Hôm nay,  

Cánh Đại Bàng

17/03/201100:00:00(Xem: 9112)
Cánh Đại Bàng

lang_mai_hinh-chung-60-tan-giao-t-large-contentHình ảnh từ Đại Giới Đàn Lắng Nghe.

Huệ Trân

Mấy năm gần đây, những thiên tai bất ngờ trên khắp thế giới mà sức tàn phá ngày càng khốc liệt, là thông điệp cảnh báo nghiêm trọng của thiên nhiên trước sự lạm dụng của con người. Xứ này phá rừng, xứ kia vét biển, nơi này đập núi lấy đá, nơi kia lấp sông làm nhà; nam bắc ra sức khoan dò, đào sới tìm bí ẩn của thiên nhiên, rồi đông tây mặc tình thải khí độc, tuôn rác rưởi … những chất liệu mà biển chẳng thể tiêu hóa, đất chẳng thể chôn vùi! Thiên nhiên tuy mênh mông nhưng sức chịu đựng nào chẳng có giới hạn. Lời cảnh báo nhè nhẹ là hiện tượng khí hậu bất thường. Âu châu đông đá, Á châu tuyết phủ, ở những thời điểm chưa từng như thế, trước đây. Cũng đã có biết bao người quan tâm, lên tiếng kêu gọi và đưa ra những phương thức bảo vệ trái đất chung, nhưng tỷ lệ đáp ứng chẳng bao nhiêu vì bản chất con người vốn tự tin lạ kỳ “không xảy ra cho tôi, sao tôi phải giảm bớt sự hưởng thụ"” Khác chi, những người đi dự đám tang, tuy thẳm sâu tâm thức, phải chấp nhận có sinh là có tử, nhưng vẫn nhìn người nằm trong quan tài bằng sự thương xót của người “không bao giờ phải nằm trong đó!”
Trên chuyến bay hướng về Paris, nơi trước đó mấy ngày đã được thông báo là có thể bị đình trệ nếu thời tiết quá khắc nghiệt, lòng tôi chợt ấm áp với lời nhắn nhủ của Sư Ông Làng Mai “Thế kỷ 20 đầy vị kỷ. Thế kỷ 21 phải đầy tình thương để cùng nhau Leo Đồi Thế Kỷ”
Chúng tôi tới tham dự Đại Giới Đàn Lắng Nghe, tại Làng Mai, Pháp quốc, bắt đầu từ 20 tháng hai, 2011 tới 26 tháng hai, 2011. Theo thông lệ của Làng thì thời điểm hoàn mãn Đại Giới Đàn cũng là lễ Tự Tứ kết thúc An Cư Kiết Đông ba tháng, bắt đầu từ trung tuần tháng mười một năm trước, tới cuối tháng hai, năm kế tiếp.
Bóng áo nâu thấp thoáng các phi trường Charles De Gaulle, Bordeaux; nhất là tại nhà ga Sainte Foy-La-Grande, khi tăng đoàn đi đón Chư Tôn Đức từ khắp nơi về tham dự, và chứng minh. Sân ga, phút chốc tràn ngập mầu áo nâu, an nhiên từng bước thong dong. Người bản xứ, chắc đã từng thấy hình ảnh này, nên họ mỉm cười, chắp tay cung kính xá. Tôi có cảm tưởng, nếu bất ngờ, Sư Ông ngồi xuống, rồi cất lời ban pháp, thì họ cũng sẽ hoan hỷ ngồi xuống. Rồi những con tầu sẽ dừng lại, còi tầu sẽ lặng thinh để cùng sân ga hóa thân thành một giảng đường lộ thiên. Và lời Đức Thế Tôn được trùng tuyên, rao giảng.
lang_mai_11_phap-de-large-contentQuán chiếu sâu xa thì hình ảnh đó, âm thanh đó chưa từng ngưng chuyển động. Hai mươi sáu thế kỷ qua, sự hoằng pháp vẫn chảy như con suối, các tăng đoàn vẫn đi như dòng sông. Có khác chăng chỉ là hình thức, mà hình thức chỉ là phương tiện, và phương tiện chỉ là chiếc bè đưa ta qua sông. Hình thức và phương tiện lại cần được uyển chuyển qua mỗi hoàn cảnh, mỗi thời đại, cập nhật với những bước tiến quá nhanh của văn minh nhân loại thì chiếc bè kia mới đủ sức mời gọi người bước xuống.
Ai tu, nấy chứng, mà cũng phải mời gọi ư"
Có chứ. Mời gọi là vì lòng từ bi. Đức Phật A Di Đà, chẳng những chỉ mời gọi mà Ngài còn quá lân mẫn, qua lời dạy Xá Lợi Phất mà dỗ dành chúng sanh “Bất khả dĩ thiểu thiện căn phước đức nhân duyên, đắc sanh bỉ quốc. Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, văn thuyết A Di Đà Phật, chấp trì danh hiệu, nhược nhất nhật, nhược nhị nhật, nhược tam nhật, nhược tứ nhật, nhược ngũ nhật, nhược lục nhật, nhược thất nhật, nhất tâm bất loạn, kỳ nhân lâm mạng chung thời, A Di Đà Phật dữ chư Thánh chúng, hiện tại kỳ tiền, thị nhân chung thời, tâm bất điên đảo, tức đắc vãng sanh A Di Đà Phật Cực Lạc quốc độ”
Mỗi lần tụng tới đoạn kinh này, tôi tưởng như đang nghe lời ân cần của một người mẹ: “Chẳng phải chỉ có chút ít căn lành mà được sanh về xứ Phật đâu! Các con ơi, hãy niệm danh hiệu Phật, một lòng không tạp loạn thì phút lâm chung sẽ được Chư Phật đến tiếp rước. Niệm bảy ngày không nổi thì sáu ngày, năm ngày, bốn ngày; mà vẫn không được thì ba ngày, hai ngày; hay thôi, một ngày vậy nghe con …”
Chư Phật từ bi và kiên nhẫn như thế. Chỉ cần chúng sanh quyết tâm xuống thuyền, vượt bể khổ, qua sông mê.
Hãy bỏ lại trên bờ những uế nhiễm, não phiền.

Hãy thở sâu. Thở nhẹ.
Hãy lắng nghe ta, bằng chính hơi thở chánh niệm của ta.
Ta biết ta đang thở, mới là ta đang sống.
Hạnh phúc là biết ta đang sống. Vì có sự sống, ta sẽ có tất cả. Sự sống hiện diện ở đây là sự sống từ hơi thở chánh niệm. Sự sống này mới giúp ta biết trân quý mình và người.
Thở, và lắng nghe, để đích thực có mặt cho nhau thì đây mới là sự có mặt tuyệt đối và sự có mặt này mới vượt qua mọi ranh giới của mầu da, sắc áo cùng những dị biệt vi tế ẩn sau bản ngã.
Hôm nay, sự có mặt này đã hiển lộ rực rỡ trong Đại Giới Đàn Lắng Nghe, hiển lộ tự nhiên như mặt trời chiếu sáng ban ngày, mặt trăng chiếu sáng ban đêm, không cần một ngôn từ nào diễn giải hay yểm trợ. Nhưng để đáp tấm lòng bạn hằng theo dõi, nên tôi xin chia sẻ chút cảm nghĩ riêng mà thôi
Này bạn.
Đây là Xóm Thượng. Từ thiền đường Chuyển Hóa, tiếng chuông, khánh điểm nhẹ, Chư Tôn Đức cung nghinh Giới bản Ba-la-đề-mộc-xoa dưới hai tàn lọng, nối bước là quý thầy cô, đi theo tuổi hạ. Con rồng vàng nhẹ nhàng uốn khúc, tiến lên thiền đường Nước Tĩnh, nơi âm vang của chuông trống Bát Nhã đang rộn rã đón chờ. Trời không lạnh lắm, vì gió Xuân đến sớm, vờn quanh những nếp y vàng để lắng nghe.
Lắng nghe.
Gió trên đồi nghe và thấy những gì"
Gió thấy, không chỉ mọi mầu da trong đoàn tăng ni đang uy nghiêm mà an lạc, thong dong mà vững chãi tiến bước kia, mà đại chúng đông đảo hai bên nghênh đón cũng hiện diện mọi sắc tộc. Họ từ bốn phương trời về đây vì đã lắng nghe được lời mời gọi. Họ đã bỏ lại gánh phiền não, để nghe cho rõ, nhìn cho sâu, cùng với không gian thênh thang, mỉm cười, và an lạc cất bước.
Suốt thời gian Đại Giới Đàn, trước mỗi thời, họ được nghe lời dâng hương và tụng kinh Bát Nhã bằng ba ngôn ngữ, hoặc Anh, Việt, hay Pháp. Âm thanh trầm bổng mà hùng tráng lạ kỳ. Đây là bản hòa tấu tuyệt vời, đi thẳng vào trái tim người tụng cũng như người nghe, để cùng trực nhận chúng ta đang chỉ là một
“The Bodhisattva Avalokita while moving in the deep course of perfect understanding, he light on the five skandhas and found them equality empty. After this penetration, he overcame ill-being …
Bồ Tát quán Tự Tại. Khi quán chiếu thâm sâu. Bát Nhã Ba La Mật. Tức diệu pháp Trí Độ. Bỗng soi thấy năm uẩn. Đều không có tự tánh. Thực chứng điều ấy xong. Ngài vượt thoát tất cả. Mọi khổ đau ách nạn …
Le Bodhisattva Avalokita en pratiquant la voie de la compréhension parfaite, posa son regard éclairé sur les cinp skandas et les trouva pareillement vides. Après cette pénétration, il dépassa toute souffrance …”
lang_mai_9_gioitukhatsinu-large-contentBuổi chiều, ngày khai đàn, là lễ truyền Ngũ giới. Khi vị chủ lễ cất tiếng mời các giới tử đứng lên, tiến về Phật đài thì đa số đại chúng đông đảo phía dưới đã tuần tự đứng lên.
Thật cảm động và kinh ngạc. Thì ra họ từ muôn phương lặn lội tới đây chẳng phải chỉ tham dự mà còn để được thọ nhận Năm giới luật căn bản của người xin làm con Phật. Họ bước rất khoan thai, quỳ lạy rất thuần thành, cung kính theo từng tiếng chuông hướng dẫn.

Với khối lượng đông đảo giới tử mọi sắc dân nên lời truyền giới cũng được thực hiện bằng ba ngôn ngữ chính là Việt, Pháp, Anh. Thật hiếm thấy nơi nào lại có hình ảnh đặc thù trong lễ quy y Tam Bảo như thế. Tự hình ảnh này đã nói lên tinh thần bình bẳng của Đạo Phật, nói lên cái tâm là họa sỹ của chính mỗi người. Họa sỹ đó hướng về cảnh trí nào mà phác họa thì người sẽ nương cảnh đó mà tới.
Vậy tại sao họa sỹ kia không chỉ vẽ cảnh đẹp, cảnh thiện, mà còn khi là cảnh xấu, cảnh ác"
Đó là bởi chúng sanh đã từng tạo nghiệp ác, gieo duyên xấu nên cái tâm còn vướng theo nghiệp đó mà đi. Khi vừa Giác Ngộ, Đức Thế Tôn đã nhìn rõ, mọi chúng sanh đều có Phật tánh, chỉ bởi vô minh che lấp mà thôi, nên Ngài đã ở lại ta-bà, nguyện giáo hóa và độ cho những ai còn độ được.
Đại Giới Đàn Lắng Nghe, đã theo dấu chân Như Lai mà thể hiện từng bước như thế. Từ lễ truyền Ngũ giới cho đại chúng ở thiền đường Nước Tĩnh, Xóm Thượng, tới lễ truyền giới Thức Xoa cho các Sa-di-ni ở thiền đường Hội Ngàn Sao, Xóm Hạ, rồi lại lên Xóm Thượng với ngày truyền giới Khất- sỹ- nam, Khất- sỹ- nữ, và cao hơn, là lễ truyền Đăng tại thiền đường Trăng Rằm cho các vị đã được hội đồng duyệt xét cẩn thận sau nhiều tháng năm, đủ vững chãi để trở thành những vị Giáo thọ.
Trong không khí cực kỳ trang nghiêm, nhìn đoàn giới tử xin thọ giới Khất sỹ được xướng danh, tiến về bàn Phật, lạy Phật, rồi cùng quỳ xuống, thành khẩn lắng nghe lời đàn hạch của vị ni trưởng Yết Ma, mới cảm thông lời phát nguyện của họ là cội phước đã gieo trồng và tưới tẩm mới tới ngày được thọ nhận Y Bát trước hai hàng Chư Tôn Đức uy nghiêm như thế, chứng minh cho:
Đẹp thay áo giải thoát
Áo ruộng phước nhiệm mầu
Con cúi đầu tiếp nhận
Đời đời nguyện mang theo.
Và cùng cung kính nâng bình bát ngang trán, thầm đọc bài kệ đã từng đọc mỗi khi thọ trai:
Bình bát của Như Lai
Nay được nâng trên tay
Nguyện hết lòng thực tập
Pháp tam luân không tịch.
lang_mai_2_ruoc-gioi-ban-large-contentTrở về thiền đường Trăng Rằm là lễ truyền Đăng. Được hiện diện trong không gian đó, được thở không khí đó, được theo dõi bước chân từng vị Giáo thọ tương lai chậm rãi tiến đến trước Sư Ông, quỳ xuống, dâng kệ kiến giải, nhận đèn Chánh pháp, nhận kệ trao truyền, mới thấy rõ được sức mạnh của những dòng sông đang cùng chảy ra biển lớn.
Bạn ơi, bạn sẽ cảm thấy gì khi nhìn một giới tử, gốc Do Thái, quỳ trước vị Thiền sư truyền giới, người Việt Nam, để đọc bài kệ kiến giải của mình bằng tiếng Do Thái" Riêng tôi, tôi cảm nhận là vị đó đã không phụ đất nước mình, tổ tiên mình, qua hình thức dùng ngôn ngữ chưa được phổ thông trên toàn cầu để dâng bài kệ kiến giải lên Chư Phật. Đó phải chăng, không chỉ là xin đất nước, tổ tiên chứng minh, mà còn là sự mời gọi gia đình huyết thống về với gia đình tâm linh mà vị đó đã có cơ duyên gặp được.
Lạ thay, bài kệ kiến giải bằng tiếng Do Thái lại được Sư Ông trao kệ truyền đăng bằng tiếng Hán. Sư Ông bảo “Tự nhiên chữ Hán hiện ra. Thế thôi!”
Rồi cứ thế, bài kệ tiếng Việt cũng “tự nhiên” hiện ra để trao cho thầy Pháp Đệ, người Hoa Kỳ. Nếu tôi nhớ không lầm thì trước khi hội đủ duyên đến với đạo Phật, Thầy đã từng là một Linh mục, nên bài kệ Sư Ông trao cho thầy Pháp Đệ như vầy:
Pháp thiêng nuôi dưỡng tình huynh đệ
Kết hợp đông tây một giải đồng
Thế giới đi về phương hướng ấy
Suối nguồn tuệ giác đã khai thông.
Và tiếp tục lễ truyền đăng, kệ tiếng Việt lại được đọc lên, trao cho cư sỹ Giác Uyển (Steffi Holtjie) người Hòa Lan:
Giác hoa vừa hé trong thiền uyển
Áo mới xuân về đẹp sắc xuân
Thuyền xưa lướt sóng tìm chân tế
Mây trắng về non thấy cội nguồn.
Cũng tình cờ, kệ tiếng Hán lại được trao cho cư sỹ Mật Chiếu (Denise Bergez) người Đức:
Tuệ nhật miên mật chiếu
Từ nhãn thị nhân gian
Bộ bộ trước thật địa
Xúc xứ phóng hào quang.
Và có những vị tân giáo thọ người Việt, được trao kệ tiếng Việt, cũng là do khi ấy tiếng Việt tự nhiên tới mà thôi (Thưa Sư Ông, có phải thế không ạ") Chẳng hạn như cư sỹ Chân Minh, người phụ trách trang mạng Phù Sa. Trước khi đọc kệ, trao đèn, Sư Ông đã ưu ái giới thiệu Chân Minh như một chiến sỹ can trường, đã dũng cảm dùng toàn trí lực, toàn thời gian để cập nhật và phổ biến tin tức về pháp nạn Bát Nhã khi nơi này bị quyền lực đương thời thẳng tay đàn áp! Cũng nhờ sự chuyển đạt thông tin nhanh chóng của trang mạng này mà dư luận toàn cầu đã nhìn thấy tận mắt những gì cực đẹp cũng như cực xấu trong biến cố lịch sử này. Chẳng phải ngẫu nhiên mà thế giới đã cảm phục và yêu thương, giang rộng tay đón nhận những đứa con bị đánh đuổi ra khỏi đất mẹ!
Suốt thời gian biến động đó, Phù Sa thường xuyên bị đánh phá, cá nhân người phụ trách nhận nhiều lời hăm dọa, bị ngộ nhận là một cơ phận của Làng Mai, trong khi Phù Sa chỉ là nhóm thông tin hoàn toàn tự lập và độc lập. Nhưng Phù Sa đã không nao núng, cũng chẳng cải chính, chỉ thấy những gì đáng nói thì nói, đáng làm thì làm thôi. Hôm nay, trước đông đảo Chư Tôn Đức khắp năm châu về chứng minh, trước Tăng thân và đại chúng, Chân Minh đã thẳng thắn xác nhận quan điểm của mình, khi thành kính nhận đèn truyền đăng với bài kệ nhắn nhủ:
Chân nghĩa không quản ngại
Quang minh đường lớn đi
Nguyền xưa nay trọn vẹn
Một lối thênh thang về.
lang_mai_8_gioitukhatsinamlaytanhany-large-contentChẳng phải những nét đặc thù chỉ dừng lại ở đấy, mà năm nay, trong số tân giáo thọ, sư cô Đắc Nghiêm đã lên nhận đèn trong hình ảnh tuyệt vời của ba thế hệ tinh chuyên tu tập. Thân mẫu của sư cô là sư cô Hiền Hải, tu trên tu viện Lộc Uyển đã hơn mười năm, được các thầy cô trên đó yêu thương, đặt biệt danh là “Sư ngoại, thiên thần quét lá” vì sư ngoại thường siêng năng quét sạch lá rừng quanh thiền đường và tịnh xá. Sư ngoại là câu trả lời cho bài hát “Đố ai quét sạch lá rừng. Để ta khuyên gió, gió đừng rung cây”. Con trai của sư cô chính là thầy giáo thọ Chân Pháp Uyển. Năm trước, khi lên nhận đèn, thầy Pháp Uyển đã đọc bài kệ kiến giải của mình bằng bốn ngôn ngữ Anh, Pháp, Việt và Nhật. Bài kệ của thầy, bằng Việt ngữ như vầy:
Đứng yên giữa cuộc bão giông
Nhìn sâu, hiểu rõ ngọn nguồn thế gian
Ra vào ba nghiệp tịnh an
Đóa hoa tuệ giác trong lòng nở ra.
Duy tuệ thị nghiệp có đâu xa! Chỉ vài nét chấm phá cũng có thể thấy, với một Đại Giới Đàn mở rộng mọi cánh cửa như thế, tự thân nơi chốn này đã lung linh thiền vị của Vô Môn Quan.
Cửa không cánh cửa mới thực là cửa Phật.
Còn nhớ, khi được thỉnh ý đặt tên cho thiền đường Bát Nhã ở Việt Nam, lúc mới thành lập, Sư Ông im lặng giây lát, rồi buông ba tiếng: “Cánh Đại Bàng”. Có vị hiện diện hôm đó đã thưa: “Đại Bàng bay cao lắm, xa lắm, lỡ bay mất luôn thì sao ạ"”
Quả thật, giữa muôn điểu, chỉ đại bàng mới có thể soải cánh bay xa, và đại bàng vỗ cánh là để tới khắp mọi phương trời cao rộng chứ mất đi đâu được!
Trong tinh thần đó, bạn ơi, bằng tâm thảnh thơi hòa ái, hãy nhìn và lắng nghe xem, có phải như muôn chim từ tám hướng mười phương tụ về, nhận những hạt lành để rồi sẽ tung cánh thật cao, thật xa, rải những hạt ấy khắp đại địa với tâm nguyện hạt lành này sẽ trổ hoa trái tình thương, cho thế giới thanh bình, chúng sanh an lạc.
Xin chào mừng những Cánh Đại Bàng, vẫn kiên cường, âm thầm tiếp nối đến và đi khắp năm châu, để những lời thuyết pháp năm xưa còn được truyền mãi, trong nắng và trong gió.
Huệ Trân
(Đại Giới Đàn Lắng Nghe 20/2/11 - 26/2/11 Làng Mai, Pháp quốc)

Năm 2012 Tập Cận Bình được bầu làm Tổng Bí Thư Trung Ương Đảng; năm 2013 trở thành Chủ Tịch Nước; đến năm 2018 tư tưởng Tập Cận Bình được chính thức mang vào Hiến Pháp với tên gọi “Tư tưởng Tập Cận Bình về chủ nghĩa xã hội với đặc sắc Trung Quốc trong thời đại mới”. Tập Cận Bình đem lại nhiều thay đổi sâu sắc trong xã hội Trung Quốc, mối bang giao Mỹ-Trung và nền trật tự thế giới...
Xem ra thì người Mỹ, không ít, đang chán tự do và nước Mỹ đang mấp mé bên bờ vực của tấn thảm kịch mà nước Đức đã sa chân cách đây một thế kỷ khi, trong cuộc bầu cử năm 1933, trao hết quyền tự do cho Adolf Hitler, để mặc nhà dân túy có đầu óc phân chủng, độc tài và máu điên này tùy nghi định đoạt số phận dân tộc. Mà nếu tình thế nghiêm trọng của nước Đức đã thể hiện từ trước, trong cương lĩnh đảng phát xít cả khi chưa nắm được chính quyền thì, bây giờ, với nước Mỹ, đó là Project 2025.
Từ 20 năm qua (2004-2024), vấn đề hợp tác giữa người Việt Nam ở nước ngoài và đảng CSVN không ngừng được thảo luận, nhưng “đoàn kết dân tộc” vẫn là chuyện xa vời. Nguyên nhân còn ngăn cách cơ bản và quan trọng nhất vì đảng Cộng sản không muốn từ bỏ độc quyền cai trị, và tiếp tục áp đặt Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh “làm nền tảng xây dựng đất nước”...
Cái ông Andropov (“nào đó”) nghe tên cũng có vẻ quen quen nhưng nhất thời thì tôi không thể nhớ ra được là ai. Cả ủy ban nhân dân Rạch Gốc và nhà văn Nguyên Ngọc cũng vậy, cũng bù trất, không ai biết thằng chả ở đâu ra nữa. Tuy vậy, cả nước, ai cũng biết rằng trong cái thế giới “bốn phương vô sản đều là anh em” thì bất cứ đồng chí lãnh đạo (cấp cao) nào mà chuyển qua từ trần thì đều “thuộc diện quốc tang” ráo trọi – bất kể Tây/Tầu.
Việt Nam và Trung Quốc đã ký 14 Văn kiện hợp tác an ninh Chính trị, Kinh tế-Thương mại và Văn hóa-Báo chí trong chuyến thăm Trung Quốc đầu tiên của Tổng Bí thư Tô Lâm từ ngày 18 đến 20/08/2024. Trong số này, Văn kiện kết nối và thiết lập 3 Tuyến đường sắt giữa hai nước được gọi là “anh em” đã giúp Trung Quốc liên thông ra Biển Đông và bành trướng thế lực kinh tế...
Tại Campuchia, kênh đào Phù Nam Techo, trị giá 1,7 tỷ USD sẽ kết nối Phnom Penh và Vịnh Thái Lan, tượng trưng cho niềm tự hào dân tộc, an ninh và kết nối thương mại quốc tế. Người ta có thể cảm thấy như thế qua lời tuyên bố của Thủ tướng Campuchia Hun Manet và của ông Hun Sen, trong cương vị cố vấn, người đã chuyển giao quyền lực từ cha sang con vào năm ngoái...
Danh từ được tác giả dùng trong bài này không phải là danh từ theo tự loại mà là một thuật ngữ của Việt Cộng. Thuật ngữ Việt Công hay là danh từ Việt Cộng là những thuật ngữ, những từ được dùng trong nước dưới chính quyền Cộng sản Việt Nam. Ở trong nước người ta không dùng từ “Việt Cộng” mặc dầu Việt Cộng chỉ có ý nghĩa là Cộng Sản Việt Nam chớ không có nghĩa gì khác. Phải nói rõ ràng và dài dòng như vậy để tránh hiểu lầm và hiểu sai. Những danh từ đề cập trong bài viết này đa số là những danh từ kinh tế, vì chủ đề của bài viết là kinh tế, phân tích những ván đề kinh tế, nhận định về kinh tế chớ không phải chính trị, mặc dầu kinh tế không thể tách rời khỏi chính trị, xuất phát từ chính trị và tác động trở lại đời sống của mỗi con người chúng ta.
“Tôi hơi chậm hiểu lại rất chóng quên nên dù đã lê lết qua hơi nhiều trường ốc (trong cũng như ngoài nước) nhưng trình độ học vấn và kiến thức cũng chả̉ tới đâu, vẫn chỉ ở mức làng nhàng. Nói tóm lại là thuộc loại “xoàng”! Ơ! “Xoàng” thì đã sao nhỉ? Cũng không đến nỗi trăng/sao gì đâu, nếu tôi biết điều (biết chuyện – biết thân – biết phận) hơn chút xíu. Khổ nỗi, tôi lại cứ tưởng là mình cũng thuộc loại đầu óc trung bình (hoặc chỉ dưới mức đó không xa lắm) nên ghi danh học – tùm lum/tùm la – đủ thứ phân khoa: Triết Lý, Tâm Lý, Xã Hội, Nhân Chủng …
Một bài viết ngay sau khi được bầu vào chức Tổng Bí thư đảng CSVN cho thấy ông Tô Lâm đã hiện nguyên hình một người giáo điều, bảo thủ và hoài nghi trong “hợp tác quốc tế” với các nước. Trước hết ông cáo giác: “Các thế lực thù địch, phản động chưa bao giờ từ bỏ âm mưu lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.” Lời tố cáo này không mới vì chỉ “nói cho có” và “không trưng ra được bằng chứng cụ thể nào”, giống hệt như những người tiền nhiệm...
- Mình lúc này không muốn theo dõi tin tức nữa. Mệt lắm. - Mình cũng vậy, không đọc báo, chỉ xem phim hoặc nghe thuyết pháp, tránh nhức đầu. - Đời người ngắn ngủi, sao phải tốn thì giờ… - Ở tuổi này, chuyện gì không vui xin miễn, tội gì phải đọc tin tức rồi tự mình làm khổ mình. Trong những năm gần đây, những phát biểu đại loại như trên từ bạn bè khiến những người trong ngành chúng tôi đôi lúc không khỏi ngán ngẫm về công việc báo chí của mình, một việc làm nếu đã không được tưởng thưởng tài chánh tương xứng, thì phần thưởng tinh thần từ ý nghĩa tự nó cũng không đủ bù đắp. Đọc báo hay không đọc báo?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.