Hôm nay,  

MỸ NHƯ TÔI

25/11/201822:13:00(Xem: 8605)

 

  

Trang bìa số báo TIME đề ngày Nov. 26 / Dec. 3, 2018 có dòng chữ lớn: WHO GETS TO BE AMERICAN? by Viet Thanh Nguyen.

Nguyễn Thành Việt là nhà văn Mỹ gốc Việt, viết bằng tiếng Anh, đã đoạt giải Pulitzer về văn học năm 2016 qua tác phẩm THE SYMPATIZER, và nhiều giải văn học lớn khác như Andrew Carnegie Medal for Excellence in Fiction, Center For Fiction First Novel Prize.

Bài tiểu luận AMERICAN LIKE ME của Nguyễn Thành Việt được đăng trong số báo TIME nói trên.

Ngự Thuyết chuyển ngữ

 

  

MỸ NHƯ TÔI

 

Viet Thanh Nguyen

 

Ngự Thuyết chuyển ngữ

 

 

YÊU NÓ HAY RỜI NÓ. Bạn đã nghe một người nào đó nói như thế? Hay bạn đã nói điều đó? Bất cứ người nào  đã nghe năm tiếng đó đều hiểu nó mang ý nghĩa gì, vì hầu như nó luôn luôn chỉ nước Mỹ. Ai đã nghe câu nói ấy  đều hiểu rằng đấy là một khẩu súng đã lên đạn nhắm vào mình.

               Khi phát biểu câu đó, bạn có ngụ ý nói với lòng tử tế, với sự đồng cảm, với mỉa mai, với châm biếm, với hài hước không phải là lối hài hước đầy ác ý? Hay phải chăng câu nói ấy luôn luôn mang tính đe dọa trắng trợn?

               Tôi hỏi là do tôi tò mò thật sự, vì chính tôi không bao giờ nói câu đó để nhắm vào nước nào hay nơi chốn nào. Tôi không bao giờ nói “yêu nó hay rời nó” với đứa con trai của tôi, và tôi hy vọng tôi sẽ không bao giờ nói thế, vì đấy không phải là loại tình yêu mà tôi muốn có, đối với con tôi hay quê hương tôi, dù đó là quê hương nào đi nữa.

               Tại đất nước tôi đang viết những dòng này là nước Pháp, không phải là quê hương của tôi, nhưng nó đã chiếm nước Việt Nam nơi tôi sinh ra làm thuộc địa đến hai phần ba thế kỷ. Nền cai trị của Pháp chấm dứt chỉ 17 năm trước khi tôi ra đời. Cha mẹ tôi và cha mẹ của những người khác chỉ biết đó là chủ nghĩa thực dân Pháp. Có lẽ vì sự kiện lịch sử này mà một phần nào trong tôi yêu nước Pháp, một thứ tình yêu, trong một mức độ nào đó, bắt nguồn từ tình trạng bị Pháp thuộc địa hóa về mặt tinh thần.

               Vì bị chiếm làm thuộc địa, tôi không yêu nước Pháp như nhiều người Mỹ yêu nước Pháp, những người mơ về tháp Eiffel, về ngụm cà phê tại Les Deux Magots, về những món ăn ngon lành tại Provence. Đấy là tình yêu lãng mạn, được nghe nhạc phong cầm, được nghe Édith Piaf hát, những thứ mà tôi chỉ quan tâm thoáng qua. Tôi không thể không  nhìn vào di sản của chủ nghĩa thực dân, hiện rõ khắp nơi tại Paris nếu ta muốn nhìn thấy nó: người gốc Phi Châu, Ả Rập có mặt tại đây vì Pháp đã từng có mặt tại quê hương nơi họ ra đời. Lãng mạn hoá cuộc sống của những người đó, thường ở bên lề của xã hội Pháp, không phải là dễ, đó là lý do tại sao người Mỹ hiếm khi nói về họ như là một phần của trí tưởng tượng dồi dào vể Paris.

               Trí tưởng tượng thật là cám dỗ, đặc biệt là bắt nguồn từ lịch sử Việt Nam của tôi. Đa số người Pháp gốc Việt mà tôi quen biết đều hài lòng, ngay cả khi họ am hiểu những trang sử bị chiếm làm thuộc địa. Tại sao không? Một người bạn Ma-rốc ở Paris chỉ vào màu da tôi giống như những người Pháp có tổ tiên Việt Nam và nói, “Anh là người da trắng ở nơi này.” Nhưng ở Mỹ tôi không phải là người da trắng, hay chưa phải. Tôi được tạo dựng tại Mỹ nhưng ra đời tại Việt Nam, và gốc gác của tôi không thể nào tách rời khỏi ba cuộc chiến: cuộc chiến Việt chống Pháp; cuộc chiến Việt đánh nhau; và cuộc chiến Hoa Kỳ đánh tại Việt Nam.

               Nhiều người Mỹ xem đó là cuộc chiến cao cả, dù có thể có sai lầm, là tấm gương của thiện ý của người Mỹ. Và trong khi cũng có một ít sự thật trong đó, nó cũng chỉ là sự tiếp nối của chiến tranh thuộc địa Pháp, một cuộc chiến mang tính phân biệt chủng tộc, và đế quốc trên căn bản và trong hành động. Như vậy, cuộc chiến này chỉ là biểu thị của sự bành trướng qua mấy thế kỷ của đế quốc Mỹ khởi đầu từ sự ra đời của chính thuộc địa của nó rồi xuyên qua biên giới, tới miền Tây nước Mỹ, Mễ Tây Cơ, Hawaii, Guam, Puerto Rico, Phi Luật Tân, Nhật bản, Triều Tiên, Việt Nam và bây giờ là Trung Đông.

               Một cuộc chiến có thể là một sai lầm. Một chuỗi dài cuộc chiến lại là một khuôn mẫu. Người da đỏ là bọn khủng bố nguyên thuỷ trong tưởng tượng Mỹ. Sự diệt chủng người da đỏ do người lập nghiệp da trắng phạm phải là bộ mặt trái xấu xí của lễ Tạ Ơn, sự kiện đó không hoàn toàn được nhớ lại, cũng không hoàn toàn bị lãng quên, ngay cả tại Pháp vẫn có hình ảnh người Mỹ bản xứ trần truồng nửa người, đầu đội nón lông gà. Mấy thế kỷ sau, ký ức ngấm ngầm của tội diệt chủng –hay trong lễ ăn mừng cuộc chiến chinh phục – lại nổi dậy khi lính Mỹ gọi lãnh thổ thù nghịch ở Việt Nam là “vùng đất của Người Da Đỏ.” Bây giờ người Hồi Giáo là đám tiện dân mới trong khi bọn khủng bố là cộng sản mới, vì cộng sản cũ không còn là mối đe doạ quá trầm trọng nữa và mỗi xã hội cần có một Kẻ Khác để xác định những ranh giới và nỗi sợ hãi về nó.

              

               Nhiều người Mỹ không thích nghe những điều nói trên. Một cựu chiến binh Mỹ, một hạ sỹ quan, giận dữ viết cho tôi sau khi đọc một bài tiểu luận của tôi về những vết sẹo mà người tỵ nạn Việt Nam mang theo. Anh nói, người Mỹ đã hy sinh cho đất nước tôi, gia đình tôi, và tôi. Tôi phải biết ơn. Khi tôi viết thư trả lời bảo rằng anh giận dữ như thế thì chỉ làm tổn thương cho chính mình mà thôi, anh ta lại viết tiếp một lá thư khác càng giận dữ hơn. Một cựu chiến binh khác, một sỹ quan, nay là nha sỹ và bác sỹ, đọc cuốn tiểu thuyết The Sympathizer của tôi, gởi cho tôi một lá thư giọng điệu ôn tồn hơn nhưng mang một thông điệp thẳng thừng. Anh có vẻ như thích cộng sản lắm, anh ấy nói. Sao anh không trở về Việt Nam? Và mang theo con anh?

               Tôi mệt quá, không trả lời anh ấy. Lẽ ra tôi phải trả lời. Tôi phải lưu ý anh rằng có lẽ anh chưa đọc hết cuốn tiểu thuyết của tôi, vì phần cuối cùng của cuốn sách kết tội những thất bại tai hại của cộng sản tại Việt Nam. Có lẽ anh không bao giờ bỏ qua chuyện đó vì phần đầu của cuốn sách làm cho anh bực mình, nó lên án chiến tranh Mỹ tại Việt Nam. Có lẽ anh không đọc đến phần giữa của cuốn sách, ở đó tôi cũng châm biếm những thất bại của chính quyền mà tôi là công dân, nước Việt Nam Cộng Hòa, miền Nam.

               Tôi phê bình không phải vì tôi ghét tất cả những đất nước mà tôi biết nhưng vì tôi yêu những đất nước đó. Tình yêu ấy quả khó khăn vì lịch sử của những nước đó, giống như lịch sử của tất cả các nước, rất là phức tạp. Mọi nước đều tin tưởng vào cái đẹp của chính họ và từ nhãn quan đó, họ dựng lên những nền văn hóa tốt đẹp, có Pháp trong đó. Tuy nhiên mọi nước cũng bị vấy bẩn trong máu của chinh phục và bạo lực, có Việt Nam trong đó. Nếu chúng ta yêu quê hương chúng ta, chúng ta có bổn phận không phải chỉ tâng bốc quê hương đó nhưng cũng phải nói lên sự thật về nó với tất cả cái đẹp đẽ cũng như cái bạo tàn, có Mỹ trong đó.

               Nếu tôi có viết lá thư trả lời, tôi đã phải hỏi vị nha sỹ và bác sỹ này tại sao anh ta đe dọa đứa con trai của tôi, nó sinh ra tại Mỹ mà. Quyền công dân của nó là hiển nhiên, cũng đúng đắn như quyền công dân của ông nha sỹ, ông bác sỹ, và ông cựu quân nhân. Và  ngay cả khi con tôi được bảo rằng yêu nó hay rời nó. Cái lối bảo ban đó có mang tính chất Mỹ không? Có. Và không. “Yêu nó hay rời nó” là  hoàn toàn có tính chất Mỹ và, đồng thời cũng không Mỹ một chút nào, y như tôi vậy.

Khác với đứa con trai của tôi, tôi phải nhập quốc tịch Mỹ. Tôi có yêu nước Mỹ vào thời điểm tôi nhập tịch không? Thật khó nói, vì tôi không bao giờ nói "Tôi yêu em, anh, nó, cái đó ...." với bất cứ ai, kể cả với cha mẹ tôi, lại càng không nói với một xứ sở.  Nhưng tôi vẫn muốn tuyên thệ làm công dân Mỹ khi tôi là một thanh niên mới lớn. Đồng thời, tôi muốn giữ tên Việt Nam của tôi. Tôi đã  cố gắng chọn nhiều tên Mỹ khác nhau cho thích hợp. Tất cả đều gượng gạo. Chỉ cái tên cha mẹ đặt cho tôi mới tự nhiên, có lẽ vì cha tôi không bao giờ thôi bảo tôi rằng, "Con 100% Việt Nam."

               Bằng cách giữ cái tên cũ đó, tôi có thể trở thành một người Mỹ mà không quên rằng tôi sinh ra tại Việt Nam. Nghịch lý thay, tôi cũng tin rằng khi giữ lại tên cũ, tôi càng gắn bó với nước Mỹ. Không phải nước Mỹ của những người bảo, "yêu nó hoặc  rời nó," nhưng với nước Mỹ của tôi, một nước Mỹ mà tôi tự buộc phải nói lên cái tên của tôi, thay vì một nước Mỹ áp đặt cái tên cho tôi.

               Đặt tên cho đứa con trai của tôi lại là cả một thử thách. Tôi muốn đặt một tên Mỹ nào mà nó có thể diễn tả được những rắc rối phức tạp của nước Mỹ của chúng ta. Tôi chọn Ellison, phỏng theo tên nhà văn lớn Ralph Waldo Ellison, chính ông ta cũng phỏng theo Ralph Waldo Emerson, triết gia vỹ đại.  Phả hệ của con tôi sẽ là đen và trắng, văn học và triết học, Mỹ gốc Phi Châu và Mỹ. Phả hệ này biểu đạt sự vỹ đại và cũng là nỗi kinh hoàng của nước Mỹ, nền dân chủ  cũng như chế độ nô lệ. Một số người Mỹ thích tin rằng sự vỹ đại nối tiếp nỗi kinh hoàng, nhưng với tôi, vỹ đại và kinh hoàng tồn tại đồng thời, vì đã xẩy ra ngay từ khởi đầu của của lịch sử Hoa Kỳ của chúng ta và có lẽ kéo dài đến tận cùng. Một cái tên như Ellison nén lại cái đẹp và sự bạo tàn của nước Mỹ vào bảy chữ cái (Ellison, NT chú thích), kết quả của tuyệt vọng và hy vọng.

               Đây là một gánh nặng đè lên đứa con cho dù nó không nặng hơn gánh nặng mà cha mẹ tôi đặt lên tôi. Tên của tôi là tên của dân tộc Việt Nam, mà huyền sử ái quốc đã chứng tỏ rằng để được độc lập và tự do chúng tôi đã phải chịu đựng bao nỗi thống khổ qua nhiều thế kỷ. Vậy mà nước Việt Nam ngày nay có độc lập nhưng thiếu tự do. Tôi không bao giờ có thể trở lại Việt Nam vĩnh viễn, vì tôi không bao giờ có  thể là nhà văn tại đấy và nói những gì tôi muốn nói mà không bị bỏ tù.

               Cho nên tôi chọn tự do của nước Mỹ, ngay cả vào thời điểm câu nói “yêu nó hay rời nó” không còn chỉ là lối nói khoa trương nghe cho vui nữa. Chánh quyền hiện tại đang đe dọa loại bỏ quốc tịch và tống xuất  những công dân đã nhập quốc tịch. Có lẽ không còn là chuyện viển vông khi nghĩ rằng một ngày nào đó một người như tôi, sinh tại việt Nam, có thể bị gởi trả về Việt Nam, dù tôi đã nỗ lực tự khẳng định hơn nhiều người Mỹ sinh trưởng tại nơi này. Nếu điều đó xẩy ra, tôi sẽ không mang đứa con trai theo tôi. Việt Nam không phải là quê hương của nó. Mỹ mới là quê hương của nó, và có lẽ nó sẽ nhận thức một thứ tình yêu quê hương đến từ trực giác hơn là từ những chuyện rối rắm phức tạp như trường hợp của tôi.

               Nó cũng sẽ – tôi hy vọng – biết đến thứ tình yêu của người cha ít phức tạp hơn thứ tình yêu của tôi. Tôi không bao giờ nói “Con yêu bố mẹ” khi tôi lớn lên vì cha mẹ tôi không bao giờ nói với tôi rằng “Bố mẹ yêu con.” Điều đó không có nghĩa rằng cha mẹ tôi không yêu tôi. Cha mẹ tôi hết sức yêu tôi cho đến nổi họ phải làm việc đến kiệt lực trên đất nước mới mẻ này. Tôi ít khi về thăm cha mẹ. Khi tôi về, cha mẹ tôi đã quá mệt nhọc đến hết cả vui sướng. Tuy nhiên, dù kiệt lực đi nữa, cha mẹ tôi cũng luôn luôn làm một bữa ăn thường chỉ có thịt luộc. Tôi lớn lên nhờ bộ đồ lòng, lưỡi, gan, bao tử, tim. Nhưng tôi không bao giờ bị bỏ đói.

               Kỷ niệm về thứ tình yêu sâu xa như từ trong máu trong thịt đó, được thể hiện bằng hy sinh, đã thâm nhập vào xương tuỷ của tôi. Một lời nói, hay một giọng nói, có thể khiến tôi cảm nhận được chiều sâu của tình yêu ấy, như có lần tôi thoáng nghe một mẩu chuyện tại cửa hàng dược phẩm vùng tôi ở thuộc thành phố Los Angeles. Người đàn ông ở cạnh tôi là người châu Á, không bảnh bao, ăn mặc làng nhàng. Ông nói vào điện thoại di động bằng giọng miền Nam. “Con oi, Ba day. Con an com chua?” Trông ông hơi thô, có lẽ thuộc giới lao động. Nhưng ông nói với con ông bằng tiếng Việt, giọng nói thật dịu dàng. Không thể nào chuyển dịch được những gì ông nói. Chỉ có thể cảm thấy thôi.

               Dịch sát từng chữ, câu nói đó, ”Hello, child. This is your father. Have you eaten rice yet?” có nghĩa, “Con ơi, Ba đây. Con ăn cơm chưa?” Nó chẳng có nghĩa gì trong tiếng Anh, nhưng trong tiếng Việt, nó là tất cả. “Con ơi, Ba đây. Con ăn cơm chưa?” Đây là cách người chủ tiếp người khách đến nhà mình, bằng lối hỏi khách đã ăn gì chưa. Đây là cách cha mẹ cho con biết họ thương con lắm, nhưng không bao giờ nói, “Bố mẹ thương con”. Tôi lớn lên với những tập tục này, cảm xúc này, thân thương này, nên khi tôi nghe người cha nói với con như thế, tôi muốn trào nước mắt. Đấy là cách tôi biết rằng tôi vẫn là người Việt Nam, vì lịch sử của tôi đã nằm trong máu của tôi và văn hoá của tôi là cuống rốn của tôi. Ngay cả khi tiếng Việt của tôi không hoàn hảo, thật vậy, tôi vẫn thấy mối dây liên hệ với Việt Nam và người tỵ nạn Việt Nam sống trên khắp thế giới.

               Tuy nhiên, khi tôi lớn lên, một số người Mỹ gốc Việt thường bảo tôi rằng tôi quả thật không phải là người Việt Nam vì tôi không nói tiếng Việt sành sõi. Lối phát biểu đó na ná như “yêu nó hay rời nó.” Nhưng có nhiều cách để làm người Việt Nam, cũng như có nhiều cách để làm người Pháp, nhiều cách để làm người Mỹ. Đối với tôi, chừng nào tôi cảm thấy mình là Việt Nam, chừng nào những sự kiện liên quan đến Việt Nam làm tôi xúc động, thì tôi vẫn là Việt Nam. Đấy là phương thức giúp tôi cảm nhận tình yêu quê hương Việt Nam, một trong những quê hương của tôi, và đó cũng là cách tôi nhận ra tôi chính là Việt nam.

               Khi ngang nhiên bảo rằng mình là Việt Nam, không đếm xỉa đến xác nhận của bất kỳ ai khác, tôi cũng tự nhận mình chính là người Mỹ. Chống đối lại tất cả những người bảo “yêu nó hay rời nó”, họ chỉ có một một con đường trở thành người Mỹ, tôi nhấn mạnh rằng nước Mỹ cho phép tôi làm người Việt Nam và được những người khác yêu mến. Cho nên mỗi ngày tôi vẫn hỏi con tôi đã ăn uống gì chưa và thế là mỗi ngày tôi vẫn nói với nó rằng tôi yêu nó. Điều đó cho thấy tình yêu quê hương và tình yêu gia đình không khác nhau. Tôi muốn tạo nên một gia đình nơi đó tôi sẽ không bao giờ phải nói với con tôi “yêu nó hay rời nó”, cũng như tôi mong muốn một quê hương không bao giờ sẽ nói như vậy với bất kỳ ai.

               Đa số người Mỹ không cảm thấy điều mà tôi cảm thấy khi nghe tiếng Việt Nam, nhưng họ cảm thấy tình yêu quê hương theo lối của họ. Có thể họ nhận thức được tình yêu quê hương sâu xa, đầy xúc cảm ấy khi họ thấy lá cờ hoặc nghe bản quốc ca. Tôi xin thú nhận rằng những biểu tượng ấy không mang nhiều ý nghĩa đối với tôi, vì chúng gây chia rẽ cũng như đoàn kết. Quá nhiều người từ cấp cao nhất đến thành phần thấp kém đều đã sử dụng những biểu tượng ấy để chủ yếu là nói với toàn thể người Mỹ rằng hãy  yêu thương đất nước này hay hãy rời bỏ nó.

               Không bị ảnh hưởng bởi lá cờ và quốc thiều không khiến cho tôi kém chất Mỹ hơn những người trân quý những biểu tượng ấy. Phải chăng điều quan trọng hơn đó là tôi yêu thực chất nằm đằng sau những biểu tượng nói trên hơn là  chính những biểu tượng đó. Đó là những nguyên tắc. Dân chủ, bình đẳng, công lý, hy vọng, hòa bình và đặc biệt là tự do, tự do viết lách và suy nghĩ những gì tôi muốn, cho dù những thứ tự do của tôi và cái đẹp của những nguyên tắc trên đều được nuôi dưỡng bằng máu me từ tội diệt chủng, nô lệ, chinh phục, thực dân, chiến tranh đế quốc, chiến tranh miên man. Tất cả những thứ đó là nước Mỹ, nước Mỹ đẹp đẽ và tàn bạo của chúng ta.

 

               Trước kia tôi không hiểu thấu điều mâu thuẫn đó là nước Mỹ của chúng ta, vào giai đoạn tôi còn trẻ sống tại San Diego, California vào những thập niên 1970 và 1980.  Hồi đó tôi chỉ muốn làm người Mỹ  theo lối đơn giản nhất, một phần để chống đối cha tôi đòi hỏi tôi phải 100% Việt Nam. Cha tôi yêu quê hương của ông thật sâu đậm vì ông đã đánh mất nó khi chúng tôi đào thoát khỏi Việt Nam làm người tỵ nạn năm 1975. Nếu cha mẹ tôi bám chặt vào căn cước  và văn hóa Việt Nam, chính vì họ mong muốn lấy lại quê hương đã mất, một tình cảm mà nhiều người Mỹ chắc chắn đã hiểu.

               Thế rồi Mỹ tái lập quan hệ với Việt Nam năm 1994, và cha mẹ tôi nhân cơ hội đầu tiên đó về Việt Nam. Họ về hai lần, không có tôi, để thăm một nước vừa trổi dậy từ nghèo khổ và tuyệt vọng sau chiến tranh. Những gì họ chứng kiến nơi quê cũ đã tác động mạnh nơi cha tôi. Sau chuyến thăm thứ hai, cha mẹ tôi không bao giờ trở lại Việt Nam nữa. Thay vào đó, trong bữa ăn vào Lễ Tạ Ơn kế tiếp, cha tôi nói, “Bây giờ chúng ta là người Mỹ.”

               Cuối cùng cha tôi đã khẳng định là người Mỹ. Lẽ ra tôi phải phấn khởi, và phần nào tôi đã có cảm tưởng ấy khi chúng tôi ngồi trước món ăn gà tây lạ lẫm, khoai tây nghiền, nước xốt cranberry, mà anh tôi anh tôi đã mua từ một siêu thị vì không một ai trong gia đình tôi biết cách nấu những món đặc biệt này mà chúng tôi chỉ ăn mỗi năm một lần. Nhưng nếu tôi cũng thấy không được thoải mái, chính là vì tôi không thể không tự hỏi: Đây là nước Mỹ nào vậy.

                                                                      Nov. 20, 2018            

                                    

  

Nhưng vấn đề không đơn giản như họ nghĩ để buộc người miền Nam phải làm theo vì không còn lựa chọn nào khác. Trong 45 năm qua, ai cũng biết nhà nước CSVN đã đối xử kỳ thị và bất xứng với nhân dân miền Nam trên nhiều lĩnh vực. Từ công ăn việc làm đến bảo vệ sức khỏe, di trú và giáo dục, lý lịch cá nhân của người miền Nam đã bị “phanh thây xẻ thịt” đến 3 đời (Ông bà, cha mẹ, anh em) để moi xét, hạch hỏi và làm tiền.
Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.