Hôm nay,  

Đom Đóm Và Cục Gạch

20/10/201800:00:00(Xem: 4483)
Nguyễn Thị Cỏ May

 
Đỗ Mười, cựu Tổng Bí thư và cựu Thủ tướng, Trần Đại Quang, đương kim Chủ tịch nước, cả hai chết trước sau chỉ mươi ngày. Theo thói lề dân gian, «miệng ăn cá, ăn mấm», thường nói đó là «chết trùng». Cái chết trước nhằm giờ linh, kéo theo cái chết sau của người thân trong họ. Quang và Mười, về liên hệ, còn hơn 2 người trong họ, tuy không cùng huyết thống, nhưng cùng đảng là cùng nhịp thở giống nhau, cùng giấc mơ giống nhau, cùng động tâm giống nhau nên sự ứng nghiệm của giờ linh phải bén nhạy hơn những người cùng máu huyết mà suy nghĩ lại khác nhau, nguyện vọng không giống nhau. Theo kinh nghiệm dân gian đó, không biết có ai đang chờ coi «giờ trùng» sẽ còn ứng nghìệm ở đồng chí nào khác nữa của hai người đó hay không?

Nhưng đó là chuyện lãnh tụ cộng sản chết và cách lý giải của nhơn dân về cái chết.

Nhờ theo cộng sản, khi chết mới được tang ma  linh đình như vậy. Như vua chúa thời xưa. Hơn cả Tổng thống các cường quốc văn minh ngày nay tuy sau khi chết, những người này để lại nhiều ơn ích cho đời về nhiều mặt. Và nhờ họ mà thế giới từng bước thay đổi theo hướng tốt đẹp.

Còn các lãnh tụ cộng sản, chết rồi, mồ mả đồ sộ, để lại cho đời được gì để nhơn dân nhắc nhở?

Về các lãnh tụ chốp bu ở Hà nội, như Đỗ Mười, lúc chưa có Trần Đại Quang Chủ tịch nước, Nguyễn Phú Trọng,… Hồ Chí Minh, Sĩ Phu Bắc Hà, lược kể thành tích:

“Sặc mùi ba láp là tên Đỗ Mười”…

Định hướng tối tăm là Nguyễn Phú Trọng…

Không vợ lắm con là Nguyễn Ái Quốc!

SĨ PHU BẮC HÀ (http://quanlambao.blogspot.com)

Nhưng lãnh tụ cộng sản nào rồi cũng được đảng và Nhà nước tô vẽ để có những thành tích sáng chói. Có người do chính họ tự thêu dệt.

Đèn đom đóm của bác Quang

Trần Đại Quang làm Đại tướng Công an, rồi vọt lên Chủ tịch nước, nhưng nhìn lại quá trình tiến thân, Quang hoàn toàn không có một thành tích nào đáng ghi nhớ, ngoài thành tích dùi cui. Vào lúc Vìệt nam mở cửa ra thế giới Tây phương, đảng cộng sản hô hào đảng viên phải biết làm giàu và khoa bảng vì đảng cộng sản là đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội nên phải gồm những đảng viên ưu tú. Thế là mọi người có tiền và có bằng cấp. Bằng cấp càng bự, chức vụ càng cao. Bằng cấp vừa là bàn đạp bước lên cao, vừa là thành tích thành đạt trong việc phấn đấu bản thân.

Trần Đại Quang chọn giới thiệu mình bằng một hình ảnh vô cùng hiền lành: một cậu bé con nhà nghèo, sớm mồ côi cha, ham học, không có tiền mua dầu đốt đèn (hoặc trả tiền điện) nên bắt đom đóm nhốt vào vỏ trứng để đom đóm chiếu ánh sáng giúp Quang học. Và từ những bước đầu khó khăn này, Quang vượt qua, tiến lên đạt được văn bằng cao nhứt là Tiến sĩ. Và còn Tiến sĩ tổ chức đảng, mới thấy ý chí và quyết tâm xây dựng con người của Quang!

Đúng hôm Quang chết, báo Phụ nữ (21/09/2018), viết ngay một bài, dựa theo lời kể của gia đình như nguồn thông tin đáng tin cậy hơn hết, ca ngợi Quang do từ thuở nhỏ hiếu học, nên ngày nay, ở cương vị Chủ tịch nước, vẫn thiết tha với việc học. Ông «khẳng định giáo dục phải đặt ở vị trí trung tâm trong tiến trình phát triển, khi dự lễ khai giảng đầu năm học mới tại trường Chu Văn An, Hà Nội.»

Nhà báo Vũ Thanh Hương – Phó Ban An ninh thế giới (Báo Công an nhân dân), cũng trên báo Phụ nữ, kể tiếp: «Năm 2016, cố Hiệu trưởng trường THPT Kim Sơn B, từng chia sẻ trên báo về “cậu học trò nhỏ” Trần Đại Quang khi ông được bầu làm Chủ tịch nước Việt Nam - một học sinh vừa chăm chỉ, vừa yêu thương bạn bè: “Tôi còn nhớ hồi đó, mỗi khi học xong bài là tầm 11g đêm, anh Quang còn đi xem xem các bạn còn học hay đã ngủ. Bạn nào học khuya mà bài chưa giải được thì anh ý giảng cho bạn hiểu, đến khi xong bài mới thôi”.

Và «trong bức thư cuối cùng gửi thiếu nhi nhân ngày Tết Trung thu, đúng 1 ngày trước khi chết, Chủ tịch nước không quên dặn dò “Đảng, Nhà nước, các thầy giáo, cô giáo và các bậc phụ huynh luôn quan tâm, chăm lo để các cháu được sống, học tập, rèn luyện trong môi trường an toàn, lành mạnh. Bác mong các cháu tiếp tục phát huy truyền thống hiếu học của dân tộc, thực hiện thật tốt 5 điều Bác Hồ dạy, chăm ngoan, học giỏi hơn nữa, sau này tiếp bước cha anh xây dựng đất nước ta ngày càng giàu đẹp, phồn vinh”.

Trần Đại Quang nay chết chẳng may không phải nhằm cùng lúc với Lê văn Tám, Phan Đình Giót, Võ thị Sáu, …nên sau khi đảng và Nhà nước cho báo chí đánh bóng Quang, thì lập tức dư luận trên fb phản bác, vừa với lập luận khoa học, vừa với lời lẽ diễu cợt: «Đom đóm không sáng liên tục, sau mỗi bốn giây mới sáng nửa giây, độ sáng của mỗi con đom đóm chỉ có 0.0006 lumens (lumen – đơn vị đo độ sáng). Để có thể đọc được gì đó, mắt một người bình thường cần độ sáng tối thiểu là 450 lumens, nghĩa là cần 750.000 con đom đóm sáng cùng một lúc trong nửa giây. Muốn duy trì liên tục độ sáng ở mức 450 lumens, cần phải có 8 lần số đom đóm thay phiên nhau phát sáng, nói cách khác cần tới sáu triệu con đom đóm. (Trương Văn). Có không ít những fb diễu cho vui «Đom đóm nước ta khác, chúng sáng rực rỡ và muôn năm» (Nguyễn Phương Anh). Hoặc như Ngoc Hiêp Nguyên: «Hồi bác Quang còn nhỏ, đom đóm rất nhiều và rất to mỗi con nặng khoảng nửa ký, độ sáng bằng đèn bốn cục pin của Trung Quốc. Chỉ cần hai con là đủ học suốt đêm». Nghe nói cụ Nguyễn Đình Chiểu vì dùng nhiều, bốn hay năm con gì đó để học bài, độ sáng quá cao nên Cụ bị mù». Cũng có người phang ngang bửa củi như Trần Virjo đốp chác lại chế độ tuyên truyền của cộng sản: «Mùa đom đóm là mùa hè, mùa đéo có thằng đéo nào đi học trừ khi dốt quá phải học phụ đạo». Mà bác Quang nhà ta đâu có dốt. Bác cực kỳ thông minh và học xuất sắc kia mà!

Cục gạch của bác Hồ

Bác Hồ vĩ đại nên chuyện thành tích về đời tư của bác cũng phải vĩ đại, cũng phải phi thường hơn người thường. Bác có cục gạch. Và chuyện «Cục gạch» của bác không phải là câu chuyện tiếu lâm mà đó là câu chuyện thật của đời bác trong những ngày tháng bác ở  Paris «tìm đường cứu nước». Chuyện thật vì do bác kể lại trong sách, do chính tay bác viết. Bác là tác giả duới bút danh Trần Dân Tiên của quyển “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch.”

Ở trang 36, bác viết về cục gạch của bác như sau:

“Ông trọ ở một phòng nhỏ trong một khách sạn rất rẻ tiền ở xóm lao động. Phòng chỉ vừa kê một cái giường sắt chật, một cái bàn nhỏ và một cái ghế. Chỉ thế thôi, không có gì khác. Về mùa Đông lạnh, mỗi buổi sáng trước khi đi làm, ông để một viên gạch vào lò bếp của khách sạn. Chiều đến ông lấy viên gạch ra, bọc nó vào trong những tờ báo cũ, để xuống nệm cho đỡ rét.”

Nếu câu chuyện cục gạch đọc qua cho vui, thì đã không thành chuyện. Với cái đảng cộng sản, cứ cái gì của bác là phải được đưa ra cho toàn dân học tập theo gương bác. Người lớn học cũng được đi vì còn biết đánh giá câu chuyện. Đem cho con nít học là một tai vạ vì nhồi nhét vào đầu óc non dại của chúng chuyện tào lao, chỉ chuốt hại cho chúng về sau mà thôi. Rồi báo chí được phen rùm beng lên vì cứ bốc bác là có tiền, có chức phận.

Chế Lan Viên, chuyên viên nịnh bợ, đã viết một câu thơ mà kẻ không rành thơ cũng thấy khó ở:

 
“Có nhớ chăng hỡi gió rét thành Ba Lê

 Một viên gạch hồng, Bác chống lại cả một mùa băng giá!”

 
Rồi Tố Hữu, lãnh tụ văn nghệ, tiếp hơi. Thường thơ bợ đít của nhà thơ lớn này rất hay nhưng nay, lại quá tầm thường. Như rặn không ra. Và như phải dùng mỏ vịt cho ra câu cuối:
 

“Muôn nỗi đời như ảnh trắng đen

 Bâng khuâng đêm lạnh, thức bên đèn

 Một hòn gạch nóng nung tâm huyết

 Mẩu bánh mì con nuôi chí bền”
 

Trong sách, tác giả viết trước khi đi làm, bác lấy cục gạch bỏ vào lò bếp khách sạn nhờ nướng cho nóng. Sau này, cán bộ tuyên truyền thấy bác nói như vậy chưa đủ liều lượng nên sửa lại «bác đem gởi cục gạch ở lò bánh mì».

Ngày xưa ở Pháp, dân ở nhà quê, nhà nghèo sưởi bằng cục gạch nung nóng nhờ ở lò bánh mì hay nhà có lò sưởi. Loại gạch sưởi có sức chịu nóng tới 400°c và giữ nóng tới 5 giờ. Và ở Pháp, lò bánh mì là cái bếp (foyer) chung của khu xóm. Nét văn hóa lâu đời của dân pháp. Cách sưởi này, tới năm 1960, không còn nữa.

Nhưng khi đem viên gạch nóng về sưởi, người ta dùng kẹp sắt, gắp viên gạch để lên cái giá bằng sắt có quai, xách đi. Và sưởi là đặt viên gạch với cả cái giá sắt dưới giường. Khi thấy nguội, người ta mới gói viện gạch trong vải bố dày, đút dưới nệm, sưởi tiếp. Không ai gói viên gạch trong lớp giấy báo.

Bác Hồ của đảng cộng sản làm vì bác vĩ đại!

Một hôm với Cụ Bùi Tín ngồi uống cà phê, nói chuyện vui. Nhơn nói tới Hồ Chí Minh, Cụ kể:

“Một phái đoàn gồm cán bộ Văn hóa Thông tin, Tuyên huấn, Lịch sử trung ương đảng của Hà Nội tới Paris, sau khi Unesco không tuyên dưong ông ấy, có nhiệm vụ sưu tìm các dấu vết, tập kết các di tích về bác ở những nơi bác đã sanh sống trong thời gian bác tranh đấu ở đây, để viết thêm vào đời hoạt động của bác. Để bác phải thật sự là một bậc vĩ nhơn của nhơn loại!

Họ vào Văn khố Cảnh sát Paris ở Quận 18, vào Văn khố Hải ngoại, tới Villa des Gobelins, Paris 13, … lục tìm về bác. Ngoài một số thông tin đã biết về bác, phái đoàn chụp được một thông tin mới, vào những năm 1921, bác đã từng ở số 9, impasse Compoint, Paris 17.

Thế là họ kéo nhau tới đó. Căn phố số 9 còn đó. Dĩ nhiên, đã được xây lại từ lâu. Nhưng đúng là chổ bác đã từng ở trước kia.

Phái đoàn tìm người lớn tuổi để phăng hỏi về bác. Họ gặp một bà đầm cở tuổi 90. Có vẻ nhân dân lao động. Mừng như bắt được vị cứu tinh, họ chụp ngay, hỏi bà có biết ông Nguyễn năm 1921 từng ở đây không?

- Biết. Ông ấy ở căn kia, từng 2 đó.

- Bà có biết chuyện ông Nguyễn có cục gạch ôm sưởi mùa đông không ạ?

Nghe Cụ Tín kể tới đây, Cỏ May tôi vội can thiệp vì nghĩ tại sao Cụ này lại tin câu chuyện tuyên truyền bố láo của VC. Nhưng cụ đưa tay, chận tôi lại, kể tiếp:

- Đúng ông Nguyễn, vào mùa đông lạnh lẻo, đã nhờ nướng cục gạch ở bếp để tối về lấy ôm vào lòng mà ngủ. Ông ấy nghèo lắm.

Tôi thấy như các ông muốn tìm lại cục gạch ấy, hay muốn biết rỏ về cục gạch ấy, phải không?

- Dạ, phải, thưa bà.

- Cục gạch ấy, tôi giử. Các ông muốn, hảy trả tôi một số tiền, tôi chỉ cho.

Còn hơn bắt được vàng, trưởng phái đoàn liền đưa cho bà đầm một số tiền.

Lấy tiền đút túi xong, bà dẩn phái đoàn lên lầu hai, chỉ nới đây, trước kia, ông Nguyễn ở. Và cục gạch đó, …chính là tui đây. Bà vừa vổ bẹp bẹp vào người bà!

Cả hai cùng cười thoải mái.

Người cộng sản phải có hào quang

Chế độ cộng sản ra đời từ cướp chánh quyền đang có. Khi lên cầm quyền, họ dùng dối trá và bạo lực để giử quyền lực. Thế lực mà họ sợ, và coi là kẻ thù lớn nhứt, là dân chúng mà họ cai trị.

Họ biết rỏ hơn ai hết, dân chúng không chấp nhận họ, chỉ chở lật đổ họ. Họ kìm kẹp sát dân chúng để duy trì chế độ, quan tâm xây dựng lớp dân chúng thứ hai, thứ ba. Bằng tuyên truyền nhồi sọ, họ hi vọng sẽ có lớp dân chúng theo họ.

Để thu hút sự ủng hộ của dân chúng, họ phải tìm cách tự biến họ thành một sức thu hút, hấp dẫn, lôi cuốn mạnh mẽ. Để đạt được mục đích, họ vận dụng tuyên truyền để thần thánh hóa đảng và các lãnh tụ đảng.

Nói đến sùng bái là nói đến tôn giáo. Người đầu tiên nghĩ phải tôn giáo hoá chế độ chắc chắn là Lénine. Bởi ông gốc là chủng sinh Cơ đốc giáo. Nhưng người đưa nó lên bàn thờ lại là Staline. Với Staline, sự sùng bái đảng và sùng bái lãnh tụ biến thành sự sùng bái cá nhơn.

Trước kia, chế độ quân chủ đều được xây dựng trên cơ sở mang tính thần quyền. Nhà vua được thiêng liêng hoá, gắn liền với thiên mệnh: Vua là con Trời. Mọi người tuân phục và trung thành với vua không phải vì tài năng hay cá tính của ông mà là vì ông là con Trời. Vì vâng mệnh Trời cai trị nên vua không dám vô cớ hại dân, hà khắc, ác ôn với dân vì sợ Trời đánh, và Trời thâu hồi thiên mệnh, không còn được làm vua nữa.

Đảng cộng sản cướp chánh quyền của dân, thần thánh hoá đảng và lãnh tụ, không nhận lãnh sứ mệnh cai tri nhơn dân từ Trời hay từ ai hết nên họ không sợ bị Trời đánh. Họ chỉ sợ bị nhơn dân giành lấy quyền lực mà thôi.

Cách thần thánh hóa lãnh tụ cộng sản rất đơn giản và giống nhau. Nhưng Hồ Chí Minh tự tìm cách lách mình đi riêng. Với nhơn dân Việt nam, ông tự xưng bác của mọi người, chung cả cho các thế hệ khác nhau. Của cả nước. Tạo thành hình ảnh một ông già hiền lành, đạo đức. Như một tiên ông! Bởi ông biết, và mọi người biết ông đúng là một trong 13 tội phạm chống nhơn loại.

Cũng như các lãnh tụ cộng sản khác, từ Lénine, Staline, Mao, … tới Hồ chí Minh, Đỗ Mười, Trần Đại Quang, … đều phải cần tạo thành tích, tạo hào quang sáng chói cho mình bởi nếu không, thì sự nghiệp của họ để lại cho đời không gì khác hơn là tội ác với nhơn dân.

 
Nguyễn thị Cỏ May

 

Giáo hội xin tán thán tinh thần hộ đạo và tu đạo của quí Thiện nam Tín nữ trong hoàn cảnh tai ương đầy kinh hãi hiện nay. Tất cả năng lực và công đức lớn lao này của người đệ tử, chúng con xin dâng lên cúng dường đức Thế Tôn trong ngày Đản sinh. Hàng trăm ngàn trái tim, hàng vạn ngàn bàn tay siết chặt giữa những thương đau tràn ngập của nhân loại, chúng con nguyện quán chiếu thật sâu sự khổ nạn hiện nay để kiên nhẫn mà vượt qua.
Có lẽ cả Trung Cộng lẫn Hoa Kỳ đều không mong muốn việc khơi mào cho một cuộc xung đột vũ trang, nhưng trước thái độ xác quyết của tổng thống Joe Biden, Trung Cộng hiểu rằng họ đang đối đầu với một đối thủ nguy hiểm gấp bội lần so với những năm qua.
Với chế độ độc đảng toàn trị hiện hành, với bộ máy tam trùng hiện tại, với văn hoá tham nhũng hiện nay, và với chủ trương cấm tự do báo chí cố hữu … thì chuyện sống được bằng lương mãi mãi chỉ là một kỳ vọng xa vời. Vô phương thực hiện!
Hội nghị Paris là một quá trình đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt kể từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, sau ngày 25 tháng 1 năm 1969 có thêm Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) tham gia. Ngoài 202 phiên họp chính thức của bốn bên, còn có thêm 24 cuộc mật đàm khác giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, Xuân Thủy. Cuối cùng, hội nghị kết thúc sau bốn năm chín tháng và bốn bên chính thức ký kết Hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.
Ngày 30 tháng Tư năm 1975 khép lại trang sử Việt của hai lực lượng dân tộc đối đầu nhau trong thế tương tranh quốc tế giữa tư bản và cộng sản. Thế tương tranh này kéo dài từ tranh chấp giữa hai triết thuyết xuất phát từ phương Tây – Duy Tâm và Duy Vật, đã làm nước ta tan nát. Việt Nam trở thành lò lửa kinh hoàng, anh em một bọc chém giết nhau trong thế cuộc đảo điên cạnh tranh quốc tế.
Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
Hình ảnh thay cho ngàn lời nói, ghi nhận rõ "sự hấp hối" của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ghi lại cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, nỗi lo sợ của dân chúng lũ lượt rời nơi đang sinh sống, đã bỏ nhà cửa trốn chạy trước khi VC tràn vào thành phố
Chúng ta liệu có thể đóng vai trò giúp đỡ những người nhập cư và tị nạn trong tương lai như là người Mỹ đã từng làm cho chúng ta không? Theo lời của Emma Lazarus, liệu chúng ta có nâng “... ngọn đèn bên cạnh cánh cửa vàng” cho “... kẻ bão táp, người vô gia cư ... người mệt mỏi, người nghèo khổ” không? Đối với chúng tôi, trong ngày 30 tháng 4 này, không có câu hỏi nào có ý nghĩa và tính quan trọng hơn câu hỏi này.
Khách đến Việt Nam ngày nay thấy nhiều nhà cao cửa rộng, xe chạy chật đường hơn xưa. Nhưng đa số người Việt Nam có vẻ không có cái nhu cầu dân chủ của người Myanmar hay người Hồng Kông. Hay là họ có, nhưng 20 năm chiến tranh đã làm họ mệt mỏi, xuôi xị chấp nhận chút đầy đủ vật chất, nhắm mắt với tương lai? Và Đảng Cộng sản Việt Nam có thể hy vọng người Việt sẽ ngoan ngoãn như người dân Bắc Hàn, không cần dự phần tự quyết cho tương lai của mình và con cháu mình?
Ngày 30/4 năm thứ 46 sau 1975 đặt ra câu hỏi: Còn bao nhiêu năm nữa thì người Việt Nam ở hai đầu chiến tuyến trong chiến tranh mới “hòa giải, hòa hợp” được với nhau để thành “Một Người Việt Nam”? Hỏi chơi vậy thôi chứ cứ như tình hình bây giờ thì còn mút mùa lệ thủy. Nhưng tại sao?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.