Hôm nay,  

Người Mẹ Thời Chiến

16/11/201700:00:00(Xem: 10796)
Cổ Tấn Tinh Châu

 
Người Mẹ từ ngàn đời đã trở thành biểu tượng cao quý của lòng nhân hậu, đức kiên trung. Là người con Việt Nam chúng ta càng thêm tự hào về những người Mẹ.

Mẹ là người cả đời lam lũ, tảo tần, chắt chiu nuôi dưỡng bao thế hệ con cháu. Trong cuộc đời mỗi chúng ta, Mẹ là điểm tựa, là niềm tin vững bền, là bóng mát che chở, là nhựa sống truyền cho chồi non lớn lên, thành những người con ưu tú của đất nước.

Hình ảnh người Mẹ luôn bên đời ấm áp, mãi hy sinh, che chở. Từ khi cất tiếng khóc đầu tiên chào đời là ta đã nằm trọn trong tình yêu thương đó. Từng bước đi chập chững trước tiên của đời người, ai đã cầm tay ta dắt đi từng bước một? Khi ta lỡ ngã đau, người lên tiếng xít xoa, cảm nhận được nỗi đau của ta chính là người Mẹ? Ai mừng vui nhứt khi ta cất tiếng nói bi bô của tuổi thơ?

Khi bước chân vào trường, đằng sau ta không bao giờ thiếu vắng cặp mắt theo dõi đầy lo lắng của Mẹ hiền, khó có ai diễn tả được ánh mắt mừng vui hạnh phúc của Mẹ mỗi khi ta được điểm mười?

Từ đó, Mẹ là kho tàng yêu thương hạnh phúc, là tàng cây bóng mát che chở cho con nương náu trong những lúc vấp ngã hay cô đơn thất vọng, con lại tìm về suối nguồn yêu thương ấy để được nghe những lời an ủi, khuyên răn vỗ về sưởi ấm lòng con.

Mẹ đã hy sinh tất cả niềm vui, lẽ sống riêng tư của mình để lo cho con, ở mọi lúc mọi nơi, khi con cần là có Mẹ ở bên cạnh. Mẹ vì con mà ngậm đắng nuốt cay chấp nhận hết tất cả không một lời than van. Mẹ không đòi hỏi sự trả ơn, cũng chưa từng đem sự hy sinh của mình ra đong đếm. Điều mà Mẹ mong chờ nhứt, chính là sự trưởng thành của con mình.

Mẹ luôn nói:

-Các con là sự sống của Mẹ, là niềm tin và tự hào của Mẹ.

 Chúng ta hãy ngẩng cao đầu và vững bước vào đời! Không nên làm gì để hổ thẹn đến gia phong và Tổ Quốc.

Trong thời chinh chiến, người cha phải mang trên vai chí nam nhi bên ngoài chiến trường lửa đạn. Mẹ một mình gồng gánh nuôi con, vượt qua mọi trăm gian ngàn khổ, ôm con chạy giặc. Ta lại nhìn thấy hình ảnh mẹ cao cả, bao la,… trong giây phút nguy hiểm nhứt, lấy thân mình che bom đạn cho con.

Đất nước trải qua bao cuộc chiến xâm lăng trong máu lửa, Mẹ gánh cả giang sơn trên đôi vai gầy lam lũ đi suốt chiều dài lịch sử. Mẹ đã sinh thành, nuôi dưỡng các con, yêu con hơn chính bản thân mình. Hàng triệu-triệu bà Mẹ Việt nam đã lặng lẽ giấu đi những giọt nước mắt để nhìn những đứa con thân yêu của mình ra trận, chiến đấu vì tự do dân chủ của dân tộc và đất nước.

Người Mẹ nuốt nước mắt vào lòng để tiễn chân chồng, con lên đường chiến đấu rồi quay trờ lại một mình vừa lo gia đình còn phải lo chồng, con nơi chiến trận.

Biết bao người Mẹ thao thức đến nửa khuya, lắng nghe tiếng súng nổ vọng về đây từ nơi nào đó có con đang thi hành nhiệm vụ, Mẹ thổn thức nguyện cầu cho con được bình yên.

Mẹ lo âu sầu khổ, nhớ thương, kém ăn, mất ngủ kể từ khi con gia nhập đời lính. Mẹ luôn giật mình mỗi khi nghe tin từ chiến trận vọng về. Bất hạnh thay nếu tin vọng về con không còn nữa, con chết một lần thì Mẹ chết trăm lần, ruột gan nát tan, bút mực nào tả xiết nỗi đau Mẹ mất con! Tiếng nấc đau thương nào thảm thương hơn khi mẹ khóc con.

Một sự hy sinh cao thượng, dũng cảm, thầm lặng ngoài chiến trường không chỉ riêng người lính chiến chịu, mà nỗi đau oằn trên vai những người Mẹ, người vợ, người thân của các anh hùng đã hiến dâng đời mình cho tổ quốc.Tình yêu thương của người Mẹ đã hòa vào tình dân tộc, tình quê hương. Các chiến sĩ bị thương sau khi rời quân y viện lại về trong vòng tay chăm sóc của Mẹ cho đến ngày trở về đơn vị.


Kể từ hôm nay và mai sau, chúng ta phải nói lên sự mất mát quá lớn lao của những bà Mẹ và vợ chiến sĩ tiễn chồng và con ra đi, đã phải khóc thầm trong đau đớn khi chồng và con mình vĩnh viễn không trở về.

Ngoài chiến trường để bảo vệ đất nước là nhiệm vụ nam nhi, nhưng khi giặc tràn về, qua thôn xóm thì người phụ nữ cũng chung bổn phận cùng chồng con. Ngoài nhiệm vụ nặng nề của người phụ nữ khi chiến tranh nổ ra là ở hậu phương. Nhưng thực tế, thành phần phụ nữ tham gia cuộc chiến ở Việt Nam là một con số rất đáng kể, trong mọi ngành nghề yểm trợ tác chiến và ngay cả việc cầm súng chiến đấu, tiếp tế đạn cho chồng bên chiến hào là những tấm gương sáng không thiếu trong chiến sử Quân Lực VNCH.

Khi đất nước bị xâm lăng, người phụ nữ vẫn rời khỏi gia đình, khỏi vị trí truyền thống của họ để tham gia vào những nhiệm vụ thay cho nam giới trong các cơ sở, văn phòng… Người phụ nữ tham gia quân sự, và kết quả đã cho thấy họ cũng là những tác nhân biến đổi chiến tranh cho sự tiến bộ của phụ nữ.

Phụ nữ đã cống hiến cho Tổ Quốc tài năng, trí tuệ và lòng dũng cảm tuyệt vời, nêu những gương sáng cho con cháu mai sau. Một biểu tượng rất chân thực, thể hiện sự can trường mà cũng rất mực nhân hậu trong người phụ nữ Việt Nam.

Dẫu biết rằng chiến tranh có đau thương, mất mát nhưng không nỗi đau nào sánh bằng nỗi đau của người Mẹ mất con. Trong sự mất mát chia lìa bởi chiến tranh, người Mẹ nào chẳng khóc đau xé lòng vì con mình hy sinh trong trận mạc, dẫu biết chiến tranh nghiệt ngã sinh tử là điều không tránh khỏi, nhưng tình mẫu tử khiến nước mắt Mẹ không còn để khóc những người con lần lượt ra đi, đi mãi mãi.

Đôi mắt Mẹ mờ đi sau bao đêm dài vì thương nhớ con nhưng Mẹ luôn tự nhủ mình không thể gục ngã, còn đàn con thơ và nhứt là còn những đứa cháu nhỏ dại.

Khi bà Mẹ mất một người con, con dâu trở thành goá phụ, cháu nhỏ trở nên mồ côi cha. Trên bàn thờ gia đình thêm một linh bài tử sĩ. Chưa hết, khi chiến tranh tàn, người Cha tàn cuộc sống trong lao tù CS thì chính là lúc người phụ nữ, người Mẹ là nguồn sống còn duy nhất cho đàn con bé dại. Đàn con chỉ biết trông cậy vào sự bảo bọc, vào đôi tay yếu gầy đầy tình yêu thương của người mẹ mà thôi.

Chiến tranh đã đi qua hơn 40 năm rồi, vết thương trên da thịt đã lành theo năm tháng, nhưng vết thương lòng Mẹ vẫn nặng mang. Khói lửa chiến tranh đã tan rồi, còn lại một mình Mẹ thôi. Hình ảnh người Mẹ ngồi lặng lẽ bên mâm với mấy chén cơm chờ các con về ăn cùng, ở giữa là bình hương đã khiến tim chúng ta nghẹn lại vì cảm động.

Mẹ mong sao con mình thành nhân, phải sống cho có nghĩa, cho dù phải đánh đổi cái giá quá đắt cho đời mình. Có sức mạnh nào lớn hơn lòng Mẹ, có tình yêu thương nào trải khắp các vùng lửa đạn như tình yêu thương của Mẹ.

Chiến tranh không những cướp đi những người thương yêu, mà còn nhẫn tâm bào mòn nhan sắc, tuổi thanh xuân, niềm yêu đời, và ý nghĩa cuộc sống của những người phụ nữ.

Chúng ta luôn trân trọng, ghi nhớ và tri ân những cống hiến vô giá của những người Mẹ, người vợ của các anh hùng tử sĩ đã ngã xuống cho đất nước.

Cuộc đời cũng như sự đóng góp to lớn của các người Mẹ cho đất nước luôn là tấm gương soi sáng cho bao thế hệ phụ nữ noi theo. Mỗi chúng ta - những người đang được hưởng cuộc sống tự do - cần luôn luôn tự dặn mình phải làm gì, làm thế nào để góp phần làm vơi bớt nỗi đau trong lòng các Bà Mẹ.

Kính chúc các Mẹ luôn sống vui, sống khỏe để thế hệ trẻ được chăm sóc, bù đắp phần nào những đau thương mất mát các Mẹ đã trải qua.

Cổ Tấn Tinh Châu

Tháng 8-2017

 

Một bài bình luận của báo Chính phủ CSVN hôm 2/9/2024 viết: “Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, đến nay chúng ta ngày càng có cơ sở vững chắc để khẳng định sự thật chúng ta đã trở thành nước tự do độc lập, người dân ngày càng ấm no hạnh phúc…” Những lời tự khoe nhân dịp kỷ niệm 79 năm (1945-2024) được gọi là “Tuyên ngôn độc lập” của ông Hồ Chí Minh chỉ nói được một phần sự thật, đó là Việt Nam đã có độc lập. Nhưng “tự do” và “ấm no hạnh phúc” vẫn còn xa vời. Bằng chứng là mọi thứ ở Việt Nam đều do đảng kiểm soát và chỉ đạo nên chính sách “xin cho” là nhất quán trong mọi lĩnh vực...
Năm 2012 Tập Cận Bình được bầu làm Tổng Bí Thư Trung Ương Đảng; năm 2013 trở thành Chủ Tịch Nước; đến năm 2018 tư tưởng Tập Cận Bình được chính thức mang vào Hiến Pháp với tên gọi “Tư tưởng Tập Cận Bình về chủ nghĩa xã hội với đặc sắc Trung Quốc trong thời đại mới”. Tập Cận Bình đem lại nhiều thay đổi sâu sắc trong xã hội Trung Quốc, mối bang giao Mỹ-Trung và nền trật tự thế giới...
Xem ra thì người Mỹ, không ít, đang chán tự do và nước Mỹ đang mấp mé bên bờ vực của tấn thảm kịch mà nước Đức đã sa chân cách đây một thế kỷ khi, trong cuộc bầu cử năm 1933, trao hết quyền tự do cho Adolf Hitler, để mặc nhà dân túy có đầu óc phân chủng, độc tài và máu điên này tùy nghi định đoạt số phận dân tộc. Mà nếu tình thế nghiêm trọng của nước Đức đã thể hiện từ trước, trong cương lĩnh đảng phát xít cả khi chưa nắm được chính quyền thì, bây giờ, với nước Mỹ, đó là Project 2025.
Từ 20 năm qua (2004-2024), vấn đề hợp tác giữa người Việt Nam ở nước ngoài và đảng CSVN không ngừng được thảo luận, nhưng “đoàn kết dân tộc” vẫn là chuyện xa vời. Nguyên nhân còn ngăn cách cơ bản và quan trọng nhất vì đảng Cộng sản không muốn từ bỏ độc quyền cai trị, và tiếp tục áp đặt Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh “làm nền tảng xây dựng đất nước”...
Cái ông Andropov (“nào đó”) nghe tên cũng có vẻ quen quen nhưng nhất thời thì tôi không thể nhớ ra được là ai. Cả ủy ban nhân dân Rạch Gốc và nhà văn Nguyên Ngọc cũng vậy, cũng bù trất, không ai biết thằng chả ở đâu ra nữa. Tuy vậy, cả nước, ai cũng biết rằng trong cái thế giới “bốn phương vô sản đều là anh em” thì bất cứ đồng chí lãnh đạo (cấp cao) nào mà chuyển qua từ trần thì đều “thuộc diện quốc tang” ráo trọi – bất kể Tây/Tầu.
Việt Nam và Trung Quốc đã ký 14 Văn kiện hợp tác an ninh Chính trị, Kinh tế-Thương mại và Văn hóa-Báo chí trong chuyến thăm Trung Quốc đầu tiên của Tổng Bí thư Tô Lâm từ ngày 18 đến 20/08/2024. Trong số này, Văn kiện kết nối và thiết lập 3 Tuyến đường sắt giữa hai nước được gọi là “anh em” đã giúp Trung Quốc liên thông ra Biển Đông và bành trướng thế lực kinh tế...
Tại Campuchia, kênh đào Phù Nam Techo, trị giá 1,7 tỷ USD sẽ kết nối Phnom Penh và Vịnh Thái Lan, tượng trưng cho niềm tự hào dân tộc, an ninh và kết nối thương mại quốc tế. Người ta có thể cảm thấy như thế qua lời tuyên bố của Thủ tướng Campuchia Hun Manet và của ông Hun Sen, trong cương vị cố vấn, người đã chuyển giao quyền lực từ cha sang con vào năm ngoái...
Danh từ được tác giả dùng trong bài này không phải là danh từ theo tự loại mà là một thuật ngữ của Việt Cộng. Thuật ngữ Việt Công hay là danh từ Việt Cộng là những thuật ngữ, những từ được dùng trong nước dưới chính quyền Cộng sản Việt Nam. Ở trong nước người ta không dùng từ “Việt Cộng” mặc dầu Việt Cộng chỉ có ý nghĩa là Cộng Sản Việt Nam chớ không có nghĩa gì khác. Phải nói rõ ràng và dài dòng như vậy để tránh hiểu lầm và hiểu sai. Những danh từ đề cập trong bài viết này đa số là những danh từ kinh tế, vì chủ đề của bài viết là kinh tế, phân tích những ván đề kinh tế, nhận định về kinh tế chớ không phải chính trị, mặc dầu kinh tế không thể tách rời khỏi chính trị, xuất phát từ chính trị và tác động trở lại đời sống của mỗi con người chúng ta.
“Tôi hơi chậm hiểu lại rất chóng quên nên dù đã lê lết qua hơi nhiều trường ốc (trong cũng như ngoài nước) nhưng trình độ học vấn và kiến thức cũng chả̉ tới đâu, vẫn chỉ ở mức làng nhàng. Nói tóm lại là thuộc loại “xoàng”! Ơ! “Xoàng” thì đã sao nhỉ? Cũng không đến nỗi trăng/sao gì đâu, nếu tôi biết điều (biết chuyện – biết thân – biết phận) hơn chút xíu. Khổ nỗi, tôi lại cứ tưởng là mình cũng thuộc loại đầu óc trung bình (hoặc chỉ dưới mức đó không xa lắm) nên ghi danh học – tùm lum/tùm la – đủ thứ phân khoa: Triết Lý, Tâm Lý, Xã Hội, Nhân Chủng …
Một bài viết ngay sau khi được bầu vào chức Tổng Bí thư đảng CSVN cho thấy ông Tô Lâm đã hiện nguyên hình một người giáo điều, bảo thủ và hoài nghi trong “hợp tác quốc tế” với các nước. Trước hết ông cáo giác: “Các thế lực thù địch, phản động chưa bao giờ từ bỏ âm mưu lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.” Lời tố cáo này không mới vì chỉ “nói cho có” và “không trưng ra được bằng chứng cụ thể nào”, giống hệt như những người tiền nhiệm...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.