Hôm nay,  

Tìm Xuân, Đón Xuân

26/01/201800:00:00(Xem: 5701)
Vĩnh Hảo


Những tờ lịch cuối năm dương lịch hãy còn vương trên tường, không màng gỡ xuống. Lịch mới chưa thấy treo lên. Thư phòng ngổn ngang sách báo. Bàn viết bày biện giấy tờ và các tập hồ sơ trong ngăn bìa màu nầy màu kia. Những mẩu giấy nhỏ, ghi chú chằng chịt với những dòng chữ vắn tắt hay ký hiệu, con số gì đó khó ai đoán được, xếp từng hàng cạnh máy vi tính. Thư từ cũng xếp từng lớp theo thứ tự thời gian, cái nào đến trước thì nằm ở trước. Một đời sống vừa bề bộn nhiêu khê, vừa trật tự ngăn nắp, thể hiện ngay nơi bàn làm việc của người cầm bút.

Đời sống của người trong những ngành nghề khác cũng thế. Nhìn nơi làm việc là biết được tính cách của con người. Không có tính cách nào giống hệt nhau. Nhưng đời sống của mọi người, mọi loài, hầu như đều được sắp xếp trong một trình tự thời gian nào đó, theo một chu-kỳ sinh (trụ, dị) diệt nhất định—nhất định chứ không cố định.

Tình cảm, tư duy, tri kiến và sự biểu đạt của con người cũng dần dà, vô tình trôi theo dòng chảy của thời gian.

Thời thanh xuân, tiếng nói trong trẻo, du dương; trung niên, tiếng trầm như sấm; lão niên, tiếng khàn đục như cối xay. Tuổi càng trẻ, càng nói nhiều, nói mạnh; tuổi càng cao, càng trầm lặng ít nói.

Các định kiến, thành kiến thời trẻ cũng bị rạn vỡ qua những trận ma-xát trường kỳ của tư duy, đối chiếu, phân loại và trải nghiệm thực tế trong đời sống; để rồi, từ một thiếu niên tự hào, nông nổi, giờ đã thành cụ lão chín chắn, chững chạc, nghĩ điều gì cũng ba lần bảy lượt, nói điều gì cũng rào trước đón sau...

Không có cách thế sinh diệt nào như nhau. Không có những trật tự hay trình tự cố định của vạn hữu. Nên chi, mùa xuân của người nầy lại là mùa thu của người kia, mùa đông của nơi nầy là mùa hạ của chỗ khác. Trong mùa đông, có những lá vàng khô rơi rụng, cùng lúc, cũng có những nụ hoa còn khoe sắc thắm; mà vào mùa xuân, khi muôn hoa rộ nở thì cũng có những chiếc lá xanh lìa cành. Có những người trẻ khóc người lão niên, và cũng có tre già khóc măng non. Niềm đau nhân thế, nói sao cho cùng.

Lặng nhìn trời đất xoay vần, nhân gian dịch chuyển, lòng vời vợi nhớ về cố quận quê xa. Chệch một bước đi, thần tiên nghìn năm lạc lối. Chuếnh choáng bước vào cõi trần, mắt xanh đổi màu mây xám. Trăng soi đường, trời mở lối, mà ngày đêm cứ quàng xiên đi mãi như cùng tử lang thang. Thương mình lao đao, thương người thống khổ, mà có làm, có nói được gì đâu!

Quả tình đôi lúc muốn được một lần như Không Lộ năm xưa:


“Chọn nơi địa thế đẹp sông hồ

Vui thú tình quê quen sớm trưa

Có lúc trèo lên đầu chóp núi

Kêu dài một tiếng lạnh hư vô.” (1)

Một tiếng kêu dài hay một tràng cười cất lên từ đầu non, khi ngôn ngữ không thể trực chỉ bản thể, không thể biểu đạt được chí nguyện ban đầu, không thể trải phơi được tấm lòng, không diễn bày hết nỗi phù du chóng vánh của cuộc đời trong chuỗi dài trùng điệp tử-sinh.

Có khi cô đơn cùng tận giữa trần thế lao xao, trong phố hội đông đúc nói cười; mà lòng tạnh như nước trong giếng cổ (2).

Phế-hưng bao lớp sóng dồn. Người người lần lượt đến-đi.

Ai chẳng bao phen đi tìm mùa xuân.

Ai chẳng một lần đi qua thuở xuân thì.

Tìm mùa xuân cho nỗi điêu linh thống khổ của cuộc đời. Tìm mùa xuân cho vạn vật hồi sinh.

Ôi là nhớ, cây rừng, hốc đá ven suối. Tiếng chim kêu, một sáng tinh mơ khi sương sớm chưa tàn trên cánh hoa rừng. Củi thông đã tắt trong lò, hương trà cũng đã nguội lạnh. Lòng tịnh yên. Giấc mộng mùa xuân vừa tàn (2).

Nhưng mùa lộc mới cũng vừa về trên những cành khô. Cỏ thơm xanh rợp núi đồi. Ngàn hoa rực rỡ dưới trời xanh biêng biếc. Chim oanh lại hót trên cành. Lòng cũng rộn ràng nao nức như trẻ thơ đón Tết.

Xuân, thêm một lần vui đón xuân sang.

California, ngày 24.01.2018

Vĩnh Hảo

(www.vinhhao.info)

 

____________________

 

(1)       Bản dịch của Nguyễn Lang, (trích từ Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, Tập I, Saigon, nxb Lá Bối 1973), nguyên văn bài kệ Ngôn Hoài của Thiền Sư Không Lộ như sau:

“Trạch đắc long xà địa khả cư

Dã tình chung nhật lạc vô dư

Hữu thời trực thướng cô phong đỉnh

Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư.”

 

(2) Ý và hình ảnh được mượn từ bài thơ Xuân Đán của Chu Văn An ( ? – 1370) thời nhà Trần:

 

Xuân đán

Tịch mịch sơn gia trấn nhật nhàn,

Trúc phi tà ủng hộ khinh hàn.

Bích mê vân sắc thiên như túy,

Hồng thấp hoa tiêu lộ vị can.

Thân dữ cô vân trường luyến tụ,

Tâm đồng cổ tỉnh bất sinh lan.

Bách huân bán lãnh trà yên yết,

Khê điểu nhất thanh xuân mộng tàn.

 

Dịch nghĩa:

Sớm xuân

Nhà trên núi vắng vẻ, suốt ngày thảnh thơi,

Cánh cửa phên che nghiêng ngăn cái rét nhẹ.

Màu biếc át cả sắc mây, trời như say,

Ánh hồng thấm nhành hoa sương sớm chưa khô.

Thân ta cùng đám mây cô đơn mãi mãi lưu luyến hốc núi,

Lòng giống như mặt giếng cổ, chẳng hề gợn sóng.

Mùi khói thông sắp hết, khói trà đã tắt,

Một tiếng chim bên suối làm tỉnh mộng xuân.

(Thơ Văn Lý Trần, Tập III, trang 61. NXB Khoa Học Xã Hội Hà Nội 1978)

Từ khi lọt lòng mẹ, ai cũng được mang một cái tên, cùng đeo theo một hàng dài giờ và ngày sanh tháng đẻ. Đó là nói về Dương Lịch, nhưng là người Việt Nam thì còn phải "chuyển lịch" theo "Bà Nàng". Lịch "Bà Nàng" là Âm Lịch, tính theo mười hai con vật. Mỗi năm được tượng trưng bằng một con vật và người sanh nhằm vào năm nào thì sẽ mang tuổi của con vật đó.
Đi tìm ngôn ngữ mới của sáng tạo, trong khi lòng đầy các hoài niệm về quê hương, về một cuộc chiến đã trôi qua nhưng còn di lụy, về những người tình và những người bạn đã trở thành hình bóng trên mây… Từ vị trí đó, Trịnh Y Thư đã viết những dòng thơ -- và như từ vị trí một người đứng chệch ra khỏi cõi này.
Cổng Thành và chiếc cầu Hiền Lương ở vĩ tuyến 17 Gio Linh Thuộc tình Quảng Trị là một di tích lịch sử, kỷ niệm ngày Việt Nam bị chia đôi bởi Hiệp Định Geneve ngày 20 tháng 7 năm 1954.
Ngày 20 tháng 7 năm 1954 Hiệp định Geneva chia đôi nước Việt Nam. Cầu Hiền Lương sông Bến Hải vỉ tuyến 17 phía Bắc Tỉnh Quảng Tri là lằn ranh giửa hai miền Nam và Bắc Việt Nam. Phía Bác là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Cộng Sản Chủ Nghĩa, đặc thủ đô tại Hà Nội. Được Liên Bang Soviết và Trung Cộng Yểm Trợ. Phía Nam là Việt Nam Cộng Hòa đặc thủ đô tại Saigon. Được Mỷ và các nước tự do trên thế giới yểm trợ. Cuộc chiến giữa hai miền kéo dài từ 20 thàng 7, 1954 cho đến lúc chánh phủ Saigon sụp đổ và Việt Nam được thống nhứt kể từ ngày 30 thang 4 năm 1975.
ủng hộ nghị viên Tâm là việc đúng phải làm. Dù anh sẽ tái tranh cử không dễ dàng nhưng cũng sẽ vượt qua. Điều cần nhất là có đôi chân thật vững vàng để đi gõ của từng nhà
tại sao một cái gì đó được suy đoán là mang lại lợi ích cho tất cả mọi người hiện nay lại bị chỉ trích thậm tệ gần như ở khắp mọi, dù ở các nước phát triển cũng như đang phát triển? Làm thế nào mà một hiệp định thương mại có thể gây bất công cho tất cả các bên kết ước?
Lê Chí Lượng: hay tin ông thị trưởng Ed Lee đột ngột từ trần lòng tôi cảm thấy bồi hồi xúc động, thương tiếc. Tiếc cho cộng đồng Việt Nam chúng ta ở San Francisco mất một người bạn tốt
thi phẩm Kiều hẳn sẽ cống hiến cho mọi dân tộc trên thế giới một lời mời gọi cấp bách để có thể nhận ra bí nhiệm vô tận, đó chính là CON NGƯỜI.
Tôi đã thấy và tôi đã gặp các Linh mục, Tu sĩ hầu hết các Ngài đều can đảm, khiêm tốn, không còn mấy cái tôi khả ố: tất cả đều nhắm đến con người, trước mắt là các tù nhân đang cùng sống với mình vì dân tộc sau là đến cái chung của Giáo Hội Hoàn vũ.
Đinh La Thăng, một tướng tư lệnh hăng máu bị vào tù, cộng sản giết nhau là chuyện thường nhưng hôm nay ở đây, đánh dấu một thời kỳ chính trị Việt Nam do bọn Hán gian lộng hành trên đất nước này
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.