Hôm nay,  

Nguyễn Du Qua Mộ Tỷ Can

14/01/201710:13:00(Xem: 6416)

NGUYỄN DU QUA MỘ TỶ CAN
 

TS PHẠM TRỌNG CHÁNH
 

               Trên đường đi sứ năm 1813 từ 9-8 đến 22-8 năm Quý Dậu, Nguyễn Du đi qua địa phận huyện An Dương tỉnh Hà Nam. An Dương là kinh đô cuối cùng nhà Thương. Mộ Tỷ Can ở ngoài thành Vệ Huy năm dậm, bên đường có tấm bia đá lớn khắc bảy chữ : Ân Thái Sư Tỷ Can chi mộ. Trước mộ bậc  hiền nhân trung thần, Nguyễn Du đã xúc động không ngăn dòng lệ, viết bài thơ  Mộ Tỷ Can .

               Tỷ Can là chú vua Trụ, là vị vua cuối cùng nhà Thương rất tàn bạo. Trụ Vương giết chú là trung thần, làm Thái Sư thường can gián nên bị vua Trụ ghét. Tỷ Can can gián luôn ba ngày Trụ cả giận nói : Tỷ Can tự cho là thánh nhân, ta nghe nói tim thánh nhân có bảy lỗ bèn ra lệnh mỗ tim Tỷ Can ra xem.  Chuyện Tỷ Can trung thần là một đề tài lớn trên sân khấu Kinh Kịch của Trung Quốc, Hát Bội và Cải Lương của Việt Nam. Ngày nay cũng đã được Đài Loan, Trung Quốc dựng thành phim truyện.
 

               Nhà Thương còn gọi là nhà Ân, hay Ân Thương, là triều đại  nối tiếp nhà Hạ và trước nhà Chu, theo Trúc Thư niên kỷ khoảng 1556 TCN và 1046 TCN, nhưng theo tính toán của Lưu Hâm thì khoảng 1766 TCN tới 1122 TCN, bắt đầu từ Vua Thành Thang và kết thúc là Vua Trụ. Nổi lên phía Tây châu thổ sông Vị và thống nhất đồng bằng phía bắc Trung Quốc. Xây dựng một đế chế, chinh phục các nước chư hầu, biến vua các nước đó thành đồng minh phụ thuộc, kiểm soát công việc cai trị và thu thuế. Văn minh nhà Thương đạt mức cao thời đại đồ đồng, kiểm soát các tỉnh Sơn Tây, Sơn Đông, Hà Bắc, Hà Nam. Thủ đô khởi đầu ở đất Bạc, 7 lần dời đô, thủ đô cuối cùng thời Trụ Vương ở An Dương tỉnh Hà Nam.

               Nguyễn Du viết : Cơ Tử chú vua Trụ giả điên  để khỏi bị Trụ giết,  Vi Tử  anh của vua Trụ, thấy Trụ bạo ngược quá phải trốn đi; cả hai đều được toàn thân. Tại bến Mạnh Tân, Chu Cơ Phát tức Chu Vũ Vương họp tám trăm  chư hầu để đánh Trụ. Tỷ Can cương trực không sợ bị giết, thường can gián vua Trụ nên bị Trụ ghét, giết hại. Khổng Tử nói :  Hữu sát thân dĩ thành nhân (Chịu chết để thành người nhân. Một gò mộ cây cỏ đã « thành nhân ». Tận mắt viếng thăm ngôi mộ Tỷ Can không thể nào không rơi lệ. Dưới đất có người có thể cùng giao du kết bạn. Ngụy Trưng, Tể Tướng thời Đường Thái Tôn hay nói thẳng để can vua, bị vua gọi là « điền xá hán », lão nhà quê. Ngụy Trưng chia hai loại trung thần là người can vua mà bị giết, như Tỷ Can can vua Trụ, và lương thần là tôi hiền (can vua mà không bị giết) như ông ta. Nguyễn Du gọi Ngụy Trưng là lão nhà quê tham sống nhục. Đã can vua thì sợ gì sống với chết,  can vua là vì lẽ phải, vì sự hưng vong của đất nước, triều đại mà can vua. Sự can gián, như  thuốc đắng chữa được bệnh tật, lời hay lẽ phải thường nghịch nhĩ, trái tai, vua không muốn nghe. Nếu cứ theo ý vua , nói lời  ngon ngọt, bùi tai thì, vua cứ như ngựa quen đường cũ, hoang dâm vô độ, hoang phí xây dựng cung đình, dân chúng đói khổ, giang sơn xã tắc đến hồi cùng kiệt, rồi sụp đổ, mất nước, trách nhiệm ở người làm quan làm tướng lo việc nước, thì chia trung thần với lương thần là chuyện hồ đồ.

               Chuyện xưa đổ bao tội lỗi vua Trụ vào Đắc Kỷ : Vua Trụ ngày đêm đắm say giao hoan với Đắc Kỷ, hao phí tiền của nhân dân để xây cung vàng điện ngọc, đài cao. Trụ đã mê man trước sắc đẹp của Đắc Kỷ không còn biết đến chuyện triều chính. Vua không còn biết lẽ phải, không còn biết suy xét việc nước, gặp vua như thế thì chỉ có thể làm nịnh thần chứ không thể nào làm lương thần được. Khi lòng dân không còn nữa, một trận Mục Dã năm 1122 TCN toàn quân nhà Thương đã nhanh chóng tan rã. Trụ Vương chỉ còn biết lên Lộc Đài tự thiêu mà chết. Đáng thương cho Đắc Kỷ cũng bị giết, và ngàn năm sau vẫn đổ tội lỗi cho sắc đẹp làm nghiêng thành, đổ nước.
 

MỘ  TỶ  CAN

Giả điên, trốn tránh được toàn thân,

Hội tám trăm chư hầu Mạnh Tân.

Bảy lỗ có tim nào ngại mổ,

Một gò cây cỏ bậc thành nhân.

Thấy mồ cảm xúc không ngăn lệ,

Dưới đất mai sau có được gần,

Lão  Ngụy nhà quê tham sống nhục,

Hồ đồ phân biệt trung, lương thần.

bản dịch Nhất Uyên
 

Nguyên tác phiên âm Hán Việt

TỶ  CAN  MỘ

Độn cuồng quân tử các toàn thân,

Bát bách chư hầu hội Mạnh Tân.

Thất khiếu hữu tâm an ty phẫu.

Nhất khâu di thực tận thành nhân.

Mục trung sở xúc năng vô lệ,

Địa hạ đồng du khả hữu nhân.

Tàm quí tham sinh Ngụy đìền xá,

Trung lương hồ loạn cưỡng tương phân.
 

               Ngô Thì Nhậm trên đường đi sứ cáo tang vua Quang Trung năm 1792 và cầu phong cho vua Cảnh Thịnh đã đi ngang qua thành Vệ Huy và viết bài thơ : Ngôi  mộ ông Tỷ Can Thái Sư nhà Thương: Không nỡ ngồi nhìn cuộc điên đảo, suy đồi của nhà Thương. Tấm lòng trung tiết, như ánh sáng mặt trời, mặt trăng rạng rỡ mà chuyển vòng. Người giả điên, người trốn đi, còn ai lo việc tổ quốc. Can gián thẳng lời, đâu dám phụ nhà vua đương thời. Nếu  trái tim bảy lỗ của người nhân không bị mỗ xem. Thì áo nhung phương bá nhà Chu, cũng xếp xó. Di tích sáu, bảy đời vua hiền thánh, nay đều mai một. Chỉ tấm bia mọc rêu nơi xóm vắng đầu gò, còn để dấu thơm.
 

NGÔI MỘ ÔNG TỶ CAN THÁI SƯ NHÀ ÂN

Không nở nhìn triều Thương nát tan,

Lòng trung xoay chuyển sáng trời trăng.

Kẻ điên, người trốn ai lo nước,

Can gián lời ngay chẳng phụ vương.

Người nhân tim lỗ không bị mỗ,

Phương bá binh nhung hẵn chẳng thành.

Bảy đời hiền thánh nay mai một,

Đầu bia xóm vắng vẫn thơm danh.

bản dịch thơ Nhất Uyên
 

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

ÂN THÁI SƯ TỶ CAN CHI MỘ

Bất kham điên đảo thị suy Thương,

Trung tiết chiêu hồi nhật nguyệt quang.

Cuồng, độn cánh thùy ưu cố quốc,

Qui châm hà cảm phụ thời vương.

Nhân nhân tâm khiếu phi tường ngược,

Phương bá y nhung thả hối tàng.

Lục thất thánh hiền di tích diểu,

Lũng đầu cô ổ tiểu bi hương.
 

Chú thích:

Chiêu hồi: sáng láng mà chuyển vòng. Kinh Thi có câu Chiêu hồi vu thiên, nghĩa là sáng quanh trên bầu trời, chỉ sông Vân Hán. Đây tác giả dùng chỉ mặt trời, mặt trăng.

Cuồng, độn: Cơ Tử chú vua Trụ can không nghe bèn xỏa tóc, giả điên dại, làm người nô dịch. Vi Tử anh vua Trụ can không nghe, mang đồ tế tự chạy đến nhà Chu, để giữ lấy tông thống nhà Thương.

Qui châm : qui gián, can ngăn

Nhân nhân : người có đạo nhân, lấy ý câu nói của Khổng Tử : « Ân hữu tam nhân », nghĩa là nhà Ân có ba người nhân chỉ Cơ Tử, Vi Tử và Tỷ Can.

Phương bá : Trưởng chư hầu một địa phương, đây chỉ Vũ Vương nhà Chu. Trụ phong Văn Vương (cha Vũ Vương) làm hầu bá phương tây, gọi là tây bá, chuyên việc chinh phạt. Văn Vương chết, Vũ Vương kế chức tây bá, hợp tám trăm chư hầu đánh Trụ dựng nên cơ nghiệp nhà Chu.

Y nhung : quân phục, áo mặc quân sự. Kinh Thư có câu : « Nhất nhung y, thiên hạ đại định ». Một tấm nhung y , mà thiên hạ đại định, chỉ việc Vũ Vương đánh Trụ.

Lục thất thánh hiền : Mạnh Tử có câu : « Do Thang chí  ư  Vũ Đinh, hiền thánh chi quân lục thất tác ». Nhà Ân từ Thang đến Vũ Đinh, các vua hiền thánh sáu bảy đời dấy lên.
 

               Đoàn Nguyễn Tuấn trong Hải Ông thi tập, khi đi sứ  mùa hạ năm Canh Tuất (1790) trong phái bộ Phan Huy Ích. Qua phía Bắc sông Hoàng Hà, cố đô Triều Ca của nhà Thương. Thời Chiến Quốc nơi đây thuộc thành nước Vệ, có miếu các tiên chủ nhà Ân Thương. Ông viết bài Qua cố đô nhà Ân : Nghe nói Triều Ca là cơ nghiệp cũ của vua Trụ. Bồi hồi bỗng chạnh nhớ chuyện đã qua. Dù  là bậc thánh hiền, làm gì có vận nước ngàn năm. Nhân từ hay bạo ngược rốt cuộc chỉ như nửa ván cờ. Câu này có ý nói Nhà Ân có sáu bảy ông vua hiền thánh nhưng cũng không truyền được vận nước đến nghìn năm. Dù nhân từ như các vị vua thánh hiền hay bạo ngược như vua Trụ đi nữa, đến nay cũng đã trở thành quá khứ. Tiếng hát buồn thương của Cơ Tử còn vương trên đồng lúa mạch. Sau khi Võ Vương diệt Trụ. Cơ Tử, chú vua Trụ, cựu đại thần nhà Ân qui thuận nhà Chu. Khi ông về triều bái lăng miếu nhà Chu, đi qua cố đô nhà Ân thấy cung điện đổ nát, lúa mạch mọc xanh tốt, bèn làm bài thơ Mạch tú, nói lên nỗi đau thương của mình đối với cảnh điêu tàn triều đại cũ. Lời can trung trực của Tỷ Can vẫn còn lưu lại trên tấm bia cao lớn : « Ân Tỷ Can chi mộ », tương truyền năm chữ đó là bút tích Khổng Tử. Chuông vạc các triều đại nay ở nơi nao ? Chỉ còn lại mồ hoang lạnh lùng trên bờ sông Lạc.
 

QUA CÔ ĐÔ NHÀ ÂN.

Nghe nói Triều Ca trụ đóng đô,

Bồi hồi chạnh nhớ chuyện ngày xưa.

Thánh hiền nước chẳng ngàn năm vững,

Nhân bạo rồi như nửa cuộc cờ.

Cơ Tử thơ sầu đồng lúa mạch.

Tỷ Can lời thẳng chữ không mờ.

Nơi nao chuông đỉnh bao triều cũ,

Sông Lạc hoang liêu, lạnh lẽo mồ.

Thơ Đoàn Nguyễn Tuấn, Nhất Uyên dịch thơ
 

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

QUÁ ÂN CỐ ĐÔ

Văn thuyết Triều Ca Trụ cố ky,

Bồi hồi vãng sự nhất hưng ti.

Thánh hiền an hữu thiên niên quốc,

Nhân bạo đồng qui bán cục kỳ.

Cơ Tử sầu ca dư dã mạch,

Tỷ Can trung gián thượng khung bi.

Lịch triều chung đỉnh kim hà tại ?

Hoang chủng thê lương Lạc thủy my.

                  

               Chuyện Phong Thần, bịa ra chuyện vua Trụ tế lễ đền Nữ Oa, làm thơ đùa bỡn thất lễ nên Nữ Oa báo thù, giết cô gái tiến cung tên Đắc Kỷ và cho một con hồ ly tinh thay thế làm hại vua Trụ. Phong Thần còn đổ lỗi chuyện Trụ giết Tỷ Can là do Tỷ Can dâng áo da lông chồn cho vua Trụ để vua Trụ mặc cho ấm. Nhưng Đắc Kỷ và em vốn giống dòng hồ ly tinh thấy đồng loại mình bị tiêu diệt làm áo “ Vision” nên trả thù. Đắc Kỷ giả vờ đau bụng nhăn mặt đòi thuốc chữa bệnh đau bụng bằng tim chín lỗ của Tỷ Can. Chuyện gán cho các cô gái đẹp là hồ ly tinh để đỗ lỗi sự sụp đỗ một triều đại là chuyện buồn cười. Hoá ra Đắc Kỷ còn đi trước Brigitte Bardot và các Hội Bảo Vệ Súc Vật Tây Phương ba ngàn năm. Đắc Kỷ đã chống việc giết động vật hoang dã làm da  may áo !

               Nguyễn Du vốn cảm  thương cho những người đẹp tài hoa như Dương Quý Phi:  Vì cả triều đình như phổng đứng. Nghìn năm đổ tội sắc nghiêng thành. Bao ông tể tướng, đại thần, tướng văn, tướng võ ở đâu mà khi mất nước, triều đại sụp đỗ cứ đổ oan cho những cô gái đẹp.

               Bao cô gái đẹp chôn chặt đời mình trong cung cấm, chỉ còn một lối thoát là được vua yêu quý. Cung nữ phục dịch phải mang lục lạc dưới chân, để bước đi nghe len ken thành nhạc bội hoàn cho vua vui tai.. Bao cô gái đẹp tuyển cho vua ngự phải bó chân từ năm lên tám, chân nhỏ xíu thành tật để bước đi xinh đẹp như đóa sen. Tại Paris, Musée de l’Homme, có chưng bày những bàn chân các cô gái Trung Quốc ngày xưa bị bó, các ngón chân cong quặp lại, người bị bó thật đau đớn khi bước đi, phong tục ấy Trung Quốc cho là đẹp thì thật là dã man. Bao cô gái đẹp thường hay chết yểu vì cái phong tục bó chân man rợ đó. Giai nhân tự cổ như danh tướng, bất hứa nhân gian kiến bạc đầu. Người đẹp từ xưa, như các danh tướng, không hẹn với nhân gian thấy mình đầu bạc. Bao giai nhân không sống đến tuổi ba mươi, lý do đơn giản vì bị bó chân, không đi bộ được, mỗi bước đi phải lên kiệu hoa, mọi chuyện có kẻ hầu hạ, vì không đi được máu không lưu thông nên đau tim, chết yểu, chuyện đơn giản thế thôi. Các vua chúa Trung Quốc bày trò ca tụng sắc đẹp tạo nên phong tục  giai nhân phải bó chân, như thế gái giữ được trinh tiết, thực ra chỉ biến người phụ nữ thành nô lệ tình dục, họ không thể làm công việc gì khác ngoài việc cung phụng tình dục cho vua chúa.Tam cương, ngũ thường giữ người đàn bà trong khuôn khổ : sinh ra chỉ biết có cha, có chồng theo chồng, chồng chết theo con trai, người phụ nữ hoàn toàn lệ thuộc vào nam giới. Thân phận các cô gái quyền quý là để thoả mãn nhục dục cho vua chúa, người phụ nữ không có một chọn lựa hay yêu đương nào,  thế mà khi triều đại sụp đổ lại đổ lỗi cho các cô gái đẹp. Chuyện Đắc Kỷ và em là hồ ly tinh làm mê mệt vua Trụ, ba ngàn năm qua người Trung Quốc nguyền rủa Đắc Kỷ thật là bất công.  Vua Trụ không kìm hảm được sắc dục mình, chỉ biết ngày đêm trác táng, không lo việc triều chính, không nghe lời trung thần khuyên răn, tướng lãnh làm cuộc đảo chính, triều đại sụp đổ thì đổ lỗi cho Đắc Kỷ.

Paris 12-1-2017

Phạm Trọng Chánh

*Tiến sĩ Khoa Học Giáo Dục Viện Đại Học ParisV Sorbonne.

 

             




Trong Tương Ưng Bộ Kinh (Samyutta Nikàya), đức Phật đã nói đến sự quý giá của sự sống khi sinh được làm người qua thí dụ con rùa mù ở đáy biển. Đức Phật kể rằng có một con rùa mù ở dưới đáy biển cứ mỗi một trăm năm mới nổi lên mặt biển một lần. Trên mặt biển có một khúc gỗ rỗng ruột đang trôi nổi khắp bốn phương, đông, tây, nam, bắc, theo chiều gió thổi và dòng thủy triều. Vậy mà cơ hội để con rùa mù tìm được và chui vào khúc gỗ rỗng ruột kia lại dễ hơn cơ hội để chúng ta sinh ra được làm người. Đức Phật cũng đã từng nói rằng trong các loài hữu tình như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, phi thiên và chư thiên thì loài người có được lợi thế để đoạn tận khổ đau và đạt đến giải thoát mà các loài kia không có. Đức Phật giải thích sở dĩ như vậy là vì loài người không quá khổ như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh và không quá khoái lạc như các vị trời để khó lòng nghĩ tới chuyện tu tập mà giác ngộ và giải thoát.
Tài tử Richard Chamberlain, người đóng vai Đức Cha Ralph de Bricassart trong tác phẩm điện ảnh The Thorn Birds năm 1983, công khai mình là người đồng tính ở tuổi 69, trong cuốn hồi ký Shattered Love, xuất bản năm 2003. Khi đó, ông đã giã từ màn ảnh. Nghĩa là không có gì khiến ông phải lo sợ là hình ảnh Cha Ralph đáng kính và vô cùng tội nghiệp giữa ranh giới giữa tình yêu dành cho nàng Meggie và Chúa Jesus, sẽ bị hủy hoại trong lòng khán giả.
Và khi chính những người Cộng hòa lên tiếng phản đối, JD Vance, phó tổng thống Hoa Kỳ, bảo họ hãy im lặng. Phát biểu tại Ohio hôm thứ Tư, Vance nói ông thấy “ghê sợ” nhưng không phải vì quảng cáo, mà vì những người Cộng Hòa than phiền về nó nhiều hơn Dân Chủ. Ông ta thẳng thừng khuyên các đồng đảng “hãy thôi than vãn về một mẩu quảng cáo và hãy chiến thắng cuộc đua trong 13 ngày tới.” Khi được hỏi quảng cáo có phù hợp không, ông nói điều đó không thật sự là mối bận tâm của mình.
TNgụ ngôn Sói Và Cừu Non của Jean de La Fontaine kể chuyện một con sói đứng đầu dòng suối, thấy con cừu non đang uống nước phía dưới, liền nổi giận buộc tội cừu làm đục nước. Cừu lễ phép thưa rằng mình đứng phía hạ lưu, nước chảy từ chỗ sói xuống, làm sao có thể khiến nước phía trên đục được? Sói liền đổi tội: Năm ngoái mày đã nói xấu tao. Cừu đáp: Năm ngoái con còn chưa ra đời. Sói bảo: Vậy thì anh mày. Cừu thưa: Con không có anh. Sói kết luận: Vậy thì một đứa nào đó trong nhà mày. Nói xong, sói tha cừu non vào rừng ăn thịt. La Fontaine đặt ở đầu truyện một câu nổi tiếng: « La raison du plus fort est toujours la meilleure. » Lý lẽ của kẻ mạnh bao giờ cũng là lý lẽ thắng thế.
Chính Tổng Thống Donald Trump đã lên tiếng cảnh cáo các dân biểu Cộng Hòa tại Hạ Viện rằng ông sẽ bị luận tội lần nữa nếu Đảng Cộng Hòa mất quyền kiểm soát Quốc Hội trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Vào ngày 6 tháng 1 năm 2026, trong một bài phát biểu kín tại hội nghị thảo luận chính sách của các dân biểu Cộng Hòa ở Kennedy Center, Trump nói với các nhà lập pháp rằng "Các bạn phải thắng trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, bởi vì nếu chúng ta không thắng, thì... ý tôi là, họ sẽ tìm ra lý do để luận tội tôi. Tôi sẽ bị luận tội." Mới đây, tháng 10 năm 2026, Trump đã nhiều lần lập lại những cảnh báo và nhận định tương tự về khả năng bị luận tội lần thứ ba tại các cuộc mít tinh vận động tranh cử sau đó, khi cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2026 đang đến gần. Trong trạng thái quá tuyệt vọng, Trump đã quay xe 180 độ, khuyến khích cử tri bầu qua thư hay bầu vắng mặt, vì ông sợ nhiều cử tri Cộng Hòa sẽ không tham dự bầu cử.
Cuộc bầu cử giữa kỳ đã đến gần, và các cuộc thăm dò toàn quốc cho thấy Đảng Dân chủ đang nhỉnh hơn Đảng Cộng hòa về ý định bầu cử. Nếu xu hướng này tiếp diễn, Đảng Dân chủ có thể giành lại đa số ở Hạ viện, Thượng viện, hoặc cả hai viện. Tuy nhiên, số phận của Quốc hội không được quyết định bởi toàn thể cử tri, mà phần lớn tùy thuộc vào một số ít cuộc tranh cử gay go ở Hạ viện và Thượng viện. Theo Cook Political Report, hiện chỉ có 22 cuộc đua Hạ viện và 7 cuộc đua Thượng viện được xem là “ngựa ngang ngửa”, nghĩa là cả ứng viên Dân chủ lẫn Cộng hòa đều còn cơ hội thắng cử.
Đấu tố là hành quyết công khai không nhằm vào người bị tòa kết án. Nó nhằm vào đám đông. Nó dạy đám đông sợ hãi, vì ai cũng thấy mình có thể là người quỳ kế tiếp. Và nó biến đám đông thành đồng lõa: đứng xem, hô khẩu hiệu, thì cũng đã có phần trong đó.
Michel de Montaigne là một trong những triết gia, văn gia và chính khách tiêu biểu của thời kỳ Phục hưng Pháp, đồng thời được xem là người đặt nền móng cho thể loại tiểu luận (essay) trong nền văn học phương Tây. Ông sinh ngày 28 tháng 2 năm 1533 tại lâu đài Montaigne, vùng Périgord (nay thuộc tỉnh Dordogne, Pháp), trong một gia đình quý tộc giàu có. Dưới sự giáo dục chu đáo của người cha, Montaigne được nuôi dưỡng trong tinh thần nhân văn Phục hưng và sớm tiếp cận nền học vấn cổ điển. Trong những năm đầu đời, ông được giáo dục bằng tiếng Latinh, nhờ đó có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với kho tàng triết học và văn học Hy Lạp – La Mã cổ đại.
Ở Hoa Kỳ năm 2026, chính quyền đang cân nhắc đưa cảnh hành quyết một tử tù bằng súng lên màn ảnh cho cả thế giới xem. Gần chín mươi năm sau khi từ bỏ những cuộc hành quyết công khai, nước Mỹ lại tính quay về với cảnh tượng thời trung cổ ấy. Nước Mỹ đã đưa người lên Mặt Trăng, chế tạo trí tuệ nhân tạo, mở ra những chân trời mới cho khoa học và kỹ thuật. Nhưng tiến bộ về kỹ thuật không bảo đảm tiến bộ về đạo đức. Một quốc gia có thể tiến rất xa trên một con đường, rồi quay đầu trên một con đường khác.
Trong một thế giới vẫn còn chìm trong tiếng súng của các cuộc chiến ở Ukraine, Gaza, Iran và nhiều nơi khác, Giải Nobel Hòa bình năm 2026 mang một ý nghĩa vượt xa khuôn khổ của một danh hiệu quốc tế. Bên cạnh ý nghĩa tôn vinh những cá nhân hay tổ chức đã góp sức cho hòa bình, cũng là lời nhắc nhở rằng sinh mạng người, nhân phẩm, lòng từ bi và sự thật vẫn có giá trị ngay cả trong những thời khắc đen tối nhất của nhân loại. Khi chiến tranh thường ca ngợi sức mạnh của vũ khí, Nobel Hòa bình hướng sự chú ý của thế giới đến sức mạnh của lòng từ bi: những bác sĩ cứu chữa bệnh nhân giữa bom đạn, các nhà hoạt động bảo vệ nhân quyền, những người dám lên tiếng cho công lý và những cộng đồng không từ bỏ hy vọng. Giải thưởng có ý nghĩa rằng hòa bình không chỉ là sự chấm dứt chiến tranh, mà còn là sự bảo vệ sự sống, phẩm giá và quyền được tồn tại của mọi con người.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.