ đang cuồn cuộn ở vùng sa mạc Trung Đông và Bắc Phi về hướng Việt Nam bằng cách phát triển hai yếu tố trên: giúp cho người dân nhả dần sự hãi sợ và tạo cơ hội cũng như giúp phương tiện để họ hội tụ.

Theo dõi thời sự, người Việt ở trong nước có thể lên tinh thần. Tuy nhiên, muốn thay đổi thái độ sợ hãi họ trước hết phải ý thức được quyền của mình trước luật pháp quốc gia và quốc tế và biết cách tự bảo vệ quyền và lợi ích cho mình và những người chung quanh.

Sử dụng phương tiện truyền thông xã hội thiên biến vạn hoá, người dân có thể vượt qua sự kiềm soát chằng chịt của công an để đến với nhau. Tuy nhiên, ở lại với nhau suốt chặng đường tranh đấu gian nan là điều cần thiết để tạo thay đổi, và điều này đòi hỏi kỹ năng về tổ chức và điều hành.

Dưới đây là những việc mà tập thể người Việt ở hải ngoại có thể và cần làm.

Tạo cơ hội: Muốn nhả dần sự sợ hãi và tiếp thu kỹ năng và khả năng, người dân trong nước cần tập dượt từng bước một, khởi đầu với quyền lợi thiết thân của họ, như đòi công lý về quyền sử dụng đất, tự bảo vệ lợi ích khi đi lao động ngoài nước, đòi quyền tự do tôn giáo theo luật định, tố giác hành động bạo lực và tra tấn của công an... Sự tập dượt này có thể mang hình thức đấu tranh, vận động, hay thuần tuý xã hội. 

Tạo phương tiện: Muốn tụ hội thì phải có phương tiện và công cụ phù hợp (như phương tiện truyền thông xã hội), kỹ năng sử dụng phương tiện, khả năng nối kết, tổ chức và điều hành. Truyền thông về trong nước phải vượt xa những tin tức thời sự để nâng kiến thức cho người dân từ “biết” lên đến “biết cách”.

Quốc tế vận: Vận động sự quan tâm và can thiệp của quốc tế, của các chính quyền trong khối tự do là cần thiết để đẩy lùi sự đàn áp và giảm đi nguy cơ chính quyền dùng bạo lực khi có biến động. Quốc tế vận hiệu quả đòi hỏi một cơ cấu phối hợp vận động cho đồng bộ ở từng quốc gia và khắp thế giới.

Bảo vệ: Những người không thể hoạt động được nữa do bị trấn áp bởi chế độ phải được bảo vệ ngay trong nước và giải cứu sau khi họ đã thoát thân. Đây vừa là yếu tố trấn an tâm lý cho đại khối quần chúng vừa là nhu cầu bảo toàn lực lượng, nhất là đối với những người đã được đầu tư về kỹ năng và kinh nghiệm.

Những ai quan tâm đến tiền đồ dân tộc cần tập trung vào những lãnh vực này, lấy đó làm trọng tâm sinh hoạt cho đến khi thành công.

Chế độ độc tài dù có tinh vi cách mấy cũng chỉ có thể làm chậm chứ không thể cưỡng lại trào lưu của thời đại, Nhìn về đất nước, chúng ta mong điều tốt đẹp nhất sẽ xảy ra và thật sớm. Tuy nhiên, chúng ta phải chuẩn bị cho một thực tế không như mong ước và phải sẵn sàng khi vận hội đến. Và chính sự sẵn sàng ấy có thể xúc tác cho vận hội đến sớm hơn.

Cơn mưa phùn đêm qua còn đọng nước trên đường. Gió thu đã về. Lá vàng theo gió lác đác vài chiếc cuốn vào tận thềm hiên. Cây phong đầu ngõ lại chuẩn bị trổ sắc đỏ ối như mọi năm. Người đi xa từ những mùa thu trước, sẽ không trở về. Những người bạn lâu không gặp, thư gửi đi bị trả lại, nhắn tin điện thoại không thấy trả lời. Có lẽ cũng đã ra đi, không lời từ biệt. Đã có những cuộc ra đi rất lặng lẽ từ gần hai năm qua, không chỉ ở nơi đây, mà ở khắp toàn cầu. Ra đi bất ngờ, ra đi nhanh chóng. Không hoa tang. Không lễ nghi tôn giáo. Không lời ai điếu. Những túi bọc thi thể chất vội vào những thùng xe đông lạnh. Những thi hài quấn vải hoặc cuộn trong manh chiếu được chất trên những giàn củi, hỏa thiêu. Những chiếc quan tài được chôn lấp vội vàng trên đất công, với bia mộ đơn giản, không hình ảnh, ghi tên tuổi của một người già bệnh hay một người trẻ cường tráng, một người quyền quý hay một người bần cùng vô danh… Tất cả những người ra đi ấy, từ những nơi chốn khác nhau, thành thị hay
Hoá ra không phải chùm khế nào cũng ngọt. Quê hương, đôi khi, cũng thế. Cũng chua chát và đắng nghét đối với rất nhiều người mà tôi (chả may) là một. Cùng cả triệu dân Việt khác, tôi cũng đã có lúc hốt hoảng đâm sầm ra biển (dù không biết bơi) khi tóc hãy còn xanh. May mắn, tôi thoát chết. Lên lại được bờ, tôi đi lang thang tứ xứ cho mãi đến khi tóc đã đổi mầu nhưng vẫn chưa bao giờ trở về cố lý. Có kẻ tưởng là tôi chảnh, có mới nới cũ, có trăng quên đèn, quên cả cố hương. Không dám chảnh đâu. Tôi bị chúng “cấm cửa” mà!
Dù vậy, tôi vẫn cũng còn có đôi chút suy nghĩ lăn tăn. Hay nói theo ngôn ngữ của thi ca là vẫn (nghe) “sao có tiếng sóng ở trong lòng.” Chúng ta có nhất thiết phải đốt cả dẫy Trường Sơn, phải hy sinh đến cái lai quần, và hàng chục triệu mạng người – thuộc mấy thế hệ kế tiếp nhau – chỉ để tạo nên một đống bùn bẩn thỉu nhầy nhụa như hiện tại không?
Một sự trùng hợp về thời gian 20 năm trong chiến tranh Việt Nam đã lập lại ở Afghanistan vào ngày 15/08/2021 với hình ảnh chiếc trực thăng di tản người Mỹ chạy thoát từ nóc Tòa Đại sứ Mỹ trong lúc phiến quân Taliban đã chiếm dinh Tổng thống không tốn một viên đạn, ngay sau khi Tổng thống Ashraf Ghani bỏ trốn ra nước ngoài.
Mùa Vu Lan hiếu hạnh – báo ân cha mẹ – là truyền thống lâu đời của người con hiếu thảo nhưng làm sao tạo được một cơ hội chia sẻ, an ủi và liên tưởng đến mặt phản diện của những đứa con bất hiếu chưa gặp duyên lành để biết ăn năn sám hối trở về với cha mẹ.
Nhận định của một số giới chức quân sự và chính trị cho đó là thất bại về tình báo từ phía Hoa Kỳ đã đánh giá sai về bộ đội cộng sản Bắc Việt trong chiến tranh Việt Nam, nay lại sai về quân Taliban ở Afghanistan khiến Mỹ phải vội vàng di tản. Hình ảnh máy bay trực thăng di tản người Mỹ và những người đã hợp tác với Hoa Kỳ ra khỏi Sài Gòn cuối tháng Tư 1975 và ngày 15/8 vừa qua ra khỏi Kabul sẽ còn in dấu trong tâm thức người Mỹ và dư luận thế giới trong nhiều năm.
Trên Bloomberg Opinion ngày 26 tháng 04 năm 2021, một trong hai tác giả là Cựu Đô đốc James G. Stavridis, trình bày kịch bản này trong bài “Four Ways a China-US War at Sea Could Play Out” mà bản dịch sau đây sẽ giới thiệu. Theo Stavridis,“bốn điểm nóng” mà Hải quân Trung Quốc có khả năng tấn công là eo biển Đài Loan, Nhật Bản và Biển Hoa Đông, Biển Hoa Nam và các vùng biển xa hơn xung quanh các nước Indonesia, Singapore, Australia và Ấn Độ. Nhưng nguy cơ cao nhất là Đài Loan.
Đó là lý do cần nhắc sơ lại Hòa Ước Doha 2020, bởi nếu xem chính phủ Afghanistan là một "đồng minh" của Hoa Kỳ thì đồng minh này đã bị phản bội và bức tử ngay tháng Hai năm 2020 theo sau Hòa Ước Doha của nội các Donald Trump ký với Taliban chứ không phải hôm nay. Liệu có cần nhắc lại hòa đàm Paris vào năm 1973 đã dẫn đến sự sụp đổ báo trước của miền Nam Việt Nam vào tháng Tư năm 1975? Và giới sử gia thường nhắc lại vai trò của tổng thống Richard Nixon và Ngoại trưởng Henry Kissinger trong việc bỏ rơi Nam Việt Nam chứ không phải tổng thống Gerald Ford, vị tổng thống Mỹ đương nhiệm năm 1975.
Theo dõi tin tức từ quốc gia này, tấm lòng của chúng tôi hướng về người dân Afghanistan và những người tị nạn đang bị buộc phải bỏ trốn để giữ mạng sống. Hơn nữa, chúng tôi tha thiết quan ngại đến số phận của hàng triệu phụ nữ và trẻ em gái của xứ sở này, vì họ phải đối diện với một tương lai đen tối khi gặp trở lại sự đối xử tàn tệ của nhà nước Taliban.
Vốn ham vui, và rất chóng quên nên mẹ tôi ở lại luôn trong Nam cả năm trời. Hệ quả (hay hậu quả) là tôi cất tiếng khóc chào đời tại Sài Gòn. Khi hiệp định đình chiến được ký kết tại Geneve, vào ngày 20 tháng 7 năm 1954, tôi mới vừa lẫm chẫm biết đi. Cũng mãi đến lúc này bà má mới “chợt nhớ” ra rằng mình còn mấy đứa con nữa, đang sống với ông bà ngoại, ở tuốt luốt bên kia vỹ tuyến. Thế là tôi được bế ra ngoài Bắc, rồi lại được gồng gánh vào Nam (cùng với hai người chị) không lâu sau đó. Nhờ vậy (nhờ ra đời trước cái đám Bắc Kỳ con sinh trong Nam đôi ba năm) nên từ thuở ấu thơ tôi đã được nghe nhiều bài hát ca ngợi tình bắc duyên nam – qua radio – vào thời điểm đó
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.