Hôm nay,  

Hải đồ Mercator (Mercator Nautical Map)

06/08/201400:00:00(Xem: 13264)

Trong những năm tháng gần đây, nhiều thông tin, xã luận có đề cập đến vị trí, toạ độ của các đảo thuộc quần đảo Hoàng sa và quần đảo Trường Sa bằng những điểm được xác định bởi kinh độ và vĩ độ của hải đồ Mercator. Tuy nhiên, có một số người chưa hiểu rõ về kinh độ Đông, kinh độ Tây, vĩ độ Nam, vĩ độ Bắc được thực hiện và tính toán như thế nào. Đôi khi có người lẫn lộn giữa chữ N (North) với chữ N (Nam). Sau khi hiểu được khái quát về phép chiếu hình trụ của Gerhard Mercator thì sẽ hiểu được vị trí có vĩ độ Nam hay vĩ độ Bắc.

Thời gian còn là sinh viên sĩ quan hải quân tập sự trên Hoả Vận Hạm HQ471, Hộ Tống Hạm HQ10 cũng như sau khi tốt nghiệp trường SQHQ Nha Trang phục vụ trên Dương Vận Hạm HQ503, tôi đã thường sử dụng hải đồ Mercator để làm point (có nghĩa là xác định toạ độ của chiến hạm trên biển khơi).

Thông thường, khi chiến hạm nhận lệnh công tác, trước khi rời bến, ban Giám lộ có nhiệm vụ kiểm soát lại các đèn quang hiệu, cờ hải hành, hải đồ Mercator và dụng cụ làm point v.v. Song vào đó, trước khi chiến hạm rời bến, hạm trưởng vẽ trên hải đồ Mercator đường đi từ điểm xuất phát cho tới điểm đến. Nhiệm vụ của sĩ quan trưởng phiên hải hành là phải chịu trách nhiệm việc xác định toạ độ của từng vị trí chiến hạm trong suốt ca hải hành của mình. Thông thường cứ mỗi 15 phút thì định vị một lần. Có nhân viên Giám lộ phụ giúp. Trước khi xuống ca thì sĩ quan trưởng phiên hải hành của ca kế tiếp phải lên trước khoảng 15 phút để nhận bàn giao. Mọi dữ kiện diễn tiến ghi nhận được trong lúc hải hành đều được ghi vào sổ hải hành.

Thật vậy, sĩ quan hải quân ngành chỉ huy phải hiểu rõ và sử dụng hải đồ Mercator như cơm bữa. Khi ra hải ngoại, vào năm 1982 tôi đã ghi danh theo học ngành kỹ thuật tại đại học có tên là Gerhard Mercator University ở thành phố Duisburg, tiểu bang Nordrhein Westfalen thuộc nước Cộng Hoà Liên Bang Đức. Tôi xin ghi lại đôi dòng về công trình thực hiện hải đồ của Gerhard Merctor nhằm tri ân đại học mang tên ông đã cấp cho tôi bằng ban khen vì đã học đúng thời gian quy định và có điểm tốt (good) khi tốt nghiệp.

blank
Bản đồ Mercator đầu tiên năm 1569.

1- Gerhard Mercator là ai và thành phố Duisburg ở đâu?

Kể từ thế kỷ 15, năm 1492, Kha Luân Bố và thuỷ thủ đoàn tìm ra Châu Mỹ, lần nữa đã xác định trái đất là một khối tròn. Gehard Mercator là một nhà địa lý học, chuyên nghiên cứu về hình dạng của quả đất, đất đai biển cả, thực hiện bản đồ, hoạ đồ và là cha đẻ ra hải đồ Mercator (Mercator Nautical Map). Ông đã góp sức rất nhiều cho ngành hàng hải cận duyên và viễn dương cũng như bản đồ trên đất liền.

Ông Gehard Mercator sinh vào ngày 5.3.1512 tại Rupelmonde vùng Grafschaft Flandern. Vùng nầy hiện nay thuộc vùng đất bao gồm 3 nước: Pháp, Hoà Lan và Bỉ. Đó là một vùng đất thấp, tiếp giáp với biển Đại Tây Dương (Atlantic). Khi lớn lên, vào năm 1540, Gerhard Mercator dời qua thành phố Duisburg thuộc Vereinigte Herzogtrmer Jlich-Kleve-Berg vào thời bấy giờ, cách nơi ông được sinh ra khoảng trên 150 km về phía Đông Nam, nơi giao tiếp của 2 giòng sông Rhein đến từ phía Nam và giòng sông Ruhr đến từ phía Đông. Đó là thành phố Duisburg nơi mà ông đã bỏ suốt cuộc đời nghiên cứu vẽ hải đồ Mercator và cũng là nơi mà ông Mercator đã từ giã cõi đời vào ngày 2 tháng 12 năm 1594.

Thành phố Duisburg ngày nay thuộc nước Cộng Hoà Liên Bang Đức, là một thành phố có khu kỹ nghệ luyện sắt thép nổi tiếng. Đó là nhà máy luyện thép Thysen. Phẩm chất sắt thép được sản xuất tại Duisburg tốt nhất thế giới và được xuất cảng đi khắp nơi trên địa cầu cũng như tại Đức quốc. Duisburg cũng là thành phố thuộc vùng có nhiều mỏ than đá nằm ở phía Tây Đức. Duisburg có cảng nội địa lớn nhất Âu Châu, nơi tập trung nhiều tàu chuyển vận hàng hoá như sắt thép, than đá v.v. đi khắp nơi từ thời xa xưa. Nội cảng Duisburg cũng là nơi dùng làm phim trường khá nổi tiếng để đóng phim tội phạm (crime). Đặc biệt là phim “Tatort”.

Duisburg có trường Đại Học Tổng Hợp (Gesamthochschule-Universitaet (University)) mang tên Gerhard Mercator. Phân khoa Luyện Kim cũng như phân khoa Đóng Tàu (Schiffbau) khá nổi tiếng của đại học chuyên nghiệp (Fachhochschule) cũng trực thuộc Đại Học Tổng Hợp nầy. Vào thời kỳ Đệ Nhị Thế Chiến, Duisburg nằm trong khu kỹ nghệ nặng phục vụ chiến tranh và được xem như mục tiêu tấn công đầu tiên của quân đồng minh vào phía Tây Đức gần biên giới Hoà Lan, nên cũng bị tàn phá nặng nề. Tuy nhiên, sau khi chiến tranh chấm dứt, thành phố Duisburg đã được nhanh chóng phục hồi bởi một chính quyền rất tài giỏi của nước CHLB Đức dưới một thể chế pháp quyền tự do dân chủ cùng với những nỗ lực tái thiết đất nước của dân Tây Đức.

2. Phương pháp thực hiện hải đồ Mercator:

Phép chiếu Mercator là phương pháp chiếu góc lên xy lanh hình trụ. Dữ kiện trên xy lanh hình trụ được trải phẳng ra thành bản đồ phẳng. Đặc biệt bản đồ nầy được dùng cho ngành hàng hải gọi là hải đồ Mercator.

Muốn hiểu rõ về phương pháp thực hiện hải đồ Mercator, trước hết phải hiểu rõ về hình dạng của trái đất, kinh tuyến, vĩ tuyến.

2.1 Hình dạng trái đất (die Erde; the earth):

Như đã biết, trái đất là một khối tròn có bán kính gần bằng nhau. Trái đất là một hành tinh quay chung quanh mặt trời trong thái dương hệ. Trái đất có độ dày đặc nhất, lớn thứ năm và là hành tinh thứ ba ở gần mặt trời trong hệ thống năng lượng mặt trời. Đường kính của nó là 12.745 km, xấp xỉ với 40.000 km/p. Số p (đọc là Pi = khoảng 3,1416). Mét (m) được định nghĩa bằng 1/10.000.000 khoảng cách từ xích đạo đến cực Bắc (North Pole) đo qua Paris, Pháp quốc. Đường kính tại đường xích đạo lớn hơn đường kính từ cực Nam đến cực Bắc khoảng 43 km. Sở dĩ có phần phình ra ở đường xích đạo là kết quả của quá trình tự quay của trái đất. Tuổi của trái đất có khoảng 4,53 tỷ năm. Trái đất cách mặt trời khoảng 149.600.000 km. Trái đất là nơi của các sinh vật sống, có ¾ là biển cả, ¼ còn lại là đất liền.

2.2. Kinh độ (Longitude) và Vĩ độ (Latitude) là gì ?:

Trước tiên, Gerhard Mercator chia khối cầu dọc theo hai cực, từ Bắc (North Pole) đến Nam (South Pole) thành 360 đường song song có khoảng cách bằng nhau trên vòng xích đạo, gọi là kinh tuyến (meridian). Mỗi kinh tuyến mang một độ (degree) gọi là kinh độ (longitude). Ông chọn kinh tuyến xuyên qua địa điểm Greenwich ở Anh quốc làm 0° (kinh độ Zero). Kể từ kinh tuyến ngang qua Greenwich về phía Đông có 180 kinh độ Đông (East, 180°E hay E180°) và ngược về phía Tây có 180 kinh độ Tây (West, 180°W hay W180°).

Ngoài ra, dọc theo hướng Bắc Nam, Gerhard Mercator chia khối cầu thành 2 phần: Kể từ đường xích đạo (equator) đến cực Bắc ông chia ra 90 đường song song với nhau gọi là vĩ tuyến (parallel) tương ứng với 90°. Mỗi vĩ tuyến mang một góc độ gọi là vĩ độ (latitude). Có 90 vĩ độ Bắc (Lat. N). Ngược lại, từ đường xích đạo xuống đến cực Nam cũng có 90 vĩ độ Nam (Lat. S) song song với nhau.

Khi nói đến toạ độ người ta phải ghi vĩ độ và kinh độ. Ví dụ: Trân Châu cảng (Pearl Harbor) ở đảo Honolulu có toạ độ là 21°19´11“ N và 157°51´40“ W

blank
Phép chiếu Mercator được trải ra trên mặt phẳng.

2.3. Phép chiếu hình trụ của Gerhard Mercator:

2.3.1. Hệ số tỷ lệ:

Phỏng chừng trái đất có bán kính (radius) a, được thu hẹp như một khối cầu (globe) nhỏ và có bán kính R. Khối cầu sẽ xác định tỷ lệ của bản đồ. Có nhiều phương pháp khác nhau để xác định chi tiết địa lý được hoán chuyển từ khối cầu tiếp xúc với mặt xy lanh của nó ở đường xích đạo. Xy lanh hình trụ được trải ra để cung cấp cho các bản đồ phẳng. Tỷ lệ R/a được gọi là phân số tương ứng representative fraction (RF) hoặc tỷ lệ chính của phép chiếu.

Ví dụ, một bản đồ Mercator in trong một cuốn sách cũng có một chiều rộng ở đường xích đạo là 13,4 cm tương ứng với một bán kính khối cầu 2,13 cm và tỷ lệ tương ứng với quả đất khoảng 1/300M. “M“ được sử dụng như là chữ viết tắt của một sự làm nhỏ quả đất 1.000.000 lần bằng hệ số RF. Bản đồ nguyên thuỷ năm 1569 của Mercator có chiều rộng 198 cm tương ứng với một bán kính quả cầu là 31,5 cm và RF khoảng 1/20M.

2.3.2 Phép chiếu hình trụ:

Như ở trên đã đề cập, phép chiếu bản đồ hình trụ được xác định bởi sự liên kết các tọa độ địa lý của vĩ độ f (từ 0° đến +/- 90°) và kinh độ ? (từ 0° đến +/- 180°) từ khối cầu đến tọa độ trên bản đồ.

2.3.3. Cách tính:

Năm 1599 nhà toán học người Anh Edward Wright cũng đã giải thích toán học về sự chính xác của phép chiếu Mercator.

Trên đây là một hình ảnh của khối cầu (trái đất thu hẹp) với phía Bắc cực được cắt tại góc độ f (hoặc góc độ ? theo hình vẽ). Đường xích đạo là một vòng tròn với bán kính R (R cũng là bán kính của khối cầu) và chu vi là W=2pR. Đường vĩ tuyến ở góc độ f là một vòng tròn với bán kính R.cos(f) và có chu vi 2p.R.cos(f).

Từ xy lanh hình trụ, những tiếp tuyến của khối cầu tại đường xích đạo có hệ số tỷ lệ giữa khối cầu với xy lanh giống nhau. Khoảng cách từ đường xích đạo đến một vĩ tuyến được xác định bởi phương trình y(f), nghĩa là lệ thuộc góc độ f ở từng vĩ độ. Vĩ tuyến ở góc độ f được kéo dài bởi một hệ số tỷ lệ k=1/cos(f) = f giây gọi là (sec f). Hệ số tỷ lệ tương ứng trên kinh tuyến được ký hiệu là h.

blank
Những hệ số tỷ lệ.

Hình học phân tố nhỏ (small element geometry):

Chúng ta hảy khảo sát 2 hình vẽ thuộc bề diện nhỏ sau đây:

a) Những đường kinh tuyến và vĩ tuyến của khối cầu.

b) Những đường kinh tuyến và vĩ tuyến trên phép chiếu hình trụ.

Mối tương quan giữa phương trình y(f) và tính chất của phép chiếu, chẳng hạn như việc hoán chuyển góc độ và sự thay đổi hệ số tỷ lệ được tiếp nối từ hình học giải tích của các phân tố nhỏ trên khối cầu và bản đồ tương ứng. Hình dưới đây cho thấy một điểm P ở vĩ độ f và kinh độ ? trên khối cầu và một điểm Q gần đó ở vĩ độ f + df và kinh độ ? + d?. Các đường thẳng đứng PK và MQ là vòng cung của kinh tuyến có chiều dài Rdf. Đường ngang PM và KQ là vòng cung của vĩ tuyến có chiều dài R(cos f)d?. Những điểm tương ứng trên phép chiếu xác định một hình chữ nhật chiều rộng dx và chiều cao dy.

Phương trình toán học đã giúp cho nhà địa lý vẽ được những vĩ độ, kinh độ trên bề mặt khối cầu cũng như trên xy lanh hình trụ trong phép chiếu hình trụ khá chính xác. Hình trụ được trải lên mặt phẳng sẽ cho ra bản đồ. Đó là hải đồ Mercator.

Bảng liệt kê cho thấy tỷ lệ trên đường xích đạo khoảng 0,99; tỷ số k=1 ở vĩ độ khoảng ± 8°; tỷ số k=1,01 ở vĩ độ khoảng ± 11,4 °.

Ở vĩ độ 30° có hệ số tỷ lệ là k= sec 30°=1,15

Ở vĩ độ 45° có hệ số tỷ lệ là k= sec 45°=1,41

Ở vĩ độ 60° có hệ số tỷ lệ là k= sec 60°=2,00

Ở vĩ độ 80° có hệ số tỷ lệ là k= sec 80°=5,76

Ở vĩ độ 85° có hệ số tỷ lệ là k= sec 85°=11,5

Như vậy, trong bất kỳ hướng nào từ một điểm trên đường xích đạo tương ứng với khoảng 900 km sẽ có khoảng cách tương ứng cho các vĩ độ 20 ° là 846 km, 40 ° là 689 km, 60 ° là 450 km và 80 ° là 156 km tương ứng.

2.3.4. Độ chính xác của phép chiếu Mercator:

Một phép đo chính xác của bản đồ là một sự so sánh về độ dài của các yếu tố đường thẳng tương ứng trên bản đồ và khối cầu. Do đó, qua sự cấu trúc, phép chiếu Mercator là hoàn toàn chính xác, k = 1, dọc theo đường xích đạo và không nơi nào khác. Ở vĩ độ ± 25° giá trị của giây f là khoảng 1,1 giây và do đó phép chiếu có thể được coi là chính xác trong phạm vi 10% trong một dải rộng 50° trên đường xích đạo. Ở những dải hẹp hơn thì chính xác hơn: 8° giây=1,01. Do đó, một dải rộng 16° (trung tâm điểm trên đường xích đạo) thì chính xác trong vòng 1%. Tương tự như vậy 02,56°giây=1,001. Do đó, một dải rộng 05,12° thì chính xác đến 0,1% hoặc gọi là 1/1000. Do đó phép chiếu Mercator là thích đáng cho các nước ở gần xích đạo sử dụng bản đồ Mercator.

2.3.5. Vài địa điểm có toạ độ tiêu biểu:

Một vài ví dụ toạ độ theo phép chiếu hình trụ của Gerhard Mercator tại lãnh hải Việt Nam nằm trên Bắc bán cầu được xác định bởi vĩ độ Bắc (N) và kinh độ Đông (E):

Vị trí phía Nam và phía Bắc của Việt Nam:

Mũi Cà Mau: 8° 20? 23“ N và 104° 57´ 51“ E

Ải Nam Quan: 23° 01? 28“ N và 105° 28´ 52“ E

Vùng quần đảo Hoàng Sa có những toạ độ sau đây:

Paracel Viet Nam: 16°35?52“ N và 112 °46´00“ E

Đảo Hoàng Sa: 16°12?11“ N và 111 °48´38“ E

Cù Lao Ré (Đảo Lý Sơn): 15°22?55“ N và 109 °07´02“ E

Cảng Tiên Sa, Đà Nẵng: 16°06?59“ N và 108 °13´02“ E

Vùng quần đảo Trường sa:

Mốc chủ quyền Trường Sa Việt Nam: 8°35?46“ N và 111 °54´49“ E

Bãi Phúc Nguyên: 7°57?11“ N và 109 °58´56“ E

Đảo Quê Hương: 11°20?38“ N và 114 °18´34“ E

Spratly Island: 10°39?23“ N và 115 °21´21“ E

2.3.6. Đơn vị đo hải đồ Mercator:

Theo góp ý của HQ Châu Đình Lợi, tôi xin ghi thêm đơn vị đo khoảng cách trên hải đồ Mercator. Ở vùng xích đạo, một hải lý (nautical mile) có độ dài khoảng 1852 m được tính như sau:

Như ở trên đã dẫn chứng, chu vi quả đất có khoảng 40.000 km. Trên đường xích đạo, chu vi quả đất được chia thành 360 kinh tuyến (= 360 kinh độ). Mỗi kinh độ có độ dài = 40.000 km / 360= khoảng 111 km. Mỗi độ có 60 phút (1°/60). Vậy mỗi phút (´) có độ dài bằng một hải lý: 111 km / 60° = 1,85185 km = khoảng 1852 m.

KS Nguyễn Văn Phảy

Cựu Trưởng Ban Giám Lộ & Thám Xuất HQ 503

http://navygermany.gerussa.com

Chính trường Mỹ đang từng bước đổi thay triệt để khi gió đã xoay chiều và làn sóng xanh đang dâng cao.. Khác hẳn với những thăm dò và bình luận trước ngày bầu cử giữa nhiệm kỳ ngày Thứ Ba, 3 tháng 11, kết qủa tính cho đến nay, dù chưa là chính thức và cuối cùng, đã cho thấy là Đảng Dân Chủ chiến thắng vô cùng ngoạn mục, vì không những giành lại quyền kiểm soát Thượng Viện, mà còn chiếm được đa số tại Hạ Viện. Với kết qủa này, trong hai năm còn lại của nhiệm kỳ thứ nhì, Tổng thống Donald Trump sẽ phải làm việc với một Quốc Hội do đảng Dân chủ lãnh đạo. Cuối cùng và quan trọng nhất, đa số người dân Mỹ đã lên tiếng nói phản đối trước Trump và chính quyền về các chi phí sinh hoạt, chính sách thuế quan, nhập cư, cuộc chiến với Iran và những bất mãn khác...
Khi một đám cháy bùng lên vì tai nạn chập điện, điều đầu tiên và thông minh nhất con người cần phải làm là ngắt cầu dao điện. Hành động đó không phải để dập lửa, mà là hạn chế nhiều nhất có thể sự cháy rụi. Cầu dao không sửa được hệ thống dây điện. Nó chỉ ngắt dòng điện trước khi ngôi nhà bốc cháy. Sau đó, có thể gầy dựng lại từ đống tro tàn hay không, phụ thuộc vào nhiều thứ khác. Hôm thứ Bảy, 24/10, cựu Tổng Thống Barack Obama đứng trước đám đông ở Cleveland, nói lá phiếu lần này là "cơ hội cuối cùng và tốt nhất để ít nhất kiềm chế phần nào sự ngớ ngẩn" của chính quyền hiện tại. Ông ví nó như một "cầu dao ngắt điện” mà cử tri có thể dùng để buộc chính phủ phải chịu trách nhiệm.
Những người bênh vực bà Stevens coi việc ủng hộ là một hành động theo lương tâm. Theo họ, bà đã vạch một lằn ranh rõ ràng về chủ nghĩa bài Do Thái, El-Sayed không đáp ứng trọn vẹn cho đến khi quá muộn, rồi chiến dịch của ông gạt bà ra ngoài. Mike Rogers gọi bà là "một nhà lãnh đạo can đảm". Donald Trump ca ngợi "sự dũng cảm" của bà trên Truth Social. Những người chỉ trích lại thấy một điều khác: một ứng viên thua cuộc đang muốn “đòi nợ” cuộc bầu cử sơ bộ đã thua. Chính ông El-Sayed đã nêu lập luận này trước ngày Chủ nhật, nói rằng Stevens "dường như quyết tâm khơi lại cuộc sơ bộ đã kết thúc ba tháng trước".
"Các đế chế của trí tuệ nhân tạo: Sự trỗi dậy và sụp đổ của một trật tự mới trong toàn cầu" là một là một công trình nghiên cứu của Niall Ferguson, Lisa Klaassen và Eric Schmidt vừa được khởi đăng trên tạp chí Foreign Affairs trong số tháng 11/12 năm 2026. Ba tác giả thảo luận về tình trang cạnh tranh khốc liệt hiện nay giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc qua các nỗ lực để chế ngự trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo.
Ngày 4/10, tờ The Conversation đăng một bài viết có thể xem như “Cáo Phó Chính Trị” của ông Luiz Inácio Lula da Silva, tổng thống đương nhiệm của Brazil. Ở tuổi 80, tưởng chừng như ông sẽ có cuộc rút lui êm đềm sau bốn thập niên là nhân vật trung tâm trên chính trường. Tối Chủ nhật, 25/10, khi những lá phiếu cuối cùng của cuộc bầu cử được đếm, ông Lula đã làm được điều mà chưa ứng cử viên tổng thống Brazil nào làm được kể từ khi nước này trở lại bầu cử trực tiếp năm 1989. Ông thua ở vòng một nhưng lội ngược dòng ngoạn mục ở vòng hai. Với khoảng 51.8% số phiếu so với 48.2% của Thượng Nghị Sĩ cánh hữu Flávio Bolsonaro, ông Lula chiến thắng nhiệm kỳ thứ tư, chưa có tiền lệ.
Học triết là học cách chết là nhan đề bản dịch Que philosopher, c’est apprendre à mourir chương XX, Tập I của Essais (Các bài tiểu luận) – một trong những chương nổi tiếng và có ảnh hưởng sâu rộng nhất của Montaigne. Nhan đề này gợi lại một truyền thống tư tưởng có từ thời cổ đại, đặc biệt là quan niệm của Plato, Cicero, Seneca và các tác giả cổ điển khác về mối quan hệ giữa triết học và sự chuẩn bị cho cái chết.
Trong Tương Ưng Bộ Kinh (Samyutta Nikàya), đức Phật đã nói đến sự quý giá của sự sống khi sinh được làm người qua thí dụ con rùa mù ở đáy biển. Đức Phật kể rằng có một con rùa mù ở dưới đáy biển cứ mỗi một trăm năm mới nổi lên mặt biển một lần. Trên mặt biển có một khúc gỗ rỗng ruột đang trôi nổi khắp bốn phương, đông, tây, nam, bắc, theo chiều gió thổi và dòng thủy triều. Vậy mà cơ hội để con rùa mù tìm được và chui vào khúc gỗ rỗng ruột kia lại dễ hơn cơ hội để chúng ta sinh ra được làm người. Đức Phật cũng đã từng nói rằng trong các loài hữu tình như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, phi thiên và chư thiên thì loài người có được lợi thế để đoạn tận khổ đau và đạt đến giải thoát mà các loài kia không có. Đức Phật giải thích sở dĩ như vậy là vì loài người không quá khổ như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh và không quá khoái lạc như các vị trời để khó lòng nghĩ tới chuyện tu tập mà giác ngộ và giải thoát.
Tài tử Richard Chamberlain, người đóng vai Đức Cha Ralph de Bricassart trong tác phẩm điện ảnh The Thorn Birds năm 1983, công khai mình là người đồng tính ở tuổi 69, trong cuốn hồi ký Shattered Love, xuất bản năm 2003. Khi đó, ông đã giã từ màn ảnh. Nghĩa là không có gì khiến ông phải lo sợ là hình ảnh Cha Ralph đáng kính và vô cùng tội nghiệp giữa ranh giới giữa tình yêu dành cho nàng Meggie và Chúa Jesus, sẽ bị hủy hoại trong lòng khán giả.
Và khi chính những người Cộng hòa lên tiếng phản đối, JD Vance, phó tổng thống Hoa Kỳ, bảo họ hãy im lặng. Phát biểu tại Ohio hôm thứ Tư, Vance nói ông thấy “ghê sợ” nhưng không phải vì quảng cáo, mà vì những người Cộng Hòa than phiền về nó nhiều hơn Dân Chủ. Ông ta thẳng thừng khuyên các đồng đảng “hãy thôi than vãn về một mẩu quảng cáo và hãy chiến thắng cuộc đua trong 13 ngày tới.” Khi được hỏi quảng cáo có phù hợp không, ông nói điều đó không thật sự là mối bận tâm của mình.
TNgụ ngôn Sói Và Cừu Non của Jean de La Fontaine kể chuyện một con sói đứng đầu dòng suối, thấy con cừu non đang uống nước phía dưới, liền nổi giận buộc tội cừu làm đục nước. Cừu lễ phép thưa rằng mình đứng phía hạ lưu, nước chảy từ chỗ sói xuống, làm sao có thể khiến nước phía trên đục được? Sói liền đổi tội: Năm ngoái mày đã nói xấu tao. Cừu đáp: Năm ngoái con còn chưa ra đời. Sói bảo: Vậy thì anh mày. Cừu thưa: Con không có anh. Sói kết luận: Vậy thì một đứa nào đó trong nhà mày. Nói xong, sói tha cừu non vào rừng ăn thịt. La Fontaine đặt ở đầu truyện một câu nổi tiếng: « La raison du plus fort est toujours la meilleure. » Lý lẽ của kẻ mạnh bao giờ cũng là lý lẽ thắng thế.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.