Hôm nay,  

MỸ NHƯ TÔI

25/11/201822:13:00(Xem: 8640)

 

  

Trang bìa số báo TIME đề ngày Nov. 26 / Dec. 3, 2018 có dòng chữ lớn: WHO GETS TO BE AMERICAN? by Viet Thanh Nguyen.

Nguyễn Thành Việt là nhà văn Mỹ gốc Việt, viết bằng tiếng Anh, đã đoạt giải Pulitzer về văn học năm 2016 qua tác phẩm THE SYMPATIZER, và nhiều giải văn học lớn khác như Andrew Carnegie Medal for Excellence in Fiction, Center For Fiction First Novel Prize.

Bài tiểu luận AMERICAN LIKE ME của Nguyễn Thành Việt được đăng trong số báo TIME nói trên.

Ngự Thuyết chuyển ngữ

 

  

MỸ NHƯ TÔI

 

Viet Thanh Nguyen

 

Ngự Thuyết chuyển ngữ

 

 

YÊU NÓ HAY RỜI NÓ. Bạn đã nghe một người nào đó nói như thế? Hay bạn đã nói điều đó? Bất cứ người nào  đã nghe năm tiếng đó đều hiểu nó mang ý nghĩa gì, vì hầu như nó luôn luôn chỉ nước Mỹ. Ai đã nghe câu nói ấy  đều hiểu rằng đấy là một khẩu súng đã lên đạn nhắm vào mình.

               Khi phát biểu câu đó, bạn có ngụ ý nói với lòng tử tế, với sự đồng cảm, với mỉa mai, với châm biếm, với hài hước không phải là lối hài hước đầy ác ý? Hay phải chăng câu nói ấy luôn luôn mang tính đe dọa trắng trợn?

               Tôi hỏi là do tôi tò mò thật sự, vì chính tôi không bao giờ nói câu đó để nhắm vào nước nào hay nơi chốn nào. Tôi không bao giờ nói “yêu nó hay rời nó” với đứa con trai của tôi, và tôi hy vọng tôi sẽ không bao giờ nói thế, vì đấy không phải là loại tình yêu mà tôi muốn có, đối với con tôi hay quê hương tôi, dù đó là quê hương nào đi nữa.

               Tại đất nước tôi đang viết những dòng này là nước Pháp, không phải là quê hương của tôi, nhưng nó đã chiếm nước Việt Nam nơi tôi sinh ra làm thuộc địa đến hai phần ba thế kỷ. Nền cai trị của Pháp chấm dứt chỉ 17 năm trước khi tôi ra đời. Cha mẹ tôi và cha mẹ của những người khác chỉ biết đó là chủ nghĩa thực dân Pháp. Có lẽ vì sự kiện lịch sử này mà một phần nào trong tôi yêu nước Pháp, một thứ tình yêu, trong một mức độ nào đó, bắt nguồn từ tình trạng bị Pháp thuộc địa hóa về mặt tinh thần.

               Vì bị chiếm làm thuộc địa, tôi không yêu nước Pháp như nhiều người Mỹ yêu nước Pháp, những người mơ về tháp Eiffel, về ngụm cà phê tại Les Deux Magots, về những món ăn ngon lành tại Provence. Đấy là tình yêu lãng mạn, được nghe nhạc phong cầm, được nghe Édith Piaf hát, những thứ mà tôi chỉ quan tâm thoáng qua. Tôi không thể không  nhìn vào di sản của chủ nghĩa thực dân, hiện rõ khắp nơi tại Paris nếu ta muốn nhìn thấy nó: người gốc Phi Châu, Ả Rập có mặt tại đây vì Pháp đã từng có mặt tại quê hương nơi họ ra đời. Lãng mạn hoá cuộc sống của những người đó, thường ở bên lề của xã hội Pháp, không phải là dễ, đó là lý do tại sao người Mỹ hiếm khi nói về họ như là một phần của trí tưởng tượng dồi dào vể Paris.

               Trí tưởng tượng thật là cám dỗ, đặc biệt là bắt nguồn từ lịch sử Việt Nam của tôi. Đa số người Pháp gốc Việt mà tôi quen biết đều hài lòng, ngay cả khi họ am hiểu những trang sử bị chiếm làm thuộc địa. Tại sao không? Một người bạn Ma-rốc ở Paris chỉ vào màu da tôi giống như những người Pháp có tổ tiên Việt Nam và nói, “Anh là người da trắng ở nơi này.” Nhưng ở Mỹ tôi không phải là người da trắng, hay chưa phải. Tôi được tạo dựng tại Mỹ nhưng ra đời tại Việt Nam, và gốc gác của tôi không thể nào tách rời khỏi ba cuộc chiến: cuộc chiến Việt chống Pháp; cuộc chiến Việt đánh nhau; và cuộc chiến Hoa Kỳ đánh tại Việt Nam.

               Nhiều người Mỹ xem đó là cuộc chiến cao cả, dù có thể có sai lầm, là tấm gương của thiện ý của người Mỹ. Và trong khi cũng có một ít sự thật trong đó, nó cũng chỉ là sự tiếp nối của chiến tranh thuộc địa Pháp, một cuộc chiến mang tính phân biệt chủng tộc, và đế quốc trên căn bản và trong hành động. Như vậy, cuộc chiến này chỉ là biểu thị của sự bành trướng qua mấy thế kỷ của đế quốc Mỹ khởi đầu từ sự ra đời của chính thuộc địa của nó rồi xuyên qua biên giới, tới miền Tây nước Mỹ, Mễ Tây Cơ, Hawaii, Guam, Puerto Rico, Phi Luật Tân, Nhật bản, Triều Tiên, Việt Nam và bây giờ là Trung Đông.

               Một cuộc chiến có thể là một sai lầm. Một chuỗi dài cuộc chiến lại là một khuôn mẫu. Người da đỏ là bọn khủng bố nguyên thuỷ trong tưởng tượng Mỹ. Sự diệt chủng người da đỏ do người lập nghiệp da trắng phạm phải là bộ mặt trái xấu xí của lễ Tạ Ơn, sự kiện đó không hoàn toàn được nhớ lại, cũng không hoàn toàn bị lãng quên, ngay cả tại Pháp vẫn có hình ảnh người Mỹ bản xứ trần truồng nửa người, đầu đội nón lông gà. Mấy thế kỷ sau, ký ức ngấm ngầm của tội diệt chủng –hay trong lễ ăn mừng cuộc chiến chinh phục – lại nổi dậy khi lính Mỹ gọi lãnh thổ thù nghịch ở Việt Nam là “vùng đất của Người Da Đỏ.” Bây giờ người Hồi Giáo là đám tiện dân mới trong khi bọn khủng bố là cộng sản mới, vì cộng sản cũ không còn là mối đe doạ quá trầm trọng nữa và mỗi xã hội cần có một Kẻ Khác để xác định những ranh giới và nỗi sợ hãi về nó.

              

               Nhiều người Mỹ không thích nghe những điều nói trên. Một cựu chiến binh Mỹ, một hạ sỹ quan, giận dữ viết cho tôi sau khi đọc một bài tiểu luận của tôi về những vết sẹo mà người tỵ nạn Việt Nam mang theo. Anh nói, người Mỹ đã hy sinh cho đất nước tôi, gia đình tôi, và tôi. Tôi phải biết ơn. Khi tôi viết thư trả lời bảo rằng anh giận dữ như thế thì chỉ làm tổn thương cho chính mình mà thôi, anh ta lại viết tiếp một lá thư khác càng giận dữ hơn. Một cựu chiến binh khác, một sỹ quan, nay là nha sỹ và bác sỹ, đọc cuốn tiểu thuyết The Sympathizer của tôi, gởi cho tôi một lá thư giọng điệu ôn tồn hơn nhưng mang một thông điệp thẳng thừng. Anh có vẻ như thích cộng sản lắm, anh ấy nói. Sao anh không trở về Việt Nam? Và mang theo con anh?

               Tôi mệt quá, không trả lời anh ấy. Lẽ ra tôi phải trả lời. Tôi phải lưu ý anh rằng có lẽ anh chưa đọc hết cuốn tiểu thuyết của tôi, vì phần cuối cùng của cuốn sách kết tội những thất bại tai hại của cộng sản tại Việt Nam. Có lẽ anh không bao giờ bỏ qua chuyện đó vì phần đầu của cuốn sách làm cho anh bực mình, nó lên án chiến tranh Mỹ tại Việt Nam. Có lẽ anh không đọc đến phần giữa của cuốn sách, ở đó tôi cũng châm biếm những thất bại của chính quyền mà tôi là công dân, nước Việt Nam Cộng Hòa, miền Nam.

               Tôi phê bình không phải vì tôi ghét tất cả những đất nước mà tôi biết nhưng vì tôi yêu những đất nước đó. Tình yêu ấy quả khó khăn vì lịch sử của những nước đó, giống như lịch sử của tất cả các nước, rất là phức tạp. Mọi nước đều tin tưởng vào cái đẹp của chính họ và từ nhãn quan đó, họ dựng lên những nền văn hóa tốt đẹp, có Pháp trong đó. Tuy nhiên mọi nước cũng bị vấy bẩn trong máu của chinh phục và bạo lực, có Việt Nam trong đó. Nếu chúng ta yêu quê hương chúng ta, chúng ta có bổn phận không phải chỉ tâng bốc quê hương đó nhưng cũng phải nói lên sự thật về nó với tất cả cái đẹp đẽ cũng như cái bạo tàn, có Mỹ trong đó.

               Nếu tôi có viết lá thư trả lời, tôi đã phải hỏi vị nha sỹ và bác sỹ này tại sao anh ta đe dọa đứa con trai của tôi, nó sinh ra tại Mỹ mà. Quyền công dân của nó là hiển nhiên, cũng đúng đắn như quyền công dân của ông nha sỹ, ông bác sỹ, và ông cựu quân nhân. Và  ngay cả khi con tôi được bảo rằng yêu nó hay rời nó. Cái lối bảo ban đó có mang tính chất Mỹ không? Có. Và không. “Yêu nó hay rời nó” là  hoàn toàn có tính chất Mỹ và, đồng thời cũng không Mỹ một chút nào, y như tôi vậy.

Khác với đứa con trai của tôi, tôi phải nhập quốc tịch Mỹ. Tôi có yêu nước Mỹ vào thời điểm tôi nhập tịch không? Thật khó nói, vì tôi không bao giờ nói "Tôi yêu em, anh, nó, cái đó ...." với bất cứ ai, kể cả với cha mẹ tôi, lại càng không nói với một xứ sở.  Nhưng tôi vẫn muốn tuyên thệ làm công dân Mỹ khi tôi là một thanh niên mới lớn. Đồng thời, tôi muốn giữ tên Việt Nam của tôi. Tôi đã  cố gắng chọn nhiều tên Mỹ khác nhau cho thích hợp. Tất cả đều gượng gạo. Chỉ cái tên cha mẹ đặt cho tôi mới tự nhiên, có lẽ vì cha tôi không bao giờ thôi bảo tôi rằng, "Con 100% Việt Nam."

               Bằng cách giữ cái tên cũ đó, tôi có thể trở thành một người Mỹ mà không quên rằng tôi sinh ra tại Việt Nam. Nghịch lý thay, tôi cũng tin rằng khi giữ lại tên cũ, tôi càng gắn bó với nước Mỹ. Không phải nước Mỹ của những người bảo, "yêu nó hoặc  rời nó," nhưng với nước Mỹ của tôi, một nước Mỹ mà tôi tự buộc phải nói lên cái tên của tôi, thay vì một nước Mỹ áp đặt cái tên cho tôi.

               Đặt tên cho đứa con trai của tôi lại là cả một thử thách. Tôi muốn đặt một tên Mỹ nào mà nó có thể diễn tả được những rắc rối phức tạp của nước Mỹ của chúng ta. Tôi chọn Ellison, phỏng theo tên nhà văn lớn Ralph Waldo Ellison, chính ông ta cũng phỏng theo Ralph Waldo Emerson, triết gia vỹ đại.  Phả hệ của con tôi sẽ là đen và trắng, văn học và triết học, Mỹ gốc Phi Châu và Mỹ. Phả hệ này biểu đạt sự vỹ đại và cũng là nỗi kinh hoàng của nước Mỹ, nền dân chủ  cũng như chế độ nô lệ. Một số người Mỹ thích tin rằng sự vỹ đại nối tiếp nỗi kinh hoàng, nhưng với tôi, vỹ đại và kinh hoàng tồn tại đồng thời, vì đã xẩy ra ngay từ khởi đầu của của lịch sử Hoa Kỳ của chúng ta và có lẽ kéo dài đến tận cùng. Một cái tên như Ellison nén lại cái đẹp và sự bạo tàn của nước Mỹ vào bảy chữ cái (Ellison, NT chú thích), kết quả của tuyệt vọng và hy vọng.

               Đây là một gánh nặng đè lên đứa con cho dù nó không nặng hơn gánh nặng mà cha mẹ tôi đặt lên tôi. Tên của tôi là tên của dân tộc Việt Nam, mà huyền sử ái quốc đã chứng tỏ rằng để được độc lập và tự do chúng tôi đã phải chịu đựng bao nỗi thống khổ qua nhiều thế kỷ. Vậy mà nước Việt Nam ngày nay có độc lập nhưng thiếu tự do. Tôi không bao giờ có thể trở lại Việt Nam vĩnh viễn, vì tôi không bao giờ có  thể là nhà văn tại đấy và nói những gì tôi muốn nói mà không bị bỏ tù.

               Cho nên tôi chọn tự do của nước Mỹ, ngay cả vào thời điểm câu nói “yêu nó hay rời nó” không còn chỉ là lối nói khoa trương nghe cho vui nữa. Chánh quyền hiện tại đang đe dọa loại bỏ quốc tịch và tống xuất  những công dân đã nhập quốc tịch. Có lẽ không còn là chuyện viển vông khi nghĩ rằng một ngày nào đó một người như tôi, sinh tại việt Nam, có thể bị gởi trả về Việt Nam, dù tôi đã nỗ lực tự khẳng định hơn nhiều người Mỹ sinh trưởng tại nơi này. Nếu điều đó xẩy ra, tôi sẽ không mang đứa con trai theo tôi. Việt Nam không phải là quê hương của nó. Mỹ mới là quê hương của nó, và có lẽ nó sẽ nhận thức một thứ tình yêu quê hương đến từ trực giác hơn là từ những chuyện rối rắm phức tạp như trường hợp của tôi.

               Nó cũng sẽ – tôi hy vọng – biết đến thứ tình yêu của người cha ít phức tạp hơn thứ tình yêu của tôi. Tôi không bao giờ nói “Con yêu bố mẹ” khi tôi lớn lên vì cha mẹ tôi không bao giờ nói với tôi rằng “Bố mẹ yêu con.” Điều đó không có nghĩa rằng cha mẹ tôi không yêu tôi. Cha mẹ tôi hết sức yêu tôi cho đến nổi họ phải làm việc đến kiệt lực trên đất nước mới mẻ này. Tôi ít khi về thăm cha mẹ. Khi tôi về, cha mẹ tôi đã quá mệt nhọc đến hết cả vui sướng. Tuy nhiên, dù kiệt lực đi nữa, cha mẹ tôi cũng luôn luôn làm một bữa ăn thường chỉ có thịt luộc. Tôi lớn lên nhờ bộ đồ lòng, lưỡi, gan, bao tử, tim. Nhưng tôi không bao giờ bị bỏ đói.

               Kỷ niệm về thứ tình yêu sâu xa như từ trong máu trong thịt đó, được thể hiện bằng hy sinh, đã thâm nhập vào xương tuỷ của tôi. Một lời nói, hay một giọng nói, có thể khiến tôi cảm nhận được chiều sâu của tình yêu ấy, như có lần tôi thoáng nghe một mẩu chuyện tại cửa hàng dược phẩm vùng tôi ở thuộc thành phố Los Angeles. Người đàn ông ở cạnh tôi là người châu Á, không bảnh bao, ăn mặc làng nhàng. Ông nói vào điện thoại di động bằng giọng miền Nam. “Con oi, Ba day. Con an com chua?” Trông ông hơi thô, có lẽ thuộc giới lao động. Nhưng ông nói với con ông bằng tiếng Việt, giọng nói thật dịu dàng. Không thể nào chuyển dịch được những gì ông nói. Chỉ có thể cảm thấy thôi.

               Dịch sát từng chữ, câu nói đó, ”Hello, child. This is your father. Have you eaten rice yet?” có nghĩa, “Con ơi, Ba đây. Con ăn cơm chưa?” Nó chẳng có nghĩa gì trong tiếng Anh, nhưng trong tiếng Việt, nó là tất cả. “Con ơi, Ba đây. Con ăn cơm chưa?” Đây là cách người chủ tiếp người khách đến nhà mình, bằng lối hỏi khách đã ăn gì chưa. Đây là cách cha mẹ cho con biết họ thương con lắm, nhưng không bao giờ nói, “Bố mẹ thương con”. Tôi lớn lên với những tập tục này, cảm xúc này, thân thương này, nên khi tôi nghe người cha nói với con như thế, tôi muốn trào nước mắt. Đấy là cách tôi biết rằng tôi vẫn là người Việt Nam, vì lịch sử của tôi đã nằm trong máu của tôi và văn hoá của tôi là cuống rốn của tôi. Ngay cả khi tiếng Việt của tôi không hoàn hảo, thật vậy, tôi vẫn thấy mối dây liên hệ với Việt Nam và người tỵ nạn Việt Nam sống trên khắp thế giới.

               Tuy nhiên, khi tôi lớn lên, một số người Mỹ gốc Việt thường bảo tôi rằng tôi quả thật không phải là người Việt Nam vì tôi không nói tiếng Việt sành sõi. Lối phát biểu đó na ná như “yêu nó hay rời nó.” Nhưng có nhiều cách để làm người Việt Nam, cũng như có nhiều cách để làm người Pháp, nhiều cách để làm người Mỹ. Đối với tôi, chừng nào tôi cảm thấy mình là Việt Nam, chừng nào những sự kiện liên quan đến Việt Nam làm tôi xúc động, thì tôi vẫn là Việt Nam. Đấy là phương thức giúp tôi cảm nhận tình yêu quê hương Việt Nam, một trong những quê hương của tôi, và đó cũng là cách tôi nhận ra tôi chính là Việt nam.

               Khi ngang nhiên bảo rằng mình là Việt Nam, không đếm xỉa đến xác nhận của bất kỳ ai khác, tôi cũng tự nhận mình chính là người Mỹ. Chống đối lại tất cả những người bảo “yêu nó hay rời nó”, họ chỉ có một một con đường trở thành người Mỹ, tôi nhấn mạnh rằng nước Mỹ cho phép tôi làm người Việt Nam và được những người khác yêu mến. Cho nên mỗi ngày tôi vẫn hỏi con tôi đã ăn uống gì chưa và thế là mỗi ngày tôi vẫn nói với nó rằng tôi yêu nó. Điều đó cho thấy tình yêu quê hương và tình yêu gia đình không khác nhau. Tôi muốn tạo nên một gia đình nơi đó tôi sẽ không bao giờ phải nói với con tôi “yêu nó hay rời nó”, cũng như tôi mong muốn một quê hương không bao giờ sẽ nói như vậy với bất kỳ ai.

               Đa số người Mỹ không cảm thấy điều mà tôi cảm thấy khi nghe tiếng Việt Nam, nhưng họ cảm thấy tình yêu quê hương theo lối của họ. Có thể họ nhận thức được tình yêu quê hương sâu xa, đầy xúc cảm ấy khi họ thấy lá cờ hoặc nghe bản quốc ca. Tôi xin thú nhận rằng những biểu tượng ấy không mang nhiều ý nghĩa đối với tôi, vì chúng gây chia rẽ cũng như đoàn kết. Quá nhiều người từ cấp cao nhất đến thành phần thấp kém đều đã sử dụng những biểu tượng ấy để chủ yếu là nói với toàn thể người Mỹ rằng hãy  yêu thương đất nước này hay hãy rời bỏ nó.

               Không bị ảnh hưởng bởi lá cờ và quốc thiều không khiến cho tôi kém chất Mỹ hơn những người trân quý những biểu tượng ấy. Phải chăng điều quan trọng hơn đó là tôi yêu thực chất nằm đằng sau những biểu tượng nói trên hơn là  chính những biểu tượng đó. Đó là những nguyên tắc. Dân chủ, bình đẳng, công lý, hy vọng, hòa bình và đặc biệt là tự do, tự do viết lách và suy nghĩ những gì tôi muốn, cho dù những thứ tự do của tôi và cái đẹp của những nguyên tắc trên đều được nuôi dưỡng bằng máu me từ tội diệt chủng, nô lệ, chinh phục, thực dân, chiến tranh đế quốc, chiến tranh miên man. Tất cả những thứ đó là nước Mỹ, nước Mỹ đẹp đẽ và tàn bạo của chúng ta.

 

               Trước kia tôi không hiểu thấu điều mâu thuẫn đó là nước Mỹ của chúng ta, vào giai đoạn tôi còn trẻ sống tại San Diego, California vào những thập niên 1970 và 1980.  Hồi đó tôi chỉ muốn làm người Mỹ  theo lối đơn giản nhất, một phần để chống đối cha tôi đòi hỏi tôi phải 100% Việt Nam. Cha tôi yêu quê hương của ông thật sâu đậm vì ông đã đánh mất nó khi chúng tôi đào thoát khỏi Việt Nam làm người tỵ nạn năm 1975. Nếu cha mẹ tôi bám chặt vào căn cước  và văn hóa Việt Nam, chính vì họ mong muốn lấy lại quê hương đã mất, một tình cảm mà nhiều người Mỹ chắc chắn đã hiểu.

               Thế rồi Mỹ tái lập quan hệ với Việt Nam năm 1994, và cha mẹ tôi nhân cơ hội đầu tiên đó về Việt Nam. Họ về hai lần, không có tôi, để thăm một nước vừa trổi dậy từ nghèo khổ và tuyệt vọng sau chiến tranh. Những gì họ chứng kiến nơi quê cũ đã tác động mạnh nơi cha tôi. Sau chuyến thăm thứ hai, cha mẹ tôi không bao giờ trở lại Việt Nam nữa. Thay vào đó, trong bữa ăn vào Lễ Tạ Ơn kế tiếp, cha tôi nói, “Bây giờ chúng ta là người Mỹ.”

               Cuối cùng cha tôi đã khẳng định là người Mỹ. Lẽ ra tôi phải phấn khởi, và phần nào tôi đã có cảm tưởng ấy khi chúng tôi ngồi trước món ăn gà tây lạ lẫm, khoai tây nghiền, nước xốt cranberry, mà anh tôi anh tôi đã mua từ một siêu thị vì không một ai trong gia đình tôi biết cách nấu những món đặc biệt này mà chúng tôi chỉ ăn mỗi năm một lần. Nhưng nếu tôi cũng thấy không được thoải mái, chính là vì tôi không thể không tự hỏi: Đây là nước Mỹ nào vậy.

                                                                      Nov. 20, 2018            

                                    

  

Ngoại trưởng Hoa Kỳ Mike Pompeo đã quyết liệt bác bỏ yêu sách của Trung Quốc dành làm chủ các nguồn tài nguyên ở hầu hết Biển Đông, cũng như việc nước này mở chiến dịch đe dọa để kiểm soát. Ông nói hành động của Bắc Kinh là hoàn toàn phi pháp. Tuy nhiên ông Pompeo đã không đưa ra bất kỳ biện pháp nào để trừng phạt Trung Quốc, nếu Bắc Kinh không thay đổi. Dù vậy, tuyên bố phổ biến chiều ngày 13/07 (2020) của Bộ Ngoại giao Mỹ được coi là cứng rắn nhất từ trước đến nay nhằm chống chính sách lấn chiếm Biển Đông của Trung Quốc.
-AFP ngày 1/7/2020: Trung Quốc ra lệnh cho chi nhánh của các hãng thông tấn như AP, UPI, CBS và NPR phải khai báo số lượng nhân viên, hoạt động tài chính cũng như tài sản mà họ có ở Trung Hoa. Đây là hảnh động trả đũa vì Hoa Thịnh Đốn đã ngăn cấm bốn cơ sở thông tin của họ tại Hoa Kỳ. -AP ngày 1/7/2020: Pháp loan báo họ sẽ không tham dự vào một chiến dịch hải quân của Liên Minh Bắc Đại Tây Dương (NATO) tại Địa Trung Hải sau khi có sự căng thẳng về quân sự với Thổ Nhĩ Kỳ vì cuộc xung đột tại Libya. Tổng Thống Pháp tuyên bố sẽ không tha thứ hành động can thiệp quân sự của Thổ vào đây và gọi sự can thiệp của Thổ là “tội phạm” còn Nga là mâu thuẫn. Hiện nay Thổ trợ giúp phe Tripoli không quân, vũ khí và đồng minh tham chiến đến từ Syria. Theo AFP ngày 8/7/2020, Tổng Thư Ký LHQ Antonio Guterres nói rằng sự tham gia của quân ngoại bang với lính đánh thuê và vũ khí phức tạp là điều chưa từng thấy ở Libya.
Phần lớn nhân loại đều chưa đến Rome, và chắc cũng chả mấy ai rành rẽ về phong tục tập quán của xứ sở này. Tuy thế, nếu có dịp bước chân tới đây thì chắc tất cả chúng ta đều sẽ nhớ đến lời dậy của cổ nhân (“nhập gia tùy tục/đáo giang tùy khúc”) để ứng xử thích nghi, và hoà nhã với dân bản xứ.
Quốc gia nào cũng có nhà nước nên vai trò của chính quyền không thể tránh. Nhưng quả lắc khi nghiêng về nhà nước quá xa thì bóp nghẹt thị trường tự do còn khi chuyển sang tư nhân quá mức lại tạo ra bất ổn (khủng hoảng kinh tế) và hố sâu giàu nghèo. Một nghịch lý khác là khi xã hội xáo trộn, kinh tế suy trầm thì một bên là Mác Xít trỗi dậy, bên kia là Phát Xít nổi lên như xảy ra vào các thập niên 1930 hay 2010.
Trong cú sốc ban đầu do COVID-19 gây ra, các chính phủ và ngân hàng trung ương ứng phó bằng những đợt bơm tiền mặt khổng lồ là chuyện có thể dễ hiểu. Nhưng hiện nay, các nhà hoạch định chính sách cần lùi một bước và xem lại các hình thức kích hoạt nào thật sự cần thiết và nguy cơ nào gây nhiều hại hơn lợi. Các chính phủ trên khắp thế giới đang phản ứng mạnh mẽ với cuộc khủng hoảng COVID-19 bằng cách ứng phó kết hợp về tài chính và tiền tệ, nó đã đạt tới 10% GDP toàn cầu. Tuy nhiên, theo Cơ quan Kinh tế và Xã hội thuộc Liên Hiệp Quốc đánh giá tổng quát mới nhất, các biện pháp vực dậy này có thể không thúc đẩy cho tiêu dùng và đầu tư nhiều như các nhà hoạch định chính sách hy vọng.
Bạch Thái Bưởi, theo Wikipedia: “Là một doanh nhân người Việt đầu thế kỷ 20. Lúc sinh thời, ông được xếp vào danh sách bốn người giàu có nhất Việt Nam vào những năm đầu của thế kỷ 20 (nhất Sĩ, nhì Phương, tam Xường, tứ Bưởi)… Xuất thân từ tầng lớp nghèo, ông luôn quan tâm đến đời sống của giới thợ thuyền. Ông dành chế độ an sinh cho các nhân viên của mình. Ông trợ cấp cho học sinh nghèo có chí du học… Năm 1921, Bạch Thái Bưởi cho ra đời tờ báo hàng ngày mang tên Khai hóa nhật báo với tôn chỉ: ‘Một là giúp đồng bào ta tự khai hoá, dạy bảo lẫn nhau... mở mang con đường thực nghiệp. Hai là giãi bày cùng Chính phủ bảo hộ những yêu cầu thiết thực, chính đáng của quốc dân. Ba là diễn giải những ý kiến, những lợi ích, tác hại của các công việc Chính phủ đang làm...’
Sự căng thẳng thẳng giữa nước Mỹ và Trung cộng mỗi ngày mỗi gia tăng. Thật vậy, kể từ ngày 25-9-2018, tổng thống Donald Trump đọc trước Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, kêu gọi các nước trên Thế giới: “Chống lại xã hội chủ nghĩa và những đau khổ do nó đã gây ra cho nhân loại.” Mời xem link: https://youtu.be/q6XXNWC5Koc?t=95. Từ đấy, khiến cho Trung cộng lo âu phập phồng vì cả Thế giới phê phán chủ nghĩa cộng sản gay gắt.
Kết quả bầu cử Thị xã vòng nhì hôm 28/6 vừa qua khoát cho nước Pháp bộ áo mới màu xanh. Bộ áo Pháp lần đầu tiên được mặc. Các Thị xã xưa nay do Thị trưởng xã hội, phe Hữu hay thuộc xu hướng khác nay phần lớn lọt vào tay đảng Xanh. Cả những Thị xã cho tới nay vẫn nằm trong tay cộng sản cũng bị đảng Xanh cướp mất. Giới chánh trị đều ngẩn ngơ trước thực tế hoàn toàn bất ngờ này. Nhiều nhà chánh trị học, nhà báo chánh trị bắt tay ngay vào việc tìm hiểu tại sao bổng nhiên xuất hiện làn sóng xanh chiếm gần hết các thành phố lớn nhỏ của Pháp? Tại sao chỉ có 4/10 người đi bầu? Vậy người được bầu thắng cử hay làn sóng cử tri vắng mặt mới thật sự thắng cử?
Những năm gần đây sự việc Trung Quốc chiếm đảo, vét cát dưới đáy biển xây dựng căn cứ quân sự, xây phi trường, đặt tên lửa tại biển Đông khiến người ta vô tâm quên mất rằng cánh tay dài của Đại Hán đã vươn qua biển thò đến tận Phnom Penh tự thuở nào. Dưới mắt nhiều quan sát viên quốc tế thì Campuchia ngày nay là một tỉnh của Trung Quốc, và Thủ tướng Hun Sen là một bí thư tỉnh ủy của Đảng Cộng sản Trung Quốc, không hơn không kém.Trung Quốc thiết lập căn cứ quân sự trên đất Campuchia là mối đe dọa nghiêm trọng cho các quốc gia khác trong vùng Đông Nam Á, và Hoa Kỳ chắc chắn không thể không nhận ra hiểm họa to lớn đó. Trong buổi tường trình lên Ủy ban Tình báo Thượng viện Hoa Kỳ hôm tháng Giêng năm 2019, Giám đốc Sở Tình báo Quốc gia, lúc đó là ông Dan Coats, đã cảnh báo rằng “Campuchia đang có nguy cơ biến thành một quốc gia độc tài, và điều đó sẽ mở đường cho Trung Quốc thiết lập các căn cứ quân sự trên miền đất ấy.”
Ngày 22 tháng 6 năm 2020, dự luật An Ninh Quốc Gia về Hồng Kông được đưa ra tại quốc hội của Đảng Cộng Sản Trung Hoa để thông qua, và đêm 30 tháng 6 rạng sáng ngày 1 tháng 7, 2020, sau một phiên họp kín của Ủy Ban Thường Vụ Đại Biểu Nhân Dân (mà thế giới gọi là quốc hội bù nhìn tại Bắc Kinh) dự luật này đã trở thành luật. Ngày mà Luật An Ninh Quốc Gia về Hồng Kông này ra đời cũng trùng ngày mà Hồng Kông được trao trả lại cho China 23 năm trước 01-07-1997 theo thể chế “một nước hai chế độ” (one country two systems). Theo đó Hồng Kông vẫn còn quyền tự trị trong 50 năm từ 1997 đến 2047, và trên lý thuyết Hồng Kông chỉ lệ thuộc vào Bắc Kinh về quân sự và ngoại giao mà thôi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.