Hôm nay,  

XUÂN NHƯ Ý

01/01/201910:35:00(Xem: 5500)

biachanhphap86


Hỏa hoạn qua đi, để lại vết tích hoang tàn của hàng trăm nghìn mẫu cây rừng, nhà cửa, cơ sở thương mại, và niềm đau mất mát của hàng nghìn gia đình ở miền tây. Trong khi đó, bão tuyết đã phủ trùm một vài tiểu bang miền đông, hàng trăm nghìn gia cư mất điện, hơn một nghìn chuyến bay bị hủy bỏ.

Thiên tai và nhân họa như luôn chờ chực để phá hủy, cướp đoạt những gì con người gầy dựng bằng trí tuệ, tài sản, công sức và thời gian của họ. Sự thành tựu nơi đây có thể là hiểm họa ở nơi kia, và ngược lại.

Khi ngọn gió vô thường thổi qua, núi biếc nghìn năm cũng phủ màu rêu khói. Người và sông, không thể cùng là người và sông của giây phút trước (1). Không kỵ sĩ nào có thể ngồi mãi trên lưng ngựa; cũng không vó ngựa nào rong ruổi mãi trên đồng hoang.

Thế rồi, từ hoàn cảnh bất lực không thể hiểu, không thể giải đáp về sự bất công, đau khổ trong đời sống, người ta đi cầu cạnh kẻ trên; không được thì khấn vái đến thần linh. Danh vọng chưa có, cầu cho có; đã có, cầu cho nổi thêm. Phú quý chưa có, cầu cho có; đã có, cầu cho ngày càng tăng hơn… Ai cũng mong được một thứ gì đó tốt đẹp hơn hiện trạng.

Rồi khi năm hết Tết đến, khi muôn hoa mãn khai, không khí phong quang của ngày xuân làm người ta náo nức, vui tươi, kỳ vọng một vận hội mới, người người chúc mừng nhau: vạn sự như ý!

 

Vạn sự như ý—nói cho văn vẻ cái ý “muốn chi được nấy”—là một giấc mơ không bao giờ trở thành hiện thực, nhưng người ta vẫn cứ chúc tụng nhau mỗi khi xuân về.

Làm thế nào mà mọi điều mong ước (vạn sự) của một người có thể thành tựu trong năm mới, hay trong một đời!

Làm thế nào mà mọi điều mong cầu của nhân loại trên toàn cầu có thể thành tựu trong một đời, thậm chí chỉ trong một năm mới đang đến!

Chỉ một vài ước vọng thôi, mong được như ý, đã là khó, huống chi “vạn sự” đều được thỏa đáng, vừa lòng! Mà nếu mười ngàn cái muốn của một người đều được đáp ứng, hẳn phải có mười ngàn người khác chịu thiệt thòi ít nhiều theo luật bù trừ.

Một gian thương chuyên lách thuế, lường gạt khách hàng mà muôn sự mong cầu đều được như ý thì sẽ làm khó, làm khổ cho bao nhiêu người khác!

Nhà lãnh đạo vô nhân, thất đức, nhũng lạm của công, hối mại quyền thế, đã là một đại họa cho dân cho nước rồi, không lẽ còn cầu chúc “muốn chi được nấy” cho thỏa lòng tham của kẻ độc tài!

Cho nên, cảnh giới mà tất cả mọi người đều được vạn sự như ý là cảnh giới hoang tưởng. Ước mơ mọi người đều được vạn sự như ý là ước mơ không tưởng.

Bản chất của cuộc đời là vô thường, bất định, vì vậy, con người đứng trong trời đất, thường là sẽ bất như ý. Không thể tìm cầu sự như ý tuyệt đối.

 

Xét cho cùng, chỉ nên hiểu đơn giản: “vạn sự như ý” là lời chúc tụng mọi việc đều hanh thông tốt đẹp, vừa lòng mình mà chẳng tổn hại ai (rất khó!). Nhưng ước vọng mong cầu gì thì cũng tương đối, vừa phải, đừng cầu mong quá giới hạn tài năng và hoàn cảnh của mình. Khi lòng tham của một người vượt khỏi lằn ranh nhu cầu, đời sống hài hòa của cá nhân và gia đình bắt đầu lung lay; khi lòng tham của ngàn người cùng lúc trào dâng, xã hội rối loạn; khi hàng triệu sự muốn của hàng vạn người đều tranh nhau được thỏa đáng, thế giới đảo điên. Và thế giới đã thực sự điên đảo kể từ thời kỳ cổ đại của lịch sử nhân loại, khi mà của cải vật chất trở thành yếu tố phân chia giai cấp xã hội, củng cố địa vị của các guồng máy thống trị vô nhân. Cái gốc của sự điên đảo chính là mong cầu những gì chưa có, và ham muốn được nhiều hơn những gì đã có.

Theo nhà Phật, sống ít muốn (thiểu dục) và biết đủ (tri túc) thì sẽ có hạnh phúc, an nhàn. Ít muốn là ít mong cầu, giảm tham muốn, tức là tự giới hạn mình với nhu cầu cần có thay vì mong cầu cái chưa có; và biết đủ là biết chấp nhận, hài lòng với hiện trạng tương đối của mình. Ít ham muốn thì sẽ bớt mưu tìm, biết đủ thì sẽ ít ham muốn. Thay vì dành hết thời gian, năng lực cho tham cầu danh tiếng và của cải, người ít muốn biết đủ có thêm nhiều thời giờ để vui sống với gia đình, giúp đỡ tha nhân, cứu tế xã hội, và hòa đồng với thiên nhiên.

Như ý, theo nghĩa này, chính là niềm hạnh phúc đơn giản có thể có được trong tầm tay mỗi người, dù ở trong hoàn cảnh nào. Bằng lòng với hiện tại, dừng lại những vọng cầu tương lai. Ít muốn, biết đủ không phải là chấp nhận cuộc sống bần cùng thiếu thốn, không chịu thăng tiến, mà là biết hài lòng với cuộc sống bình dị, vừa đủ, không đòi hỏi quá nhiều nhu cầu. Lòng tham, hễ biết đủ thì đủ; không biết đủ thì sẽ chẳng bao giờ đủ (2). Hạnh phúc là biết sống nhàn hạ, vô ưu: không tham để tâm không lo lắng tân toan; không sân để tâm không ưu phiền náo động; không si để tâm không ù lì ủ dột. Giữ cho đèn tâm vững chãi trước những ngọn gió chướng (3) thì vạn sự cũng thành vô sự; vì vạn sự có đến, lòng vẫn như ý, an vui, không lay động.

 

Và bây giờ, hãy nói về mùa xuân của chúng ta. Đâu đó nơi những miền đất giá lạnh, ngàn hoa đã bắt đầu trổ nụ sau bão tuyết mùa đông; và nơi miền nắng ấm, dưới những tro tàn đổ nát từ hỏa hoạn để lại, cây cỏ cũng kiên trì vươn lên, trổ những nhánh lá đầu xuân. Lau dọn bàn thờ. Dâng trái chưng hoa. Trầm hương thoảng. Thiền phòng tịch mịch. Gió xuân sang rụng phấn hoa vàng. Lòng vô sự mở toang cửa sổ, đón chào xuân như ý.

 

California, ngày 31 tháng 12 năm 2018

Vĩnh Hảo

www.vinhhao.info

 

 

 

 

__________________

 

(1)Ý của Heraclitus, triết gia Hy lạp thế kỷ thứ 5-6 trước Tây lịch: “You could not step twice into the same river…” (Bạn không thể bước qua hai lần trong cùng một dòng sông).

(2)“Trí túc tiện túc, đãi túc hà thời túc / Tri nhàn tiện nhàn, đãi nhàn hà thời nhàn.” Nghĩa là, biết đủ là đủ, đợi đủ bao giờ mới đủ? / Biết nhàn là nhàn, đợi nhàn bao giờ mới nhàn? (Nguyễn Công Trứ, Chữ Nhàn).

(3)Bát phong (tám ngọn gió): được/mất, nhục/vinh, khen/chê, và khổ/vui (lợi/suy, hủy/dự, xưng/cơ, và khổ/lạc) 

http://chanhphap.us/CHANH%20PHAP%20BO%20MOI/Muc%20luc%202019/CP%20so%2086%20(01.19).htm 

 

 

Tôi xin gửi lời chúc tốt đẹp nồng nàn đến tất cả quý Phật tử đang cử hành ngày Đại lễ Vesak, một sự kiện thiêng liêng đối với hàng triệu người Phật tử trên thế giới. Khi chúng ta tôn kính ngày Đản sinh, Thành đạo, và Niết bàn của Đức Thế Tôn, thì giáo lý của ngài có thể truyền cảm hứng cho tất cả chúng ta. Và khi từng gia đình con người chịu khổ đau do ảnh hưởng cơn đại dịch COVID-19, thì bài kinh Phật nhắc nhở chúng ta rằng: “Vì muôn loài chúng sinh bị bệnh, nên ta cũng bệnh.”
Trước đây, các cuộc đụng độ giữa Israel và Palestine đã thường diễn ra tại Jerusalem và Dải Gaza. Các yếu tố tác động khẩn thiết cho mối xung đột là tình trạng đe dọa cưỡng chế trục xuất các gia đình Palestine hoặc các buổi lễ kỷ niệm của Do Thái giáo tại Tempelberg. Thực ra, chiến cuộc còn bắt nguồn từ các sự kiện lịch sử khác mà các xung đột về thành phố Jerusalem và điện thờ Tempelberg đóng một vai trò chính cho sự leo thang.
Đọng trên hoa, trên lá, giọt sương năm xưa gợi ra cõi trong vắt, bình an, đẩy hồn ta vào chốn không bến không bờ, mênh mông, tịch mịch. Những đêm không trăng sao, ta cũng thấy trong cõi mịt mùng sự an hòa, tĩnh mịch ấy. Nhưng cõi tịch mịch của thăm thẳm trời đêm thì lạnh lẽo, vô hồn. Cõi mênh mông cảm từ giọt sương có phơn phớt nắng mai, thấp thoáng màu lá, màu hoa, bao giờ cũng ấm áp, man mác niềm vui nhẹ nhàng, thanh thoát như sương khói, như tơ. Giọt sương quen thuộc, thân yêu ấy đã biến mất, đã trôi vào quá khứ cùng lịch sử của vũ trụ mất rồi. Dù vẫn giữ hình thái, dung nhan của muôn triệu năm trước, giọt sương hôm nay đang mang trong lòng một sự ồn ào khủng khiếp. Vô lượng vi phân tử, sóng radio của điện thoại di động mang theo những lời thủ thỉ thân yêu, gay gắt tranh luận, ầm ầm giận dữ, đắng cay nhiếc móc, nỉ non than thở, tiếng khóc, tiếng cười, nỗi bi thương, cơn cuồng nộ – đủ món hỉ nộ ái ố – … điệp điệp, trùng trùng lướt qua giọt sương liên miên từ lúc nó chào đời
Các cuộc xung đột giữa Do Thái với Palestine cùng khối Ả Rập là vấn đề nan giải cho Hoa Kỳ lẫn thế giới bởi Do Thái không hề nhượng bộ, luôn có những hành động cứng rắn và trả đũa tàn bạo. Cuộc xung đột hiện nay xảy ra khi Do Thái trục xuất sáu gia đình Palestine tại Đông Jerusalem, là điều mà Do Thái từng bước thực hiện với người dân Palestine từ nhiều năm qua.
Tôi yêu những nông dân thôn Hoành, tôi yêu những nông dân Dương Nội. Yêu cái hồn của đất – nơi con người đang phải đối mặt với phong ba bão táp; nơi con người bước trên nghịch cảnh bằng sự cao quý và khí phách của riêng mình. Tôi có một niềm tin vững chắc rằng lòng tử tế và sự dũng cảm của họ sẽ lan toả và lan rộng.
Từ Văn phòng Viện Tăng Thống, tuy chỉ tồn tại trên danh nghĩa, trong phận sự bảo trì ấn tín của Viện Tăng Thống, kế thừa tâm nguyện của Đức Đệ Ngũ Tăng Thống qua phú chúc di ngôn của Ngài trước ngày thị tịch; chúng tôi trên nương tựa uy đức Tăng già và đạo lực gia trì của Chư tôn Trưởng lão, kính gởi đến Chư tôn Hòa Thượng, Chư Thượng tọa, Đại đức Tăng-già nhị bộ, cùng tất cả bốn chúng đệ tử, tâm nguyện Bồ-đề được thể hiện qua các kỳ họp đã nêu, ước mong tất cả bằng Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành, bằng đức lực, trí lực, và tài lực, với hằng tâm và hằng sản, đồng tâm nhất trí góp phần công đức vào sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh mà Chư Thánh Đệ tử, Lịch đại Tổ sư, bằng hùng lực và trí tuệ, bằng từ bi và nhẫn nhục, khoan dung, trải qua vô vàn gian nan chướng duyên trở ngại, đã mang ngọn đèn chánh pháp đến những nơi tăm tối, cho những ai có mắt để thấy, dựng dậy những gì đã sụp đổ, dựng đứng những gì đang nghiêng ngả.
Ngày Phật đản sanh là ngày vui, ngày thiêng liêng và trọng đại của nhân loại. Dù là với truyền thống nào, tông môn pháp phái nào, dù ở quốc độ nào… Người con Phật cũng đều hoan hỷ và thanh tịnh thân tâm để tưởng niệm đức Phật.
Thì tôi cũng nói cho hết lẽ như thế. Chớ bao nhiêu lương dân ở Văn Giang, Dương Nội, Thủ Thiêm, Lộc Hưng… đang sống yên lành mà Đảng & Nhà Nước còn có thể nhẫn tâm biến họ thành những đám dân oan (vật vã khắp nơi) thì cái chính phủ hiện hành có xá chi đến những khúc ruột thừa ở Cambodia.
Bàn về kinh tế không thể không nhắc đến tiền. Tiền không mua được hạnh phúc nhưng không có tiền thì…đói. Tiền mang lại tự do (có tiền mua tiên) hay biến con người thành nô lệ đồng tiền. Con nít lên 3 đã biết tiền dùng để mua bánh kẹo, vậy mà các kinh tế gia giờ này vẫn không đồng ý chuyện tiền để làm chi!
Sau ngày 30/4/1975, nếu phe chiến thắng đã có những chính sách mang lại sự hoà giải quốc gia, đối xử nhân bản với bên thua trận, thay vì cải tạo học tập, càn quét và thiêu huỷ văn hoá miền Nam, đánh tư sản mại bản, thì đã không có hàng triệu người bỏ nước ra đi và người Việt sẽ chẳng mấy ai còn nhớ đến một đất nước của quá khứ, tuy chưa hoàn toàn tự do dân chủ nhưng so với Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì người dân đã được tự do hơn bây giờ rất nhiều.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.