Hôm nay,  

Non Nước

08/02/201300:00:00(Xem: 15512)
- Bài I: Bài thơ "Non Nước", thất ngôn bát cú, luật trắc. Đọc xuôi từ trên xuống.

Non nước, cội nguồn, tâm vấn vương!
Giống nòi yêu mến, nhớ nhung thương
Thôn làng sang sửa, phòng bờ cõi!
Biển đảo lấn xâm, ngừa Bắc phương!
Toàn vẹn quyền dân, cần thiết cốt
Bạo tàn độc đảng, quá gàn ương
Tồn sinh tha thiết, mong bền vững
Son sắt kiên trung, giữ thổ cương!

- Bài II: Bỏ 2 chữ đầu mỗi câu của bài thơ "Non Nước" (bài I), thành bài thơ ngũ ngôn, luật bằng. Đọc xuôi.

Cội nguồn, tâm vấn vương!
Yêu mến, nhớ nhung thương
Sang sửa, phòng bờ cõi!
Lấn xâm, ngừa Bắc phương!
Quyền dân, cần thiết cốt
Độc đảng, quá gàn ương
Tha thiết, mong bền vững
Kiên trung, giữ thổ cương!

- Bài III: Bỏ 3 chữ đầu mỗi câu của bài thơ "Non Nước" (bài I), thành bài thơ mỗi câu 4 chữ.

Nguồn, tâm vấn vương!
Mến, nhớ nhung thương
Sửa, phòng bờ cõi!
Xâm, ngừa Bắc phương!
Dân, nên thiết cốt
Đảng, quá gàn ương
Thiết, mong bền vững
Trung, giữ thổ cương!

Nước Non

- Bài IV: Khi đọc ngược bài thơ "Non Nước" (bài I), từ dưới lên trên. Sẽ có bài thơ "Nước Non", thất ngôn bát cú, luật trắc.

Cương thổ giữ, trung kiên sắt son!
Vững bền mong, thiết tha sinh tồn
Ương gàn quá, đảng độc tàn bạo!
Cốt thiết cần, dân quyền vẹn toàn
Phương Bắc! Ngừa xâm lấn đảo biển!
Cõi bờ phòng, sửa sang làng thôn
Thương nhung nhớ, mến yêu nòi giống!
Vương vấn tâm, nguồn cội, nước non!

- Bài V: Bỏ 2 chữ đầu mỗi câu của bài thơ "Nước Non" (bài IV), thành bài thơ ngũ ngôn, luật bằng.
Giữ trung kiên sắt son!
Mong thiết tha sinh tồn
Quá! Đảng độc tàn bạo!
Cần! Dân quyền vẹn toàn
Ngừa! Xâm lấn đảo biển!
Phòng! Sửa sang làng thôn
Nhớ, mến yêu nòi giống!
Tâm, nguồn cội, nước non!

- Bài VI: Bỏ 3 chữ đầu câu của bài thơ "Nước Non" (bài IV), thành bài thơ mỗi câu 4 chữ.
Trung kiên sắt son!
Thiết tha sinh tồn
Đảng độc tàn bạo!
Dân quyền vẹn toàn
Xâm lấn đảo biển!
Sửa sang làng thôn
Mến yêu nòi giống!
Nguồn cội, nước non!

Nguyễn Lộc Yên

Đại đội 17 - khóa 25 SVSQ trừ bị Thủ Đức của chúng tôi vào tháng 11/1967, là nhân chứng tận mắt ngày xây Nghĩa trang quân đội Biên Hòa và 8 năm sau, tức ngày 30/4/1975 số người sống sót sau cuộc chiến của toán dàn chào nầy, cùng toàn dân miền Nam chứng kiến sự kết thúc của Nghĩa trang đó.
Kính trọng và ưu ái thắp ngọn bạch lạp buổi tối cho ngày 30 tháng tư năm 1975 để tưởng nhớ, để cảm ơn những anh hùng tử sĩ hy sinh cho cuộc chiến Quốc Cộng sau vĩ tuyến 17 và cho nửa triệu thuyền nhân Việt chết trên biển tìm tự do.
Đêm nay ở phương trời xa xăm cũ biết trời có mưa không? Đêm nay trong vòng rào tù ngục có bao nhiêu kẻ (chợt) thức giấc giữa đêm trường nằm mong chờ khắc khoải trong đói lạnh một tiếng súng mơ hồ? Và đêm qua – ở nơi đây – ai có bạc đầu không?
Nhân Ngày ANZAC Day 25/4/2019 Do Ca Nhạc Sĩ Bích Ngọc & Thái Nguyên - Hội Duy Trì & Phát Triển Văn Hóa / Culture Preservation & Development Club - “Cp&Dc” Tổ Chức
Ông Đào Tăng Đĩnh, sinh năm 1923, vào thời kỳ Việt Nam bị Pháp đô hộ. Ông lớn lên trong thời kỳ các đảng phái và phe nhóm quốc gia lẫn cộng sản đứng lên khởi nghĩa chống Pháp
Tôi chỉ kinh ngạc khi nghĩ tới má chạy vào vùng bom đạn để cứu đứa con gái mới hai tháng. Đây là câu chuyện đầu tiên về đời mình tôi được biết – câu chuyện của một đứa bé kẹt ở khúc quanh lịch sử; câu chuyện về tình thương vô điều kiện của người mẹ dành cho đứa con; và câu chuyện trong giờ phút đất nước đổi chủ
Ngày 30 tháng 4 là xương máu của cả 10 triệu nhơn dân Việt Nam đã đổ trong suốt 30 năm dài. Trong thành quả đó, tưởng cũng đừng quên thành tích đóng góp không nhỏ của một bộ phận nhơn dân có đời sống ưu đãi và nhứt là họ không phải phơi mình trên lửa đạn.
Năm đầu tiên vào Sài gòn, tôi được anh chở trên chiếc vespa cà tàng đi khắp nơi. Anh đã giúp tôi chuẩn bị tốt cho kỳ thi vào Cao đẳng Mỹ Thuật Sài gòn dù về sau tôi không theo đuổi nghệ thuật hội họa... Kỷ niệm với anh Du Tử Lê tôi không bao giờ quên và chúng tôi thường nhắc lại mỗi khi ngồi uống café rồi cười với nhau
Đến Ai Cập và Jordan, chúng tôi tự sắp xếp chương trình thăm những nơi mình muốn. Qua Do Thái mấy ngày đầu tự lên lịch tham quan, sau đó nhập vào đoàn người đến từ Mỹ và Úc, trong chuyến hành hương do linh mục Dòng Tên Nguyễn Tầm Thường hướng dẫn.
Tướng Khuyên còn ở Sài Gòn đến ngày 28 tháng 4/1975 mới ra đi. Ông đã ra đi trong khi Sài Gòn đang cơn hấp hối vô phương cứu vãn nổi. Tới Mỹ, Ông xuất gia và tu hành lặng lẽ trong một ngôi chùa cũng lặng lẽ ít đồng hương lễ lạc. Kiếm sĩ Đặng Dung ngày xưa cũng sống như vậy
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.