Hôm nay,  

Thời Của Sư Phụ

14/02/201500:00:00(Xem: 4926)
Báo Xuân hay Báo Tết?

Báo chí Việt nam hằng năm, cứ đến ngày Tết, giử truyền thống gần như bất di, bất dịch là cho phát hành một số báo đặt biệt “Số báo Xuân”. Khi số báo Xuân có nhiều bài vở về biên khảo, văn chương,… hơn thông tin thường ngày còn được gọi là “Giai phẩm Xuân”.

Báo Xuân phát hành xong, nhà báo vẫn tiếp tục những số báo thường ngày cho đến ngày nghỉ Tết. Số báo cuối năm thường cũng nhiều trang, nhiều màu, hình bìa lộng lẫy và bên trong cũng có nhiều bài nhắc lại năm củ như tổng kết, liên quan tới năm mới như gởi gắm ước mơ. Đó là sốt báo Tất niên. Giá bán cao hơn giá báo hằng ngày. Một dạng báo Xuân thu ngắn!

Nghỉ Tết xong, nhà báo trở lại làm số báo đầu năm gọi là số Tân niên. Báo cũng nhiều trang, cũng hình bìa màu mè,…

Chắc chỉ có báo Việt nam mới có Báo Xuân. Ở Việt nam, vào đầu thập niên 60, còn tờ nhựt báo pháp ngữ “Le Journal dExtrême-Orient” không có số báo Xuân như báo Việt nam.

Nhưng báo Xuân Việt nam xuất hiện từ năm nào?

Có lẽ Đông Pháp Thời Báo Xuân xuất hiện năm Mậu Thìn, 1929, là tờ báo Xuân đầu tiên ở Việt nam. Từ năm sau, các báo tiếp theo làm báo Xuân là Thần Chung, Phụ Nữ Tân Văn, năm 1930, Công Luận năm 1931, Trung Lập năm 1933, Đuốc Nhà Nam năm 1935,…

Báo Xuân là số báo dành cho năm mới nên báo nhứt định phải có bài dành riêng cho năm đó. Năm con gì, người ta sẽ làm thịt đủ món con vật đó, từ văn chương, bói toán, y lý, dinh dưởng, ẩm thực, …

Nhưng ở hải ngoại nói báo Xuân thì không đúng. Một nghịch lý nổi cợm bất kỳ ở đâu. Nói báo Tết đúng hơn nhưng đã là truyền thống nên không thay đổi được.

Vậy Báo Xuân Việt nam năm nay 2015 nhứt thiết phải nói tới con dê.

Mà nói tới con dê là điều cấm kỵ. Một thứ phạm húy hay nghiêm trọng hơn, là phạm thượng. Vì nói tới Sư Phụ. Theo đạo lý thánh hiền thì Quân Sư (phụ) …làm đầu. Nhưng tại sao người làm báo lại không biêt kiêng cử?

Tuổi Dê hay tuổi Mùi

Theo sách bói toán, Dê vì hiện thân Sư Phụ nên rất thanh lịch, quyến rũ, yêu nghệ thuật,…Từ đó người ta luận ra người sinh ra ở năm dê cũng vô cùng sáng tạo. Họ tinh tế trong cách cư xử và luôn quyến rũ khiến nhiều người ngưỡng mộ. Nhứt là phái nữ.

Con gái tuổi dê/mùi rất thưận lợi về tình yêu. Họ thẳng thắng bày tỏ tình cảm với người mình yêu, quan tâm chăm sóc người yêu. Trong đời sống gia đình, người phụ nữ tuổi mùi đảm đang, biết giử gìn hạnh phúc gia đình.

Con trai tuổi mùi chân thành với tình yêu, chết bỏ cho tình yêu nên khiến người yêu hài lòng. Họ chung thủy với tình yêu, dốc hết sức lực xây dựng gia đình hạnh phúc.

Phải chăng vì vậy mà người đời ca ngợi tuổi mùi và than trách thân phận không sanh nhằm tuổi mùi:

“Người ta tuổi Ngọ, tuổi Mùi,
Em đây luống những ngậm ngùi tuổi Thân” (Ca dao).

Vận mệnh người tuổi mùi là sung sướng, cả nam lẫn nữ. Còn năm ngọ cũng là năm thành đạt cho người sanh vào năm này. Hai năm liền đều tốt:

“Năm Ngọ, mã đáo thành công
Năm Mùi, dê béo, rượu nồng phủ phê” (Vè miền quê)

Dê và Mùi

Mùi sao là Dê được? Chữ hán Dê là Dương kia mà? Các con giáp khác cũng vậy. Năm Ngọ là năm Ngựa. Không ai nói năm Mã bao giờ. Vậy Mùi, Ngọ không phải là tiếng hán Việtn mà là tiếng Việt thuần túy? Cỏ May có đem điều này hỏi một Cụ Đồ ở Paris thì cụ cũng chịu thua.

Trong gần đây có đọc hai học giả về Việt nam: Ông Nguyễn Cung Thông ở Melbourne, Úc và Ông Đặng Tiến ở Pháp. Cả hai ông đều giải nghĩa Mùi đúng là Dê theo chữ Việt cổ. Và Mùi còn đọc là Vị, chữ hán cổ và cách đọc này phổ thông hơn (theo Thiều Chửu).

Mùi/Vị có nghĩa liên hệ tới giác quan là khác tuy cùng gốc chữ (từ nguyên). Riêng chữ Vị có nhiều nghĩa hơn và ghép với nhiều chữ khác còn lưu hành ngày nay. Như “Vị lai, Vị thành niên, …

Ông Nguyễn Cung Thông nhấn mạnh sự tự tin của ông: “Tóm lại, ta có cơ sở rất vững chắc để kết luận âm Mùi là âm cổ hơn của Vị. Không những thế, phạm trù nghĩa của Mùi tiếng Việt chỉ giới hạn trong các ý chỉ 12 con giáp”.Nhưng người ta không dùng chữ Mùi thay cho Vị để nói “Mùi hôn phu - Chồng chưa cưới, Mùi thành niên – Chưa tới tuổi thanh niên.

Cách dùng chữ Mùi như trên tương ứng với nghĩa cổ nhất của Mùi chỉ thời gian/Thập Nhị Chi.

Tác giả Đặng Tiến nói rỏ và đơn giản Mùi/Vị có nghĩa là Dê, tức năm Dê hay năm Mùi. Còn ông Nguyễn Cung Thông thì cắt nghĩa theo khoa học nên rất phức tạp. Người không giỏi chữ Hán và chữ Nôm khó theo dõi. Cỏ May chỉ biết nhắm mắt tin theo lời gỉải thích của ông mà thôi.


Ở Miền Trung có bài hát ru em trong đó có chữ Mùi/Muồi. Không biết phải khi viết lại từ lời hát, người ta tôn trọng luật chánh tả mà viết mùi thành muồi?

“Ru em buồn ngủ buồn nghê
Con tằm chín đỏ, con dê chín mùi (muồi)
Con tằm chín đỏ để lại mà nuôi,
Con dê chín mùi (muồi) làm thịt em ăn”.

Dê là biểu tượng giàu ý nghĩa

Theo sách vở, Dê xuất hiện từ thời tiền sử cùng với loài người. Dê có mặt trong đời sống vật chất và tâm linh của lơài người. Thời Hồng Bàng, người Việt đã biết "giết trâu dê làm đồ lễ". Nghĩa là con dê đã được nuôi làm gia súc và sử dụng vào việc tế lễ.

Biểu tượng Dê khá phức tạp. Theo thần thoại hi-lạp, Dê Cái là hình ảnh đáng kính yêu vì là nghĩa mẫu của thần Zeus, vị thần của các thần. Dê còn là hình ảnh con người gian nan vượt núi trèo non để mưu sinh và đeo đuổi lý tưởng. Sừng dê cái biểu tượng sức sản sinh và sự phồn thịnh.

Ngược lại, dê đực tượng trưng cho sức mạnh nam tính, sự hùng dũng và nhu cầu tính dục. Mà thật vậy, chỉ cần một con đực có thể phục vụ cả đàn dê cái mà vẫn giử được phong độ tay chơi như thường.

Trông gương Dê bản lảnh như vậy, người đời ai mà không bái phục nên Dê mới được tôn lên hàng Sư Phụ!

Tuy vậy, miệng đời thường ác nên biêu ríu Dê. Người ta gọi những người đàn ông thấy phụ nữ là muốn nhảy xỏm tới là Dê. Người dê thiếu văn minh bị đặt tên là dê xồm và còn bị xỉ vả nặng lời:

Dê xồm ăn lá khổ qua

Ăn nhằm sâu rợm, chết cha dê xồm:

Hoặc ác hơn khi người phụ nữ bị dê thiếu lịch sự, không chịu được nữa, bèn nguyền rủa:

Phượng hoàng đậu nhánh sa kê
Ông thần không vật mấy thằng dê cho rồi.

Kẻ dê ra vẻ đạo mạo thì đó là dê cụ. Người thấy gái đẹp thì tìm cách kín đáo “tiếp cận” bằng thái độ vì không dám ngỏ lời bị mang tiếng là người có máu dê.

Chưa đủ. Tên Dê còn được dùng thành động từ: dê gái.

Thật tội nghiệp cho Sư Phụ. Người ta chê cười Sư Phụ nhưng trong thâm tâm ai cũng mong muốn được bản lảnh như Sư Phụ.

Nhưng vì khó tiếp thu được tài đức của Sư Phụ, người đời nghĩ bắt Sư Phụ bỏ vô bụng thì chắc hưởng được phần nào của Sư Phụ. Vậy là họ ngưởng mộ Sư Phụ theo văn hóa ẩm thực và dinh dưởng.

Dê béo là dê thịt ngon nhất, một món ăn khá hấp dẫn được kể một trong ba cái thú vị mà con người ca ngợi, không ai là không thèm khi nói đến. Tuy nó thiên về vật chất quá, nhưng cũng là người trần mắt thịt mà, xin đừng chấp. Vả lại cũng vì Sư Phụ khiêu khích thôi:

Thế gian, ba sự khôn chừa

Rượu nồng, dê béo, gái vừa đương tơ (Ca Dao).

Ăn được thịt Sư Phụ không khác gì ma quỉ thèm ăn được thịt Đường Tam Tạng để sống thọ ngàn năm. Ăn thịt Sư Phụ thì thanh niên chạy rong khắp xóm làng, các cụ bảy tám mươi thì khỏi cần phải 1 viên viagra để giúp đi tiểu cho khỏi ướt mủi giày, mà còn khôi phục lại thời oanh liệt trong giấy lát.

Chính Cố Giáo sư Đông Y Đỗ Tất Lợi quả quyết: ” Thịt dê có tánh nhiệt và có tác dụng trợ dương, bổ huyết, rất tốt cho phụ nũ mới sanh nở ”. Ngày nay, người ta biết rỏ thịt dê bổ dưởng, không mở, không có cholesterol, cho nhiều chất dinh dưởng hơn cả thịt bò.

Hầu như tất cả bộ phận của cơ thể dê đều có thể xử dụng để làm thuốc. Dái dê và thận dê giàu tánh bổ dương. Xương nấu cao. Thị dê có tác dụng giải độc, bổ huyết, trị choáng váng, đau lưng, chóng mặt, nhức đầu, …

Thật tội nghiệp cho Sư Phụ. Thân của Sư Phụ, người đời làm thịt để họ bồi dưởng. Lúc khỏe mạnh, Sư Phụ còn ra sức kéo xe phục vụ nhà vua vào buổi tối. Nhưng vai trò của Sư Phụ là lãnh đạo nhà vua vì Sư Phụ đi đâu, nhà vua theo đó:

“… Phải duyên hương lửa cùng nhau
Xe dê lọ rắc lá dâu mới vào …” (Cung oán)

Năm nay, Sư Phụ tới, phải chăng là thời của Sư Phụ:

“Mã đề, dương cước, gian hùng tận …”? (Sấm Trạng Trình: anh hùng tãn)

Xưa nay, Sư Phụ đã bao nhiêu lần xuất hiện nhưng tình hình xứ Viêt nam của Sư Phụ chi tồi tệ thêm dưới chế độ cộng sản. Lời tiên tri của Cụ Trạng Trình không ứng nghiệm. Phải chăng vì Cu Trạng dạy “anh hùng tận ” mà ở Việt nam với cộng sản không có anh hùng? Lénine, Staline, Mao đều là những tên gian hùng. Hồ Chí Minh là tên tà-lọt của trùm gian hùng.

Xin mời nghe một bà mẹ ở Hà nội định nghĩa anh hùng: “ Con ơi! Con nên nhớ đảng ta là đảng anh hùng. Con ra tới ngò là gặp ngay anh hùng. Đi, con nhớ cẩn thận khóa xe đạp bằng 6 khóa. Con nhé. Cả gia tài của nhà ta đó!”

Nguyễn thị Cỏ May

Năm nay đánh dấu kỷ niệm mười năm thành lập “SK/VĐ&CĐ” (SK/VĐ&CĐ) của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, dự án phát triển cơ sở hạ tầng lớn nhất và đầy tham vọng nhất trong lịch sử nhân loại. Trung Quốc đã cho vay hơn 100 ngàn tỷ đô la Mỹ cho hơn 100 quốc gia qua chương trình này, nó làm giảm chi tiêu của phương Tây ở các nước đang phát triển và dấy lên lo ngại về sự lan rộng quyền lực và ảnh hưởng của Bắc Kinh...
Vào tháng 7, Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan cho biết rằng cuối cùng ông sẽ từ bỏ phản đối Thụy Điển gia nhập Minh Ước Bắc Đại Tây Dương (NATO). Hungary, quốc gia ủng hộ lệnh cấm của Thổ Nhĩ Kỳ, cũng có dấu hiệu cho thấy họ sẽ không cản trở việc Thụy Điển gia nhập nếu Thổ Nhĩ Kỳ bật đèn xanh. Điều đó có nghĩa là, sau cuộc bỏ phiếu theo thủ tục vào mùa thu này, Thụy Điển sẵn sàng trở thành thành viên thứ 32 của NATO.
Ngày 2 tháng 9 năm 45, ông Hồ Chí Minh long trọng đọc Tuyên Ngôn Độc Lập tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội. Bữa đó, tui không có mặt. Lý do: không phải vì quá bận, hay vì có chuyện chi đó (đố kỵ) với đám Cộng Sản mà chỉ vì tôi chưa kịp… ra đời! Dù sinh sau đẻ muộn, tôi cũng nghe được hơi nhiều chuyện “không được tử tế gì cho lắm” quanh cái ngày này, ngày khai sinh ra cái gọi là nước “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà.” Trước hết, xin ghi lại vài mẩu tin có liên quan đến ông Nguyễn Hữu Đang, Trưởng Ban Tổ Chức Ngày 2 Tháng 9, được trích dẫn nguyên văn từ những cơ quan truyền thông (*) của Nhà Nước, mười lăm năm sau đó
Mặc dù những bất đồng là phổ biến giữa các nhà lãnh đạo được bầu và các thống đốc Ngân hàng trung ương, nhưng chúng lại không bình thường ở các quốc gia độc đảng. Khi chúng xảy ra, đó thường là dấu hiệu của một cuộc tranh giành quyền lực. Điều đó dường như đang xảy ra ở Việt Nam, quốc gia đang phải chịu suy thoái kinh tế và có thể sẽ không đạt được mục tiêu tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội 6,5% cho cả năm. Theo những người quen thuộc với tình hình, mặc dù bất cứ điều gì gần với mức đó sẽ khiến nhiều thị trường mới nổi ghen tị, nhưng việc không đạt được mục tiêu trên có thể gây tổn hại đến sự nghiệp của Thủ tướng Phạm Minh Chính.
Lời người dịch: Trong bài viết sau đây, tác giả Jeffrey D. Sachs đưa ra ba luận điểm thiếu thuyết phục. Một là, nền kinh tế Trung Quốc đình đốn phần lớn là do Mỹ gây ra nhằm làm chậm mức tăng trưởng của Trung Quốc. Làm như vậy, Mỹ đã vi phạm các quy tắc của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và là mối nguy hiểm cho sự thịnh vượng trong toàn cầu. Do đó, Mỹ nên dừng lại. Cuộc thương chiến giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ không phải chỉ Hoa Kỳ đơn phương gây ra và còn tiếp diễn. Cả hai đang tận dụng mọi ưu thế để cải thiện vị thế của mình. Ai sẽ có khả năng làm cho đối phương suy yếu kinh tế, còn cần nhiều thời gian và nỗ lực. Các chính sách ngăn chận của Trump và Biden đã có kết qủa tốt đẹp. Ai sẽ thắng cử trong năm 2024 cũng phải tiếp tục phát huy thành quả này.
Cách đây chưa lâu, tôi có được gặp một người từ Việt Nam sang Pháp du ngoạn. Mặc dù vẫn sung sức trong độ tuổi làm việc nhưng nhân vật của chúng ta có thể thư thả rong chơi nhiều tháng ngày tại xứ người. Không chỉ thể hiện sự mãn nguyện về đời sống riêng tư, nhân vật còn cho thấy nhiều sự lạc quan về xã hội...
Nhà xuất bản Người Việt Books giới thiệu tập Ký (xuất bản năm 2018) của Đinh Anh Quang Thái “như nén hương lòng thắp tạ những nhân vật của một thời”: Hồ Hữu Tường, Hoàng Cơ Trường, Trần Văn Bá, Nguyễn Tất Nhiên, Như Phong Lê Văn Tiến, Đỗ Ngọc Yến, Nguyễn Chí Thiện, Đoàn Kế Tường, Nguyễn Ngọc Bích, Bùi Bảo Trúc, Trần Hồng Hà…
Chuyến thăm chính thức Việt Nam của Tổng thống Joe Biden từ ngày 10 đến 11 tháng 9 nhằm nâng quan hệ ngoại giao hai nước lên cấp “chiến lược” là hành động chinh trị giúp các nước Á Châu và Thái Bình Dương an tâm, nhưng sẽ khiến Trung Quốc nhăn mặt...
Sau khi Trung Quốc gia nhập kinh tế thế giới vào năm 1978, đất nước này đã trở thành câu chuyện tăng trưởng ngoạn mục nhất trong lịch sử. Cải cách nông nghiệp, công nghiệp hóa, thu nhập gia tăng đã đưa gần 800 triệu người lúc đó thoát khỏi cảnh nghèo đói cùng cực. Sản xuất chỉ bằng 1/10 so với Hoa Kỳ vào năm 1980, nền kinh tế Trung Quốc hiện nay có quy mô bằng khoảng 3/4. Tuy nhiên, thay vì quay trở lại con đường tăng trưởng sau khi chính quyền Cộng sản Trung Quốc (CSTQ) từ bỏ chính sách “Zero-Covid” vào cuối năm 2022, nó lại đang có triệu chứng chao đảo từ bờ mương này sang bờ mương khác.
Tới cuối thế kỷ, cũng từ Hải Phòng, Việt Nam lại phát động một phong trào Đông Du khác, ngó bộ rầm rộ và khí thế hơn nhiều. Đợt này thì Bách Khoa Toàn Thư Wikipedia (Hà Nội) chưa kịp cập nhật, tôi cũng chỉ biết được (phần nào) là nhờ nghe qua nhà văn Bùi Ngọc Tấn. Ông kể lại mẩu chuyện nhỏ của một vị bác sĩ, một ông công nhân và một chàng thủy thủ – cả ba đều là nhân viên thuộc công ty Liên Hợp Hải Sản Biển Đông – và chuyến Đông Du ngắn ngủi của họ (vào năm 1990) khi Nhà Nước Việt Nam vừa quyết định mở cửa ra với thế giới bên ngoài
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.