Hôm nay,  

Những Công Án Bất Ngờ

06/07/201812:59:00(Xem: 6524)

Những Công Án Bất Ngờ
 

 NGUYỄN VĂN SÂM


blank     Nhà thơ Viên Linh
     (Etcetera vẽ)

Tìm đến chùa xưa bặt tiếng chuông

Sư già còm cõi tựa chân hương

Nhìn lên tượng Phật người không khác

Lặng lẽ quay ra lạc mất đường.

(Lạc Đường, đoạn 39, Thuỷ Mộ Quan, trang 25)

Không phải tất cả bài nào trong Thuỷ Mộ Quan của Viên Linh cũng có tính chất công án, cũng đưa cho ta những vấn đề phải suy nghĩ, nhưng những bài như Lạc Đường không thiếu. Vừa mô tả cuộc đổi đời, ở đây ngay cả trong nhà chùa, vừa mở ra một con đường trước mắt. Tại sao: Vì đâu? Ý nghĩa?

Người đọc thơ có thể mệt vì phải tự mình giải thích những công án đó. Nhưng thơ không phải để dông dài, để thừa ý, nhất là Viên Linh tự giới hạn mỗi đề tài trong 28 chữ [thất ngôn tứ tuyệt]. Ý phải mở rộng, trong khi chữ đã giới hạn nên tính chất gợi ý được tác giả sử dụng tối đa. Về thăm chốn xưa, nhà hoang cỏ mọc, thềm vắng hiên rêu vách gió lùa. Tang thương, lỡ làng, bẽ bàng, phế hưng, sự lạc đường của khách trở về đều được nói đến.

Mai khách về thăm lại chốn xưa

Chớ buồn chi nhé, chỉ là mơ

Cỏ cây trước ngõ um tùm mọc

Thềm vắng hiên rêu vách gió lùa.

(Mai khách về, đoạn 27, TMQ, trang 21)

Chùa thay đổi màu vôi một đêm nào đó. Trắng, thành vàng (?) đỏ (đỏ). Người sư nữ bỏ bộ hoàng y mặc yếm nâu. Không thể tu được trong một xã hội đổi thay? Bị bắt buộc phải lao động trong một thế giới khước từ tôn giáo? Tất cả đều khả thể nhà thơ không cần nói rõ, chỉ gợi ý đặt một công án dành giải thích cho người đời có thể tìm được. Có thể không.

Ở cạnh chùa xưa dưới gốc cau

Có đêm vôi trắng bỗng thay màu

Sáng ra tôi gặp nhà sư nữ

Bỏ bộ hoàng y mặc yếm nâu.

(Dưới gốc cau, đoạn 6, TMQ, trang 14)

Đáp thai không quan trọng bằng vấn đề được đặt ra, đặt ra thì trước sau cũng sẽ được trả lời thôi. Càng có khả năng đưa ra nhiều đáp số càng tốt.

Một cổ miếu dưới bóng trăng, một con thuyền im bên bờ. Một xác ai nằm giữa ruộng khô. Tại sao? Nhân sinh hệ lụy? Biến đổi tang thương? Hồng nhan bạc mệnh. Bất lực của nhà cầm quyền? Sắt máu của kẻ say mê quyền lực. Người đọc tự tìm đáp số. Bài thơ được viết là xong, phần còn lại để cho người đọc. Thơ đi vào sự suy nghĩ, thơ mở tung trí óc bận bịu của mọi người, đánh bật dậy những tế bào óc xếp nếp sét rỉ vì chén cơm manh áo. Mệt? Thú vị tùy người, nhưng ít ra Viên Linh cũng có công đặt ra, tìm kiếm đề tài, sử dụng kỹ thuật để tạo ra một âm hưởng khi bài thơ đã được khép lại:



Cổ miếu âm thầm dưới bóng đa

Đêm trăng vàng lạnh nguyệt thu già

Bờ đê nước cả thuyền buông mái

Một xác ai nằm giữa ruộng khô.

(Nước Cả, đoạn 20, TMQ, trang 22)

Thơ văn bây giờ buồn. Chết chóc. Đau khổ. Đổi thay. Nhưng nếu những mô tả đó dài dòng, ta sẽ không có thơ. Ở Thủy Mộ Quan những chấm phá được thay vào. Giá trị tố cáo vẫn còn nhưng con đường ý mở rộng hơn. Người đọc góp phần. Người con gái chết trên đường tìm tự do: chỉ có trùng dương theo hộ tang. Xin đặt vòng hoa xuống đại dương. Những chiếc tầu không có người đến bến: dạo cảnh vu vơ mấy xác truồng. Con người lạc lõng trên quê hương thay đổi, trở về xứ lạ một mình anh. Mẹ già ngóng tin con khi đất nước được gọi là thanh bình: mẹ già lãng đãng ngoài sân lạnh. Cuộc thế tang thương đem theo thiên tình lỡ: kẻ bước ngang đường, kẻ bước lui. Người dân Việt túa ra muôn phương kéo theo những vấn đề se lòng: ngày mai nếu trở về quê cũ, hi vọng ta còn tiếng khóc chung. Con người thú tính trước cái chết: em nhỏ trắng thơm mùi thịt ngọt. Ngày thuyền tới bến mất em tôi.

Tất cả là vấn đề kỹ thuật. Viên Linh đang thí nghiệm sự chuyên chở thật nhiều ý trong một số chữ giới hạn. Đó là con đường anh tự vạch. Đã thành công một phần lớn, đã làm giàu cho ngôn ngữ, đã xếp chữ vào nhau và cho chữ một vai trò quan trọng hơn khi bình thường.

Trinh nữ trầm oan nổi giữa giòng

Thân băng ngàn hải lý về sông

Xung quanh không một người than khóc

Chỉ cá trùng dương theo hộ tang.

(Trầm Oan, đoạn 29, trang 22)

 

Chị biệt trần ai chẳng nhập quan

Thả hồn phiêu bạt khắp muôn phương

Ngày sau nếu có người thăm mộ

Xin đặt vòng hoa xuống đại dương.

(Đại Dương, đoạn 71, trang 36)

 

Chiến trận nghe tàn đã bảy năm

Trai đi chiến trận vẫn mù tăm

Mẹ già lãng đãng ngoài sân lạnh

Không biết tìm ai để hỏi thăm.

(Chiến trận, đoạn 38, TMQ, trang 25)

Một sự khám phá nào cũng đáng hoan nghinh và cũng có những giới hạn. Viên Linh đã vượt qua giới hạn đó bằng một sự khéo léo đáng khâm phục, một trong những lý do giải thích sự ủng hộ nồng nhiệt Thủy Mộ Quan từ lúc phát hành cho tới bây giờ.

Nguyễn Văn Sâm

Nguồn: Khởi Hành số 245-246, Jun.-Jul. 2017

 



Lực lượng “ăn cháo đá bát” rất đông và lan nhanh như bệnh dịch, nhưng chưa bao giờ được công khai cho dân biết để dân bàn, dân kiểm tra. Ngược lại, dân lại là nạn nhân của đám ong nuôi trong tay áo từ bao năm nay. Chúng nằm trong ngành Tuyên giáo, trước đây gọi là Ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương và Ban Khoa giáo Trung ương. Sau lưng đảng còn có đội ngũ chuyên nghề nói thuê và viết mướn gồm Báo cáo viên và Dư luận viên được trả lương bằng tiền thuế của dân.
Vào sáng ngày 1 tháng 5-1975 Trung tá bác sĩ Hoàng Như Tùng, nguyên chỉ huy trưởng Quân Y viện Phan Thanh Giản - Cần Thơ, mặc đồ dân sự, trong tư thế quân phong, đưa tay lên chào vĩnh biêt Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lênh Quân Đoàn IV, Quân Khu IV, Vùng 4 Chiến Thuật, trước sự kinh ngạc của một nhóm sĩ quan cấp cao của bộ đội cộng sản vì sự dũng cảm của bác sĩ Trung Tá Hoàng Như Tùng. Một sĩ quan của bộ đội cộng sản mang quân hàm thiếu tá tiến đến và yêu cầu bác sĩ Hoàng Như Tùng nhận diện Tướng Nguyễn Khoa Nam.
Sách này sẽ được ghi theo hình thức biên niên sử, về các sự kiện từ ngày 8/5/1963 cho tới vài ngày sau cuộc chính biến 1/11/1963, nhìn từ phía chính phủ Hoa Kỳ. Phần lược sử viết theo nhiều tài liệu, trong đó phần chính là dựa vào tài liệu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ “Foreign Relations of the United States 1961-1963”, một số tài liệu CIA lưu giữ ở Bộ Ngoại Giao, và một phần trong sách “The Pentagon Papers” của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, ấn bản Gravel Edition (Boston: Beacon Press, 1971). Vì giờ tại Việt Nam và Hoa Kỳ cách biệt nhau, cho nên đôi khi ghi ngày sai biệt nhau một ngày.
Tôi là anh trưởng trong gia đình, với 9 đứa em cả trai lẫn gái, nên trách nhiệm thật khó khăn, từ nhân cách cho đến cuộc sống. Nhưng may mắn tôi gặp được những người anh ngoài xã hội để noi gương và học hỏi. Một trong số những nhân vật hiếm hoi đó, chính là anh Nguyễn Văn Tánh, người mà tôi đã có cơ hội được tiếp tay hỗ trợ và đồng hành cùng anh trong suốt 20 cuộc Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế Liên Hiệp Quốc tại thành phố New York từ 20 năm qua.
Tôi tha phương cầu thực gần như trọn kiếp (và may mắn lạc bước đến những nơi không thiếu bơ thừa sữa cặn) nên bất ngờ nhìn thấy mảnh đời cùng quẫn thì không khỏi chạnh lòng. Nghe tiếng mời chào khẩn thiết, nhìn những khuôn mặt khẩn cầu của đồng bào mình mà muốn ứa nước mắt.
Các định kiến tai hại đối với các phụ nữ Á Châu trong văn hóa đại chúng của Mỹ đã có từ ít nhất thế kỷ thứ 19. Từ đó, các nhà truyền giáo và binh sĩ Mỹ tại Á Châu đã xem phụ nữ mà họ gặp đó như là ngoại lai và dễ tùng phục. Các định kiến này đã ảnh hưởng luật di trú đầu tiên của Hoa Kỳ dựa vào chủng tộc, Đạo Luật 1875 Page Act, ngăn cản các phụ nữ Trung Quốc vào Hoa Kỳ. Giả thuyết chính thức là rằng, ngoại trừ được chứng minh ngược lại, các phụ nữ TQ tìm cách vào Hoa Kỳ đã thiếu tư cách đạo đức và là những gái mại dâm. Trên thực tế, nhiều người là vợ tìm cách đoàn tụ với những ông chồng là những người đã đến Hoa Kỳ trước đó. Khoảng cùng thời gian đó, các phụ nữ TQ tại San Francisco cũng bị làm dê tế thần bởi các viên chức y tế địa phương là những người sợ rằng họ sẽ lây truyền các bịnh lây lan qua đường tình dục cho các đàn ông da trắng, là những người sau đó sẽ lây lan cho các bà vợ của họ. Vào giữa thế kỷ 20, các căn cứ chiến tranh và quân sự của Hoa Kỳ tại TQ, Nhật, Phi Luật Tân,
Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Bá Thanh, Nguyễn Thiện Nhân, Nguyễn Hòa Bình, Nguyễn Xuân Phúc … quả đúng là những kẻ thuộc giới ăn trên ngồi trốc. Họ là những hạt giống đỏ được gieo trồng từ miền Bắc, và đã ươm mầm thành cây. Loại cây này, học giả Phan Khôi gọi một cách lịch sự là cây Cộng Sản. Còn dân gian thì gọi là cây cứt lợn!
Nếu đảng đủ can đảm và ông Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng còn đủ bản lĩnh của một Lãnh đạo gương mẫu trong công tác phòng, chống tham nhũng thì hãy công khai cho dân biết Tổ chức Thanh niên của đảng đã làm được những gì cho dân cho nước trong 90 năm qua. Hay ngót 7 triệu Đoàn viên TNCS chẳng làm được trò trống gì, ngoải vai trò tay sai đã tuyệt đối trung thành với đảng và với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh?
Adam Smith và Karl Marx cùng được gọi chung là kinh tế cổ điển (classical economy) tức là lao động (labour) tạo ra giá trị (value.) Khác ở chổ Smith quan niệm thị trường tự do giúp mọi người hưởng thụ giá trị lao động còn Karl Marx lên án giá trị lao động của công nhân bị tư bản bóc lột. Vào đầu thế kỷ thứ 20 xuất hiện một cách nhìn mới là giá trị (value) do nơi tiện ích (utility) thay vì từ lao động (labour). Thí dụ một người đang khát uống ly nước đầu thì thật ngon, ly thứ nhì vừa vừa còn ly thứ ba đầy bụng nuốt không vô, tức là giá trị của mỗi ly nước giảm khi nhu cầu tiện ích hạ thấp. Quan điểm này gọi là Giá Trị Biên Tế hay Marginal Value.
Cùng với tác phẩm của Dương Thu Hương-"Những Thiên Đường Mù", Trần Mạnh Hão-"Ly Thân", Bảo Ninh-"Nỗi buồn Chiến tranh", Phạm Thị Hoài-"Thiên sứ", "Tướng về hưu"của Nguyễn Huy Thiệp đã tạo nên dòng văn học phản kháng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.