Hôm nay,  

Có Phải Từ Chinatown...?

07/07/201800:00:00(Xem: 6572)

Nguyễn Thị Cỏ May

 
Một nhà văn người Úc viết về mục tiêu chiến lược của Chinatown ở Úc và nhiều nước khác trên thế giới. Theo ông, người Tàu bắt đầu gặm nhắm xã hội nơi họ tới định cư bằng những Chinatown. Họ tự giới thiệu văn hóa Tàu với dân bản xứ. Trước tiên bằng văn hóa ăn uống là thứ không cần ngôn ngữ. Ở xứ có nền văn hóa phát triển, có chánh phũ dân chủ mạnh, có xã hội tự do thì Chinatown là nơi kiều dân Tàu tập trung lo lượm bạc cắc.

Ở các nước kém mở mang, nhứt là về mặt chánh trị, thì họ mua chuộc nhà cầm quyền để mua đứt luôn đất nước đó. Một số nước Phi châu đang gặp phải tình trạng này do nhà cầm quyền độc tài và tham nhũng. Gần đây và cụ thể, như là trường hợp điển hình kề sát Việt nam, đó là Sri Lanka. Nhưng Sri Lanka khác Việt nam. Sri Lanka là nạn nhơn do nhà cầm quyền độc tài, tham nhũng và bất tài làm nợ với Tàu không thể trả nổi mà phải chịu mắc bẫy nham hiểm của  Tàu, để cho Tàu lấy đất trừ nợ. Trong lúc đó, Việt nam lại tự nguyện hiến dâng  tất cả cho Tàu chỉ vì cùng phe xã hội chủ nghĩa. Và sự hiến dâng đã bắt đầu từ Hồ Chí Minh lúc chưa nắm được chánh quyền, chỉ mới vận động sự trợ giúp của Tàu đã cam kết khi nắm được chánh quyền sẽ đem cả đất nước đền ơn đáp nghĩa.

Nay Nguyễn Phú Trọng và đảng cộng sản ở Hà nội có đem cả Việt Nam dâng cho Tập Cận Bình cũng chỉ là nối tiếp sự nghiệp bán nước của Hồ Chí Minh mà thôi.

Văn hóa bành trướng

Bành trướng là thứ văn hóa muôn đời của Tàu, nó ăn sâu vào tận xương tủy của người Tàu. Hiền lành là di dân đi lượm bạc cắc với quần xà lỏn, cây đòn gánh thu mua ve chai, đi vào hang cùng ngỏ hẻm gõ lắc cắc rao tầm quấc (đấm bóp), bán chí mà phủ (chè mè đen), đẩy xe hủ tiếu mì, khá hơn là mở tiệm cà phê, tạp hóa, tiệm ăn, … Ngày nay là Chinatown.

Cái thứ văn hóa bành trướng này đã có từ 3000 năm qua, do nước Tàu bị nạn đói triền miên. Người dân phải bung ra ngoài tìm đường sống cho bản thân và gia đình. Nhưng khi Tàu có nội tình yên ổn, dân chúng an cư lạc nghiệp thì đó là lúc họ bắt đầu nghĩ tới xua quân đi chiếm ngự nước khác. Sự bành trướng của Tàu tập trung chủ yếu trên 2 cơ sở:

-Xâm chiếm lãnh thổ,

-Đồng hóa các dân tộc nơi họ tới.

Về xâm chiếm đất đai, họ bắt đầu từ đời nhà Chu. Văn hóa nhà Chu là coi đất đai thuộc về thần thánh mà họ là con của thần thánh nên tất cả đất đai và cư dân đều thuộc về họ. Chánh trị bá quyền bắt đầu từ đây. Đất đai của nhà Chu chinh phục được quá rộng lớn nên phải chia thành xứ, cắt đặt người cai trị. Chế độ đế quốc và phong kiến thành hình. Vua nhà Chu cho mình là con Trời, tuyên truyền nhận lãnh mệnh Trời trị vì bá tánh.

Vận dụng văn hóa bá quyền, ngày nay Tàu đã mở rộng đất nước với 5 khu vực rộng lớn bằng chánh sách thôn tính: Vân Nam, Tân Cương, Tây Tạng, Nội Mông, Nội Mãn Châu. Nhưng họ chưa thỏa mãn tham vọng bành trướng của họ. Ở cựu Đông dương, họ đã chiếm kể như xong Lèo và Miên. Việt nam đã được Nguyễn Phú Trọng đút thẳng vào miệng Tập Cận Bình, hắn nuốt khỏi cổ, đang chờ tiêu hóa.

Nhìn lại chút việc đã qua

Ký thỏa hiệp 6.3/46 đón Tây trở lại, ở lại Liên Hiệp Pháp, trước tiên, Hồ Chí Minh thực hiện âm muu quỉ quyệt, mượn tay Tây cùng với lực lượng võ trang Việt minh hành quân lên Việt Bắc tảo thanh các lực lượng yêu nước không cộng sản ,mạnh hơn Việt minh, như Việt nam Quốc dân đảng, Đại Việt, để giành cho được độc quyền cho Việt minh cộng sản.

Thấy chánh phủ Pháp tỏ ra cứng rắn, ở lại Hà nội khó khăn mà còn có thể nguy hiểm, Hồ Chí Minh bèn lo thu xếp lánh nạn lên Việt Bắc. Nhưng đi cách nào cho ổn một Chủ tịch nước mới vừa tự phong? Thế là Hồ tuyên bố toàn dân kháng chiến, mượn dân mở đường cho Hồ đào tẩu.

Cũng về bản chất của Hồ, xin kể thêm một giai thoại làm toát lên bản chất láu cá của Hồ, và nhứt là liên quan đến việc lệ thuộc để mất nước.

Đầu năm 1950, kháng chiến Việt nam ngày càng quyết liệt, Hồ Chí Minh bí mật qua Tàu cầu viện. Mao đã qua Moscow trước đó vài hôm. Tuy nhiên Hồ vẫn được Tàu thu xếp cho qua Moscow. Nhơn thấy Mao và Xít-ta-lin vừa ký hiệp ước quân sự, Hồ ngỏ lời xin ký một hiệp ước như vậy để được trợ giúp quân sự. Xít-ta-lin trả lời «Thế người ta hỏi đồng chí từ đâu ra? Chúng tôi giải thích thế nào đây?».

Hồ thản nhiên đáp «Điều đó rất dễ. Đồng chí cho chiếc máy bay chở tôi lượn một vòng trên trời, sau đó cho người ra sân bay đón tôi, đưa một tin trên báo, không được sao?».

Xít-ta-lin cười lớn: «Đó là quá sức tưởng tượng đặc biệt của người phương Đông các anh” (Phạm Cao Dương «Nhân vụ Vân Đồn, Bắc Phong Vân, … », trích dẫn từ tài liệu «Ghi Chép Thực Về Việc Đoàn Cố Vấn Quân Sự Trung Quốc Viện Trợ Việt Nam Chống Pháp», Hồi ký của những người trong cuộc, do Nhà Xuất Bản Lịch Sử Đảng Cộng Sản Trung Quốc ấn hành ở Bắc Kinh năm 2002, bản dịch tiếng Việt của Trần Hữu Nghĩa và Dương Danh Dy).

Thật ra, Xít-ta-lin đã đẩy vấn đề của Hồ Chí Minh qua cho Mao rồi. Giờ đây, Xít-ta-lin chỉ cần chỉ thị cho Hồ điều gì phải làm mà thôi. Ông kéo 2 chiếc ghế lại gần, bảo với Hồ «Đây là ghế địa chủ, còn đây là ghế bần cố nông. Đồng chí hãy chọn» (Pierre Brocheux, HCM du révolutionnaire à l’icone, Payot, Paris, 2003). Không thấy Hồ trả lời. Ý của Xít-ta-lin muốn bảo Hồ hãy lo tiến hành cách mạng vô sản, thay vì lo đánh Tây giành độc lập. Nhưng về nước, năm 1953, Hồ cho tiến hành cải cách ruộng đất, ban hành một sắc lệnh quy định các thành phần giai cấp ở nông thôn trong vùng Việt Minh chiếm đóng, gồm có 5 thành phần là địa chủ, phú nông, trung nông, bần nông và cố nông. Thực ra sắc lệnh này chỉ thi hành tại vùng Trung Du, tức là chiến khu Việt Bắc; Liên khu 4 gồm các tỉnh Thanh Hóa Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình; và Liên khu 5 gồm các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên. Còn trên toàn quốc là vùng do chính phủ Bảo Đại kiểm soát cho nên sắc lệnh này không có hiệu dụng. Riêng vùng Việt Bắc lại toàn là đất của các dân tộc Miền Núi cho nên không thể áp dụng sắc luật này, ngoại trừ tỉnh Thái Nguyên.

Hoàng Tùng đã kể lại: “…Bác chuẩn bị cho hội nghị cán bộ vào đầu năm 1953, quyết định cải cách ruộng đất. Trung Quốc cử đoàn cố vấn sang, bao gồm cố vấn công an, cố vấn tổ chức, cố vấn tuyên truyền. Đoàn cố vấn cải cách ruộng đất do Kiều Hiếu Quang làm trưởng đoàn. Kiều là phó bí thư tỉnh Quảng Tây. Họ muốn qua cải cách ruộng đất để chỉnh đốn lại Đảng ta. Thời gian lúc tiến hành cải cách đến lúc dừng là 3 năm. Khi đó tôi thường được dự họp Bộ Chính Trị do đó cũng biết một số việc…”

Việc trước tiên của Kiều Hiểu Quang là thanh lọc lại toàn bộ các sĩ quan chỉ huy trong quân đội và các cán bộ lãnh đạo trong đảng cộng sản. Sau đó thay thế bằng những người do các cố vấn lựa chọn. Tiêu chuẩn để được chọn làm chỉ huy phải là những người xuất thân từ giai cấp vô sản, tức là công nhân, bần nông và cố nông, nghĩa là những người thất học, ai bảo sao thì nghe vậy.

Trên danh nghĩa, Kiều Hiểu Quang tuyên bố là tổ chức laị đội ngũ theo học thuyết Mác-Lê, đưa giai cấp vô sản lên lãnh đạo “cách mạng”, nhưng trên thực tế là thanh toán hết những cán bộ giỏi có từ trước đến nay để thay bằng những người “thân Trung Quốc” mà các cố vấn đã nhắm truớc. Đó toàn là những người bất tài, không có tư cách.

Theo Hoàng Tùng: “Thuyết của họ là không dựa vào tổ chức cũ, mà tổ chức lại một số tổ chức khác của Đảng, họ phủ nhận hết các tổ chức khác như chính quyền, các đoàn thể. Ai lãnh đạo cách mạng tháng 8 thành công, ai lãnh đạo cuộc kháng chiến từ năm 1945 đến năm 1953. Thế mà họ thẳng tay bỏ hết, trong đó có mấy ngàn người bị xử tử”!

Dĩ nhiên là Kiều Hiểu Quang không trực tiếp giết người, mà chỉ thị cho Nguyễn Chí Thanh và Võ Nguyên Giáp thanh toán hết những người có tài bởi vì họ có thể tổ chức quật ngược thế cờ hoặc ngấm ngầm tuyên truyền chống lại trong đảng hay trong quân đội. Những người bị giết thường bị gán cho cái tội có lý lịch liên quan tới Quốc Dân Đảng, Đại Việt,… và xuất thân là thành phần “trí, phú, địa, hào”. Hầu hết họ đều được hỏi hai câu hỏi trước khi bị hành hình: “Anh thuộc giai cấp kẻ thù của giai cấp vô sản, vậy thì anh vào Đảng của những người vô sản để làm gì? Rồi lại tìm cách leo cao, luồn sâu trong Đảng để âm mưu gì?”.

Hoàng Tùng có vẻ thản nhiên khi thú nhận đảng của anh đã giết oan hằng mấy ngàn vị chỉ huy trong Đảng cũng như trong Quân đội.

Vụ án này cho thấy cả một thế hệ nhân tài, giới tiểu tư sản trí thức, cuối cùng của cuộc “Cách mạng Mùa Thu” đã bị tiêu diệt. Sau đó đảng cộng sản chỉ còn lại rặt một đám lưu manh, không học, chạy theo bợ đỡ Tàu để giữ đảng và được tiến thân.

Khi Xít-ta-lin cho Hồ Chí Minh biết Mao đã thuận giúp cách mạng Việt Nam, có nói rõ thêm «Trung quốc giúp Việt nam một con gà thì sau này, cách mạng thành công, Việt nam liệu trả lại Trung quốc một cái trứng».

Phải chăng đảng cộng sản Hà nội đang trả cho Tàu cái trứng? Hay cả con bò sữa mập béo nhưng được Tàu đưa cho thêm tiền?

Năm 1990, tại Thành đô, Nguyễn văn Linh, Tổng Bí thư đảng, Trưởng phái đoàn Việt nam dự Hội nghị, tuyên bố «Nhờ Trung Quốc mà Đảng Cộng Sản Việt Nam mới nắm được chính quyền, mới thắng đế quốc Pháp, đế quốc Mỹ, diệt được bọn tư bản phản động. Công ơn Trung Quốc to lắm, bốn biển gộp lại cũng không bằng… Việt nam sẽ làm hết sức mình để vun bồi tình hữu nghị lâu đời vốn sẵn có giữa hai đảng do Mao Chủ Tịch và Hồ Chí Minh dày công xây dựng trong quá khứ …».

Cái gợi là "tình hữu nghị giữa hai đảng do Mao Chủ Tịch và Hồ Chí Minh dày công xây dựng», phải chăng đó là lời hứa của Hồ Chí Minh với 2 Đại Tướng Trần Canh và Vị Quốc Thanh đại diện của Mao năm 1926 và lập lại với Chu Ân Lai năm 1930 vào ngày thành lập Đảng CS Việt Nam: “Việt Nam và Trung Quốc tuy hai mà một. Một dân tộc. Một Nền văn hóa. Một phong tục. Một tổ quốc. Nếu giúp chúng tôi thắng Pháp, thắng Nhật, thắng  tất cả bọn tư bản vùng Đông Nam Á, nắm được chính quyền, thì nợ viện trợ sẽ hoàn trả dưới mọi hình thức, kể cả cắt đất, cắt đảo, lùi biên giới nhượng lại cho Trung Quốc, chúng tôi cũng làm, để đền ơn đáp nghĩa….”

Vận mệnh của dân tộc và đất nước Việt Nam có thể đã bị quyết định ngay từ chuyến đi của Hồ Chí Minh năm 1950. Và để thực hiện kế hoạch chiếm Việt nam khi thuận tiện, từ lúc này, chắc chắn Tàu đã nghiên cứu các cao điểm chiến lược về kinh tế và quân sự, các cột mốc biên giới, … nên ngày nay họ đều giành làm chủ toàn những điểm sanh tử ở Việt nam.

Thôi thế là hết vậy!

 
Nguyễn Thị Cỏ May

Tôi yêu những nông dân thôn Hoành, tôi yêu những nông dân Dương Nội. Yêu cái hồn của đất – nơi con người đang phải đối mặt với phong ba bão táp; nơi con người bước trên nghịch cảnh bằng sự cao quý và khí phách của riêng mình. Tôi có một niềm tin vững chắc rằng lòng tử tế và sự dũng cảm của họ sẽ lan toả và lan rộng.
Từ Văn phòng Viện Tăng Thống, tuy chỉ tồn tại trên danh nghĩa, trong phận sự bảo trì ấn tín của Viện Tăng Thống, kế thừa tâm nguyện của Đức Đệ Ngũ Tăng Thống qua phú chúc di ngôn của Ngài trước ngày thị tịch; chúng tôi trên nương tựa uy đức Tăng già và đạo lực gia trì của Chư tôn Trưởng lão, kính gởi đến Chư tôn Hòa Thượng, Chư Thượng tọa, Đại đức Tăng-già nhị bộ, cùng tất cả bốn chúng đệ tử, tâm nguyện Bồ-đề được thể hiện qua các kỳ họp đã nêu, ước mong tất cả bằng Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành, bằng đức lực, trí lực, và tài lực, với hằng tâm và hằng sản, đồng tâm nhất trí góp phần công đức vào sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh mà Chư Thánh Đệ tử, Lịch đại Tổ sư, bằng hùng lực và trí tuệ, bằng từ bi và nhẫn nhục, khoan dung, trải qua vô vàn gian nan chướng duyên trở ngại, đã mang ngọn đèn chánh pháp đến những nơi tăm tối, cho những ai có mắt để thấy, dựng dậy những gì đã sụp đổ, dựng đứng những gì đang nghiêng ngả.
Ngày Phật đản sanh là ngày vui, ngày thiêng liêng và trọng đại của nhân loại. Dù là với truyền thống nào, tông môn pháp phái nào, dù ở quốc độ nào… Người con Phật cũng đều hoan hỷ và thanh tịnh thân tâm để tưởng niệm đức Phật.
Thì tôi cũng nói cho hết lẽ như thế. Chớ bao nhiêu lương dân ở Văn Giang, Dương Nội, Thủ Thiêm, Lộc Hưng… đang sống yên lành mà Đảng & Nhà Nước còn có thể nhẫn tâm biến họ thành những đám dân oan (vật vã khắp nơi) thì cái chính phủ hiện hành có xá chi đến những khúc ruột thừa ở Cambodia.
Bàn về kinh tế không thể không nhắc đến tiền. Tiền không mua được hạnh phúc nhưng không có tiền thì…đói. Tiền mang lại tự do (có tiền mua tiên) hay biến con người thành nô lệ đồng tiền. Con nít lên 3 đã biết tiền dùng để mua bánh kẹo, vậy mà các kinh tế gia giờ này vẫn không đồng ý chuyện tiền để làm chi!
Sau ngày 30/4/1975, nếu phe chiến thắng đã có những chính sách mang lại sự hoà giải quốc gia, đối xử nhân bản với bên thua trận, thay vì cải tạo học tập, càn quét và thiêu huỷ văn hoá miền Nam, đánh tư sản mại bản, thì đã không có hàng triệu người bỏ nước ra đi và người Việt sẽ chẳng mấy ai còn nhớ đến một đất nước của quá khứ, tuy chưa hoàn toàn tự do dân chủ nhưng so với Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì người dân đã được tự do hơn bây giờ rất nhiều.
Tất nhiên phải “thành công” vì đảng một mình một chợ, không có ai cạnh tranh hay đòi chia phần. Nhưng việc đảng chọn cho dân bầu chỉ để tuyên truyền cho phương châm “ý đảng lòng dân”, trong khi người dân không có lựa chọn nào khác mà buộc phải đi bỏ phiếu để tránh bị làm khó trong cuộc sống.
Âm nhạc dễ đi vào lòng người, với hình bóng mẹ, qua lời ca và dòng nhạc, mỗi khi nghe, thấm vào tận đáy lòng. Trước năm 1975, có nhiều ca khúc viết về mẹ. Ở đây, tôi chỉ đề cập đến những ca khúc tiêu biểu, quen thuộc đã đi vào lòng người từ ngày sống trên quê hương và hơn bốn thập niên qua ở hải ngoại.
Những bà mẹ Việt xưa nay rất chơn chất thật thà, rất đơn sơ giản dị cả đời lo cho chồng con quên cả thân mình. Sử Việt nghìn năm đương đầu với giặc Tàu, trăm năm chống giặc Tây. Những bà mẹ Việt bao lần âm thầm gạt lệ tiễn chồng con ra trận, người đi rất ít quay về. Những bà mẹ âm thầm ôm nỗi đau, nỗi nhớ thương da diết.
Trước công luận, Eisenhower lập luận là cuộc chiến không còn nằm trong khuôn khổ chống thực dân mà mang một hình thức chiến tranh ủy nhiệm để chống phong trào Cộng Sản đang đe doạ khắp thế giới. Dân chúng cần nhận chân ra vấn đề bản chất của Việt Minh là Cộng Sản và chỉ nhân danh đấu tranh giành độc lập cho Việt Nam; quan trọng nhất là phải xem ông Hồ chí Minh là một cánh tay nối dài của Liên Xô. Đó là lý do cộng đồng quốc tế cần phải tiếp tục hỗ trợ cho Pháp chiến đấu.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.