Hôm nay,  

Cuộc Đời Của Một Con Đường

10/10/201805:34:00(Xem: 7357)

CUỘC ĐỜi CỦA MỘT CON ĐƯỜNG

 

phan ni tấn

 

"Ký ức tuổi thơ tôi trong ngôi nhà thân thuộc chúng tôi sống đã theo tôi cho đến tận bây giờ". Tuyết, em bà con chú bác của tôi, lúc nhớ về một con đường ở Sài Gòn, đã viết như vậy.

Khoảng giữa năm 1960, Ba Má tôi mở quán cà phê ở ngã ba đường Phạm Ngũ Lão – Đề Thám. Má tôi có khiếu buôn bán, quán khai trương gần tháng nay vẫn đông nghẹt khách phải mướn thêm người chạy bàn. Lúc đó tôi học trường nữ Gia Long, anh tôi theo học trường Trung học Pétrus Ký. Buổi chiều đi học về hai anh em mới xuống quán phụ giúp.  Nhà có hai tầng, tầng trên để ở, tầng dưới bán quán.

blank

Vào thời đó, đường Phạm Ngũ Lão (tên cũ dưới thời Pháp thuộc là đường Colonel Grimaud) thuộc quận Nhứt, Sài Gòn nổi tiếng là "con đường báo chí", vì phần lớn nhà in, nhà xuất bản và tòa soạn báo chí đều tập trung trên con đường này. Nếu tính từ đầu đường Phạm Ngũ Lão với rạp hát Thanh Bình, ngó xéo qua chợ Thái Bình thì cuối đường là nhà ga xe lửa Sài Gòn.

Sức mạnh của kỹ nghệ báo chí đã biến con đường Phạm Ngũ Lão thành "Con đường báo chí", lúc nào cũng nhộn nhịp người qua kẻ lại, nhất là các văn nhân, thi sĩ, nhạc sĩ, họa sĩ, kịch sĩ, nghệ sĩ cải lương, phóng viên nhà báo, thợ sắp chữ in, thợ sửa bản vỗ… thường xuyên ra vào các tòa soạn báo chí, các tiệm cà phê, quán cóc. Đường Phạm Ngũ Lão, một đoạn đường một bên là dẫy tường nhà ga xe lửa Sài Gòn, một bên là cơ sở kinh doanh báo chí, nhà in, nhà xuất bản... Các tạp chí Văn,  Phổ Thông, Tuổi Ngọc, Khởi Hành, Thời Tập, Vấn Đề, Thế giới, Kịch Ảnh, Điện Ảnh,  nhật báo Tiếng Vang, Sàigòn Mới…, quán cà phê, quán cóc nhộn nhịp người ra người vào, chưa kể đoạn giữa Đề Thám và Đỗ Quang Đẩu nhiều nhà in với tiếng máy in sách báo rầm rập suốt ngày đêm không ngừng nghỉ.

Người ta thường nghĩ về chiến tích của con đường báo chí như nghĩ về chợ sách trải dài trên đại lộ Lê Lợi, bên kia đường là nhà sách Khai Trí, tưởng như trường tồn và ổn định mãi mãi. Nhưng rồi nước mất, nhà tan, những hình ảnh văn học đẹp đẽ trong mắt người Sài Gòn đã bị tịch thu, chất đống và thiêu cháy, cùng lúc đời sống tinh thần lẩn vật chất của toàn miền Nam Việt Nam bị thay đổi đến tận gốc rễ. Việt Cộng gọi là "đổi đời".

Sau 30 tháng 4, 1975, riêng đường Phạm Ngũ Lão không bị đổi tên như những con đường khác, nhưng Sài Gòn đã phơi bày ra một vết thương chí tử bởi lịch sử chiến tranh giữa hai miền Nam Bắc: Sài Gòn thân yêu của người miền Nam bị đổi tên thành tên một xác người. Đó là một quyết định man rợ của những lãnh tụ man rợ từ bên kia chiến tuyến sau khi kết thúc cuộc chiến.

Cũng trên con đường Phạm Ngũ Lão này, những gì liên quan tới ngành kinh doanh báo chí, ấn loát, văn phòng, tiệm buôn, quán xá đồng loạt bị đóng cửa. Những tiếng động rầm rập của hệ thống máy in đều im hơi lặng tiếng. Giới văn nghệ sĩ, kẻ bị bắt, người lẩn trốn, người giải nghệ, người vượt biên ra nước ngoài, khiến "Con đường báo chí" như gương mặt thiếu máu, mất sinh khí trở nên ảm đạm, tiêu điều. Bên kia nhà ga xe lửa Sài Gòn cũng ngưng hoạt động, không ai chăm sóc để cỏ dại mọc um tùm.

Ba Má tôi mất đã nhiều năm. Anh tôi, sĩ quan tham mưu hành quân thuộc Liên Đoàn 4 Biệt Động Quân cũng đã hy sinh trong một trận đánh ngoài Bình Định.  Căn nhà với tiệm cà phê của chúng tôi trên con đường Phạm Ngũ Lão, con đường báo chí bị tước đi danh hiệu, cũng trở nên buồn bã như tôi. Lúc đó tôi mới để ý tới dãy phố Phạm Ngũ Lão nhộn nhịp trở thành một thực thể chông chênh. Nó chẳng đẹp đẽ chút nào. Nó giống như hàm răng lệu bệu, vàng ệch của một ông già xấu xí, cái cao, cái thấp, cái nhô ra, cái thụt vào.  

Lúc mất đi một cái gì quen thuộc, người ta mới nghĩ tới nó. Như tôi thường nghĩ tới mà thương cho những người thân đã ra người thiên cổ. Và tôi nghĩ tới nó, nhìn lại nó rồi giựt mình nhận ra nó, con đường Phạm Ngũ Lão, lâu rồi, lâu lắm vẫn là một "người bạn thâm niên" mà hàng ngày bán buôn, lui tới tôi vẫn lơ là sự hiện hữu của nó.

Khi viết ra câu chuyện cuộc đời của đường Phạm Ngũ Lão từng là "người bạn cũ", tôi cảm thấy rất dễ chịu. Giống như một nhà thầu kỳ cựu, con đường Phạm Ngũ Lão dần dà tái định hình khu phố. Cư dân ở đây, cũ cũng như mới, lại làm chứng cho sự trở mình của con đường. Thế nhưng vì thời thế đổi thay, trong khi con đường trở mình vực dậy,  dù muốn dù không, nó đã xóa mờ dấu vết về lịch sử của chính nó: "con đường báo chí".

Năm 1986, đường Phạm Ngũ Lão, vốn là một chiến tích trong giới kỹ nghệ báo chí được mệnh danh "con đường báo chí" đã trở thành khu phố Tây ba-lô. Khách du lịch, đa số người Phương tây, thường đeo ba-lô hành lý nên người Sài Gòn gọi họ là Tây ba-lô. Từ đó, đường Phạm Ngũ Lão, gương mặt thiếu máu của nó đã lấy lại sinh khí, ngày càng phát triển.

Nhưng đó là chuyện của một con đường. Nó phụ thuộc vào dòng sống của con người. Qua nhiều năm tháng sau này, ai dám nói khu phố Tây ba-lô trên đường Phạm Ngũ Lão vẫn là một thực thể sinh động. Nó tiếp tục vươn lên, uyển chuyển hơn hay mềm mại hơn để rồi tàn lụi? Như dấu vết của "con đường báo chí" đã tàn lụi. Tàn lụi như một chế độ.

 

Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.
Ôn dịch Vũ Hán gây nên một cơn khủng hoảng chưa từng thấy trong khối các nước nghèo khó khiến 100 quốc gia trong số 189 thành viên IMF hiện đang cầu cứu cơ quan quốc tế này viện trợ khẩn cấp. Tưởng cần nên tìm hiểu bối cảnh của những quốc gia đang phát triển song song với các phân tích về tác động của khủng hoảng.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã lộ rõ tâm địa chống dân chủ bằng mọi giá để kéo dài độc tài cai trị, làm giầu bất chính trên lưng người dân nhưng lại ngoan ngoãn cúi đầu trước hành động cướp đất, chiếm Biển Đông của Trung Cộng. Những việc này, tuy không mới, nhưng đã bung ra vào lúc đảng ra sức vận động cán bộ, đảng viên, kể cả cựu lãnh đạo và cựu chiến binh đóng góp ý kiến vào các Dự thảo văn kiện đảng XIII để khoe khoang.
Đại dịch Vũ Hán đang tàn phá Trung Hoa Lục Địa và toàn thể nhân loại. Tuy thế, tai họa này vẫn không giảm thiểu tham vọng bá quyền xâm lược của đảng CSTQ đối với Việt Nam qua các hoạt động tập trận, xâm phạm lãnh hải và vùng kinh tế cũng như hiếp đáp gây thiệt hại cho ngư dân Việt Nam.
Tôi (trộm) nghe nói rằng quân tử ba ngày mà không đọc sách thì diện mạo dơ dáng, và trò chuyện khó nghe. Tôi vốn bẩm sinh mặt mũi không mấy dễ coi, và chuyện trò vô cùng nhạt nhẽo nên (lắm khi) đến vài ba năm cũng chả nhìn đến một cuốn sách nào mà vẫn cứ sống phây phây – chả có (trăng) sao gì ráo trọi.
Sau ngày 30-4-1975 Bắc Việt Nam (NVN) chủ trương tiêu diệt triệt để tiềm lực NVN về nhân lực, về kinh tế và về văn hóa nhằm củng cố việc cưỡng chiếm Nam Việt Nam (NVN) và chận đứng Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) có thể hồi sinh ở NVN.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.