Hôm nay,  

Đóa Hoa Mùa Vu Lan 2018

24/08/201800:03:00(Xem: 6408)
ĐÓA HOA MÙA VU LAN 2018

Trần Chí Phúc


blank

Cũng như mỗi MùaTết, Mùa Giáng Sinh đến thì Mùa Vu Lan năm nay lòng lại bồi hồi. Nhìn mặt trăng bắt đầu tròn trên bầu trời phương xa này , biết rằng ngày rằm sắp tới, Rằm Tháng Bảy- một ngày lễ hội lớn của truyền thống văn hóa Việt Nam và Phật Giáo.

Hồi còn bé, lên chùa nhìn bức tranh vẽ dán trên tường các cảnh ở địa ngục, người phạm tội bị quỉ sứ cưa mình, bỏ vào vạc dầu sôi mà run sợ. Nghe kể chuyện bà Thanh Đề mẹ của Bồ tát Mục Kiền Liên bị đọa vào địa ngục, rồi tự nhủ khi mẹ mình qua đời mình phải bắt chước Mục Kiền Liên làm mọi thứ để cứu người thân yêu nhất đời.

Thời thập niên 1960, các bài hát vọng cổ và tuồng cải lương có lấy đề tài Mục Liên Thanh Đề để trình diễn. Tuy những tác phẩm văn nghệ đó có ý nghĩa nhưng buồn quá, gợi cảnh chia ly, chết chóc, run sợ.

Rồi thêm câu chuyện ngày rằm tháng bảy là ngày cửa địa ngục mở cho các oan hồn được phép lên dương thế để hưởng những thức ăn bày cúng của nhân gian. Hầu như mọi nhà đều có cúng cô hồn, nghĩa là những người chết đi chưa đầu thai, còn lang thang vất vưởng, không có thân nhân cúng tế, được hưởng ké thức ăn.

Có những thương gia, nhà giàu bày biện thịnh soạn mâm cỗ trước nhà, nhang thắp chưa tàn thì đã bị bọn con nít hoặc người nghèo nhào vô dành giựt heo gà bánh trái. Gia chủ đành cười trừ gọi họ là “cô hồn sống”, không biết là cô hồn cõi âm có buồn không. Người ta tin rằng phẩm vật cúng phải có nhang khói và lời khấn nguyện của người cúng thì người cõi âm mới hưởng được.

Trong nhà thì bàn thở tổ tiên trang trọng, đèn nhang, hoa quả bánh trái tươm tất. Ngày Lễ Vu Lan cũng là ngày tưởng nhớ người cõi âm, ông bà cha mẹ và người thân đã khuất bóng. Ai rồi cũng chết từ cõi dương gian đi về cõi âm, ai cũng có thân nhân qua đời. Người sống cúng cho người chết nghĩ rằng mai này mình cũng sẽ được con cháu làm giống như thế.

Thi hào Nguyễn Du đã viết bài Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh, là những oan hồn chết bờ chết bụi, chết oan không có thân nhân cúng tế cũng trong mùa Vu Lan này. Đây là một tác phẩm văn học giá trị và đầy tình thương đồng loại.

Cái bầu không khí Vu Lan là báo hiếu mẹ, tưởng nhớ người cõi âm, quỉ sứ địa ngục, cô hồn bám theo tâm trí tôi suốt những mùa Vu Lan từ hồi còn bé cho tới khi tôi vượt biển qua xứ Bắc Mỹ cuối thập niên 70 thế kỷ trước.

Mặc dù ở Việt Nam đã có phong trào bông hồng cài áo nhân mùa Lễ Vu Lan nhưng tôi không để ý. Ở thành phố Calgary, Canada, mùa Vu Lan 1982, một nhóm Phật tử tổ chức cúng bái tụng kinh và cài bông hồng lên ngực cho mọi người. Bông hồng đỏ cho người còn mẹ, bông hồng trắng cho người không còn mẹ.

Lần đầu tiên trong đời, tôi thấy những cụ già mắt đẫm lệ và khóc. Tôi chợt hiểu ra vì họ cũng buồn khi nhớ mẹ của họ. Trong lòng mỗi người dù ở lứa tuổi nào, già hay trẻ thì mãi mãi họ vẫn là đứa bé đối với người đã sinh ra mình.

Dần dà nhiều năm sau này, lễ bông hồng cài áo trở nên phổ biến. Nhiều bài hát ra đời tiếp nối ca khúc nổi tiếng Bông Hồng Cài Áo do nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ phổ từ ý thơ Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Từ không khí buồn, trang nghiêm đã trở nên dễ thương với tình mẹ, với bông hồng. Không khí văn nghệ đó cũng lây lan sang một số người không phải là Phật tử. Anh hay chị còn mẹ thì gắn bông hồng đỏ, bông hồng trắng cho kẻ mất mẹ. Dù buồn hay vui thì cũng là nhớ tới mẹ, vinh danh tình yêu dành cho mẹ.

Có đôi lúc, có người không thích chuyện phân biệt bông hồng đỏ, bông hồng trắng. Nhưng làm sao thỏa mãn hết tất cả các ý kiến. Dĩ nhiên người trẻ thì mẹ cũng chưa già lắm có bông hồng đỏ, còn người lớn tuổi cỡ 60, 70 thì mẹ đã qui tiên nhận bông hồng trắng.

Bàn một chút về chữ nghĩa, chữ Rose dịch là bông hồng, hồng nghĩa là màu hồng. Để phân biệt thì phải thêm bông hồng đỏ, bông hồng trắng.

Cho nên bây giờ, tôi nghĩ rằng bông hồng đỏ hay trắng cũng là chỉ tượng trưng cho tình yêu đối với mẹ nhân mùa Lễ Vu Lan. Tình yêu đó cao quí.

Bông hồng cài áo còn phổ biến trong ngày Lễ Mẹ - Mother’s Day ở Bắc Mỹ và bây giờ cũng phổ biến ở Việt Nam.

Nhưng lễ bông hồng cài áo của Mother’s Day khác với lễ bông hồng cài áo mùa Vu Lan.

Mùa Lễ Vu Lan bây giờ là sự hài hòa, tổng hợp, xen lẫn giữa sự tưởng nhớ người đã khuất bóng, gọi là người cõi âm như cúng cô hồn; cúng bái tổ tiên ông bà cha mẹ khuất bóng, cầu siêu cửu huyền thất tổ và không khí văn nghệ từ chuyện bông hồng cài áo.

Rất nhiều người đã khóc khi nghe những bài hát về tình mẹ, về đóa hoa cài trên áo mùa Vu Lan. Dù mẹ còn sống nhưng xa cách, và nhớ kỷ niệm về mẹ đã ra đi, cái nào cũng làm rưng rưng lệ.

Mùa Vu Lan 2018, có người bạn củng quê Tuy Hòa, hiện đang ở Calgary, Canada. Mẹ của anh vừa mất hưởng thọ 100 tuổi ở Nhà dưỡng lão. Điều đáng nói là anh tuổi trên sáu mươi, có vợ con và có cháu nội. Mỗi ngày khi tan sở lúc 4 giờ chiều, anh về nhà nấu thức ăn chay đem vào Nhà dưỡng lão; anh tự tay cho mẹ ăn uống, bà cụ ăn chay trường, rồi tắm rửa, thay quần áo cho mẹ; đến 9 giờ tối mới trở về nhà. Anh chăm sóc mẹ như vậy suốt 7 năm trời, không một ngày vắng; chỉ đôi lần đi xa ít buổi vì công việc. Các nhân viên Nhà dưỡng lão rất khâm phục lòng hiếu thảo của anh. Khi tôi biết tin, chia buồn bà cụ qua đời thì anh bạn tâm sự rằng, bây giờ cứ 4 giờ chiều là lòng man mác, chạy xe ngang qua Nhà dưỡng lão, thấy nhớ cái gì đó.

Tôi nghe anh kể chuyện chăm sóc mẹ già như vậy mà lòng cảm phục, chuyện hiếu thảo như vậy thật hiếm có.

Và lòng tôi lại băn khoăn. Mẹ tôi tắt thở khi tôi ngồi bên cạnh, đứa con trai từ Mỹ về VN thăm mẹ nhưng lại không có dịp nghe lời cuối cùng của bà. Hồi còn ở Calgary Canada, tôi có viết bài hát Đóa Hoa Mùa Vu Lan cho tờ báo Phật Giáo Calgary năm 1983. Trong đó có trang trải nỗi lòng của mình.

Ý tưởng từ bông hồng cài áo kết hợp với mùa lễ Vu Lan, có bông hồng cài trên áo người em gái, dù vui nhưng vẫn khóc vì mẹ cách xa, cùng chắp tay cầu nguyện trước Phật, cùng mơ về một ngày đất nước thanh bình để sum họp với mẹ hiền. Đóa hoa mùa Vu Lan tượng trưng cho tình yêu cao quí dành cho mẹ và có không khí rất là Vu Lan.
 

Lời ca : "Cành hoa hồng thắm cài lên áo em. Cùng nhau chia vui mẹ hiền còn đó. Hỏi em, me thương em không, em bảo mẹ thuơng em lắm. Hỏi em, em yêu mẹ không, em cười sao lại không yêu.

Tình yêu nào đó nồng lên mắt em. Tình yêu bao la của mẹ cao quí. Ngày thơ tung tăng bên me, xứ người giờ con lỡ bước. Lời khuyên ra đi năm nao, con ghi nhớ mãi trong lòng.

Điệp khúc: Nay mùa Vu Lan, mùa báo hiếu đó em. Chấp tay ta cùng nguyện cầu, nén hương dâng trước Phật đài. Cầu cho mẹ yêu an vui, cầu cho quê hương đau thương, không còn khói lửa, không còn hận thù.

Cành hoa hồng thắm cài lên áo em. Này em vui đi, kìa sao em khóc. Nghìn công ơn sâu của mẹ, bao giờ đời con báo đáp. Ngày quê hương thôi chia ly, mẹ hiền hết câu mong chờ.”

  

Tôi nhờ ca sĩ Mai Hương thu âm, nhờ nhạc sĩ Đặng Xuân Thìn viết hòa âm cho 4 vĩ cầm và 1 dương cầm do nhạc sĩ Hoa Kỳ trình tấu, phòng thu Phạm Ngọc Sơn- anh ruột ca sĩ Khánh Ly- ở Oakland đưa vào trong CD Chiều San Francisco phát hành năm 1994.

Tiếng hát Mai Hương tha thiết, điêu luyện, tiếng vĩ cầm êm ái và tiếng dương cầm thánh thót đẩy bài hát Đóa Hoa Mùa Vu Lan lên cao.

Tôi mới học được cách đưa âm thanh bài hát lên Youtube cùng những hình ảnh chọn lọc về lễ bông hồng cài áo để gởi cho bằng hữu khắp nơi nhân mùa Vu Lan 2018.

Xin vào Youtube gõ chữ Đóa Hoa Mùa Vu Lan Trần Chí Phúc thì hiện ra bài hát.
 

 

Hoặc bấm vào: https://www.youtube.com/watch?v=J4ImQhjy6jo&t=9s

Như là món quà tinh thần tặng bằng hữu, như một tâm tình về nỗi nhớ mẹ của riêng mình, ai cũng có mẹ để nhớ và để rơi lệ trong mùa Vu Lan.



Lực lượng “ăn cháo đá bát” rất đông và lan nhanh như bệnh dịch, nhưng chưa bao giờ được công khai cho dân biết để dân bàn, dân kiểm tra. Ngược lại, dân lại là nạn nhân của đám ong nuôi trong tay áo từ bao năm nay. Chúng nằm trong ngành Tuyên giáo, trước đây gọi là Ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương và Ban Khoa giáo Trung ương. Sau lưng đảng còn có đội ngũ chuyên nghề nói thuê và viết mướn gồm Báo cáo viên và Dư luận viên được trả lương bằng tiền thuế của dân.
Vào sáng ngày 1 tháng 5-1975 Trung tá bác sĩ Hoàng Như Tùng, nguyên chỉ huy trưởng Quân Y viện Phan Thanh Giản - Cần Thơ, mặc đồ dân sự, trong tư thế quân phong, đưa tay lên chào vĩnh biêt Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lênh Quân Đoàn IV, Quân Khu IV, Vùng 4 Chiến Thuật, trước sự kinh ngạc của một nhóm sĩ quan cấp cao của bộ đội cộng sản vì sự dũng cảm của bác sĩ Trung Tá Hoàng Như Tùng. Một sĩ quan của bộ đội cộng sản mang quân hàm thiếu tá tiến đến và yêu cầu bác sĩ Hoàng Như Tùng nhận diện Tướng Nguyễn Khoa Nam.
Sách này sẽ được ghi theo hình thức biên niên sử, về các sự kiện từ ngày 8/5/1963 cho tới vài ngày sau cuộc chính biến 1/11/1963, nhìn từ phía chính phủ Hoa Kỳ. Phần lược sử viết theo nhiều tài liệu, trong đó phần chính là dựa vào tài liệu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ “Foreign Relations of the United States 1961-1963”, một số tài liệu CIA lưu giữ ở Bộ Ngoại Giao, và một phần trong sách “The Pentagon Papers” của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, ấn bản Gravel Edition (Boston: Beacon Press, 1971). Vì giờ tại Việt Nam và Hoa Kỳ cách biệt nhau, cho nên đôi khi ghi ngày sai biệt nhau một ngày.
Tôi là anh trưởng trong gia đình, với 9 đứa em cả trai lẫn gái, nên trách nhiệm thật khó khăn, từ nhân cách cho đến cuộc sống. Nhưng may mắn tôi gặp được những người anh ngoài xã hội để noi gương và học hỏi. Một trong số những nhân vật hiếm hoi đó, chính là anh Nguyễn Văn Tánh, người mà tôi đã có cơ hội được tiếp tay hỗ trợ và đồng hành cùng anh trong suốt 20 cuộc Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế Liên Hiệp Quốc tại thành phố New York từ 20 năm qua.
Tôi tha phương cầu thực gần như trọn kiếp (và may mắn lạc bước đến những nơi không thiếu bơ thừa sữa cặn) nên bất ngờ nhìn thấy mảnh đời cùng quẫn thì không khỏi chạnh lòng. Nghe tiếng mời chào khẩn thiết, nhìn những khuôn mặt khẩn cầu của đồng bào mình mà muốn ứa nước mắt.
Các định kiến tai hại đối với các phụ nữ Á Châu trong văn hóa đại chúng của Mỹ đã có từ ít nhất thế kỷ thứ 19. Từ đó, các nhà truyền giáo và binh sĩ Mỹ tại Á Châu đã xem phụ nữ mà họ gặp đó như là ngoại lai và dễ tùng phục. Các định kiến này đã ảnh hưởng luật di trú đầu tiên của Hoa Kỳ dựa vào chủng tộc, Đạo Luật 1875 Page Act, ngăn cản các phụ nữ Trung Quốc vào Hoa Kỳ. Giả thuyết chính thức là rằng, ngoại trừ được chứng minh ngược lại, các phụ nữ TQ tìm cách vào Hoa Kỳ đã thiếu tư cách đạo đức và là những gái mại dâm. Trên thực tế, nhiều người là vợ tìm cách đoàn tụ với những ông chồng là những người đã đến Hoa Kỳ trước đó. Khoảng cùng thời gian đó, các phụ nữ TQ tại San Francisco cũng bị làm dê tế thần bởi các viên chức y tế địa phương là những người sợ rằng họ sẽ lây truyền các bịnh lây lan qua đường tình dục cho các đàn ông da trắng, là những người sau đó sẽ lây lan cho các bà vợ của họ. Vào giữa thế kỷ 20, các căn cứ chiến tranh và quân sự của Hoa Kỳ tại TQ, Nhật, Phi Luật Tân,
Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Bá Thanh, Nguyễn Thiện Nhân, Nguyễn Hòa Bình, Nguyễn Xuân Phúc … quả đúng là những kẻ thuộc giới ăn trên ngồi trốc. Họ là những hạt giống đỏ được gieo trồng từ miền Bắc, và đã ươm mầm thành cây. Loại cây này, học giả Phan Khôi gọi một cách lịch sự là cây Cộng Sản. Còn dân gian thì gọi là cây cứt lợn!
Nếu đảng đủ can đảm và ông Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng còn đủ bản lĩnh của một Lãnh đạo gương mẫu trong công tác phòng, chống tham nhũng thì hãy công khai cho dân biết Tổ chức Thanh niên của đảng đã làm được những gì cho dân cho nước trong 90 năm qua. Hay ngót 7 triệu Đoàn viên TNCS chẳng làm được trò trống gì, ngoải vai trò tay sai đã tuyệt đối trung thành với đảng và với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh?
Adam Smith và Karl Marx cùng được gọi chung là kinh tế cổ điển (classical economy) tức là lao động (labour) tạo ra giá trị (value.) Khác ở chổ Smith quan niệm thị trường tự do giúp mọi người hưởng thụ giá trị lao động còn Karl Marx lên án giá trị lao động của công nhân bị tư bản bóc lột. Vào đầu thế kỷ thứ 20 xuất hiện một cách nhìn mới là giá trị (value) do nơi tiện ích (utility) thay vì từ lao động (labour). Thí dụ một người đang khát uống ly nước đầu thì thật ngon, ly thứ nhì vừa vừa còn ly thứ ba đầy bụng nuốt không vô, tức là giá trị của mỗi ly nước giảm khi nhu cầu tiện ích hạ thấp. Quan điểm này gọi là Giá Trị Biên Tế hay Marginal Value.
Cùng với tác phẩm của Dương Thu Hương-"Những Thiên Đường Mù", Trần Mạnh Hão-"Ly Thân", Bảo Ninh-"Nỗi buồn Chiến tranh", Phạm Thị Hoài-"Thiên sứ", "Tướng về hưu"của Nguyễn Huy Thiệp đã tạo nên dòng văn học phản kháng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.