Hôm nay,  

Nhớ Sông Dinh

07/11/201700:00:00(Xem: 7814)
Đường Du Bình

 
Theo lịch trình hành hương, hôm nay là ngày đi lên phố cổ Mandalay, miền trung Miến Điện. Mọi người thức dậy thật sớm tập trung tại phòng khách chờ xe buyt. Khách dậy quá sớm, nhà bếp của khách sạn chưa làm việc, nước nóng cũng chưa có để điểm tâm nên Thượng Toạ Trưởng đòan hành hương, phát cho mỗi người hai trái chuối ăn lót dạ. Một lúc sau khỏang 5 giờ sáng xe buýt đến, mọi người lôi hành lý lên xe. Từ giã khách sạn Yarkintha của phố củ Bagan, xe chạy dưới ánh đèn đường sáng rực rở nhưng đường vắng tanh, giờ này dân địa phương đang yên ngủ. Trong chốc lát xe đã chạy ra ngoại ô và chuyển lên quốc lộ đi về hướng Mandalay.

Xe đang chạy ngon trớn bỗng dưng chậm lại, tôi nhìn xa bên trong làng thấy nhiều ngôi nhà mái tole trong sương mù. Vài em nhỏ đua nhau chạy ra cổng làng. Tôi đưa máy ảnh tập trung tầm nhìn quan sát thật kỹ mới nhận ra trong sương mù có một đoàn sư trẻ đi khất thực. Đi đầu là một vị sư trưởng, hơn chục sư trẻ theo sau, có sư còn rất trẻ. Với hai tay ôm bình bát trước ngực, chậm rải từng bước đi; đoàn sư mỗi ngày khởi hành từ rạng đông để kết thúc về chùa trước canh Ngọ. Một nử thí chủ tay trái cầm giỏ thức ăn, tay phải trân trọng đặt món quà vào bình bát, miệng bà thì thầm đọc kinh. Vị sư trẻ nhận xong thức ăn cất chân bước tới vài bước rồi dừng lại để người khác có dịp bước tới thí chủ. Với những dáng điệu ấy, hết người này đến người khác. Nử thí chủ tiếp tục cúng dường cho đến vị sư cuối cùng trong đoàn khất thực.

Xe buyt nhấn ga phóng nhanh vượt qua đoàn sư khất thực. Hình ảnh ghi lại trong chiếc máy ảnh của tôi cho thấy cuộc sống ở nơi này thật thanh bình. Không giống như quê tôi. Hai khung trời và hai hoàn cảnh thật khác biệt.

Mùa Xuân Miến Điện trời xanh gió mát. Mặt trời buổi sáng lên cao chiếu sáng vào những ngọn tháp sừng sững trên đồi làm khung cảnh đẹp như bức tranh. Xe chạy qua nhiều xóm làng và phố nhỏ. Dọc theo xa lộ hai bên là rừng xanh lá thấp, có nơi hoang vu. Xa xa trong làng một cụm khói bốc lên cao, một chiếc xe bò lăn bánh tịch tan bên đường mòn. Chiếc xe bò giống như những chiếc xe bò ngày xưa đi chở lúa trên xã Ninh Hưng ở Huyện Ninh Hòa quê tôi. Mặt trời xuống dần phía Tây. Xe chạy vào thành phố Mandalay vào giờ cao điểm. Đường xá đông đảo với nhiều xe. Người đi bộ tấp nập hai bên đường. Bác tài cho xe chạy chậm, từ từ rướn vào sân của khách sạn Irrawaddy River View. Dưới ánh nắng vàng của mặt trời, các chư tăng và hai mươi lăm phật tử, từ nhiều nơi trên thế giới, theo thầy đi hành hương đều mệt mỏi, chậm chạp từng bước xuống xe.

Khách sạn Irrawaddy River View đối diện với con sông Irrawaddy, đây là con sông dài ngàn dặm, hùng vĩ xuất phát từ cao nguyên từ phía bắc, nó chảy qua thành phố Mandalay và qua nhiều thành phố miền nam của Miến Điện; nó xuyên qua thủ đô Yangon để rồi hòa nhập vào đại dương của vịnh Martaban. Tôi băng qua đường rồi đi dọc theo bờ sông quan sát, tôi thấy hàng quán ở đây lụp xụp, tạm bợ - có quán bán cà phê và nước ngọt, có quán bán thức ăn. Trong quán có mấy thực khách nam vận sarong cười đùa trò chuyện, quán kế bên có một đám người trẽ mắt châm châm tự sướng với cái màn ảnh nhỏ xíu.


Đi thêm mấy bước ra bờ sông mới thấy cát của con sông này đã bị người ta nạo vét  đưa vào bờ. Nhiều đống cát cao bằng mặt đường làm mất vẻ đẹp của thành phố. Thật là tội nghiệp cho nước này đã bị Liên Hiệp Quốc cấm vận hơn hai mươi lăm năm qua nên cát không được xuất cảng. Kinh tế của nước này bị suy sụp, ngành xây dựng bị hạn chế, cát không được xử dụng nên tích lủy thành bải cát trắng rộng lớn.  Một số người lợi dụng thời cơ cấm dùi trên bãi cát, vài căn chòi đơn sơ dựng lên để che nắng, thật là bi thảm cho những mảnh đời bị cấm vận. Gió từ ngoài sông thổi vào bờ mát rợi hất tung mấy chiếc áo quần phơi trên bãi cát. Dưới ánh chiều tà, mấy cầu thủ tí hon quần sà lỏn áo thun bụi bậm tranh nhau trái banh bị xì hơi, một em cố tình đá trái banh làm cho cát tung toé lên rồi cả đám lăng ra bải cát cười hô hố khiến tôi nhớ lại một buổi chiều thời niêu thiếu tôi và mấy bạn rong chơi trên bãi cát bên làng Vỉnh Phú thị xã Ninh Hòa quê tôi năm xưa.

Mặt trời treo trên đầu núi, một vòng hào quang màu vàng cam thu nhỏ nó báo hiệu màn đêm sắp đến, ánh mặt trời phản chiếu trên sông, một chiếc ghe câu về muộn giửa dòng sông. Người ta thường nói, người giống người, cảnh vật có nơi từa tựa giống nhau khiên tôi mơ tưởng con sông Irrawaddy Miến Điện như sông Dinh Ninh Hòa quê tôi.

Nhớ lại cái hôm chơi trên bải cát Vĩnh Phú bên bờ sông Dinh mà vui. Giữa lúc lính Tây hành quân tảo thanh du kích Việt Minh chung quanh huyện Ninh Hòa, thế mà đội banh của lính Tây Lê Dương cũng hẹn quyết đấu để trả thù đội banh huyện Ninh Hòa. Tin đồn Tây (đội banh Tây Lê Dương) quyết trả thù được loan ra khiến cho nhiều người hăng máu, họ rủ nhau đi coi chật nít sân banh.

Trận banh hôm đó diễn ra thật sôi nổi. Hôm đó đội banh Ninh Hòa do ông Àn vai tiền phong, ông đang chạy giữa sân, chú Hai Cát chạy gốc phải đưa banh thật mạnh qua gốc trái cho chú Chín Cu; chú Chín nhanh nhẹn lùa banh qua mặt ông Tây đội mủ bê rê đen cao một thướt tám. Chú Chín thộc trái banh vào giữa cho ông Àn, ngay lập tức ông Àn kê nhẹ bàn chân phải đưa trái banh thẳng vào lưới địch, tiếng vỗ tay vang rền một gốc trời. Đội banh Ninh Hòa thắng vẻ vang, dân chúng hồ hởi ra về, một số người tấp vào khu giãi trí Vỉnh Phú kế bên sát phạt đỏ đen, tôi và đám nạn quá vui mừng, bu quanh mấy ông cầu thủ hoang hô tiễn đưa cầu thủ ra về, rồi rủ nhau ra bải cát Vỉnh Phú bên bờ sông Dinh vui chơi thỏa thích mãi đến tối mới về.

Tôi xin chân thành gởi tất cả tình thương aí mộ đến các cầu thủ của đội banh Ninh Hòa năm xưa. Gồm có Ông Àn, Chú Chín Cu, Chú Hai Cát, anh Ba Tuông, anh Ba Quón, anh Trúc Thọ, anh Mành, anh Bảy thợ may, anh Mười Sang, anh Ba Bữu, anh Năm Hà, anh Bảy Nghi, chú Năm Tịnh, anh Hòa và anh Mỹ Xóm Rượu. Thành thật cáo lổi người Thủ Môn và một vài người trong đội banh Ninh Hòa năm xưa tôi không nhớ tên.

Kỷ niệm hành hương Miến Điện tháng 3 năm 2013  với các em - Hào, Mai, Ngọc Diệp và Ngọc Chi.

 

Người Việt Được Cứu Giúp Sau Ngày Saigon Thất Thủ Tỏ Lòng Cảm Ơn Nước Mỹ Bằng Tượng Đài Ở Đảo Guam
Anh là một nhà thơ độc đáo, làm thơ y hệt như người hát Kinh Phật. Không phải một hình thức đọc tụng Kinh Phật như đời thường. Thơ Lý Thừa Nghiệp không đời thường, tuy vẫn nói về Sóc Trăng quê ngoại, nói về mẹ, nói về em, nói về Melbourne với Cù Lao Dung… nhưng tất cả hình ảnh đời thường hiện lên trong thơ anh đều nhắc tới những pháp ấn, rằng tất cả các pháp là bất như ý, là vô thường, là không gì nắm bắt được. Thơ Lý Thừa Nghiiệp là một thân chứng về cõi đời này, trong niềm vui đã ẩn tàng nước mắt, trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt, trong những tình cờ gặp gỡ vừa khởi lên đã thấy những rỗng lặng trống không của tâm hiện ra.
Cúc Thu Bách Vịnh là một tập thơ 100 bài gồm : 50 bài của Phan Huy Ích và 50 bài của Ngô Thì Nhậm viết từ tiết Trùng Dương năm 1796. Ngô Văn gia phái gọi tập thơ là Cúc Hoa Thi Trận. Sau những biến cố xãy ra trong triều đình Tây Sơn từ khi vua Quang Trung mất năm 1792.
Lá cờ đỏ sao vàng, rõ ràng, không được người Việt nước ngoài chấp nhận.
Trong Thế Giới Phật Giáo Miến điện có ngôi chùa Swedagon cao nhứt Thế Giới, và một Quển sách Lớn nhứt Thế Giới.
Nói đến công tác dò mìn, ai ai cũng đểu nghĩ rằng đây là một công việc rất khó khăn và nguy hiểm chỉ dành riêng cho,những ,người đã từng được huấn luyện am tường rành rẽ,và tháo vát về khoa học, kỹ thuật tháo gỡ chất nổ để làm thế nào có thể hóa giải một trái mìn không nổ mà không an nguy đến tính mạng của mình nên được gọi danh xưng là Chuyên viên chất nổ, ngoài ra còn phối hợp thêm cây dò mìn liên hệ để định vị được trái mìn ở đâu.hầu dễ dàng trong công việc Vậy mà đôi khi chính Chuyên viên chất nổ còn phải gánh chịu hậu quả vô cùng thảm khốc“ sinh nghề tử nghiệp” là chuyện thường tình trong công tác đầy khó khăn và nguy hiểm này.
* Cố TT Nixon về cuối đời than về China rằng: “Phải chăng chúng ta đã tạo ra một con quái vật!” “ Con Đường Tơ Lụa Mới” chỉ là một khẩu hiệu “sexy” gợi cảm để che giấu tham vọng thống trị thế giới của China.” - Một nhà ngoại giao cấp cao phương Tây.
Em ơi lửa tắt bình khô rượu Đời vắng em rồi say với ai? (Vũ Hoàng Chương)
Hoàng Tử Siddhartha Gautama sinh ra và lớn lên tại thành Catilavệ. Ban đầu, Ngài có một cuộc sống xa hoa trong cung điện, không biết gì về những đau khổ và bệnh tật. Tuy nhiên, một lần Ông trốn ra ngoại thành, Ông chứng kiến sự đau khổ giẫy giụa và đầy hối hận. Một số câu hỏi hình thành trong tâm trí của Ông nên Ông muốn tìm một câu trả lời. Trong một đêm thanh vắng, Ông từ giã cung điện vào rừng tìm chân lý, về sau người ta tìm được nhiều chứng tích xác thật cho thấy Ông lên núi Pragbodhi mà bây giời gọi là Dunheswara. Ông ở trong một hang động bây giờ gọi là Pragbodhi Cave (Khổ Hạnh Lâm). Ông sống ở đây sáu năm để tu khổ hạnh. Sau sáu năm tu khổ hạnh Ông nhận thấy tu khổ hạnh không đưa đến Giác Ngộ, Ông rời nơi này đi qua (Bodh Gaya) Bồ Đề Đạo Tràng.
Trong vụ thảm sát cac em bé học sinh và các nhà giáo dục ở trường Sandy Hook, New Town, tiểu bang Connecticut, cô giáo trẻ hai mươi bảy tuổi tên Victoria Soto đã hy sinh để cố bảo vệ cho các em khi tên hung thủ xông vào lớp của mình bắn giết bừa bải.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.