Hôm nay,  

Hai nhà thơ Huế

01/03/201918:12:00(Xem: 8041)

Hai nhà thơ Huế

Lưu Dân, 26.02.2019

(Viết, nhân đọc một tin… tức mình)

Source: SBS Radio, Australia – Vietnamese.



Huế là xứ thơ. Có lẽ do các yếu tố lịch sử, phong cảnh và nếp sống, vùng đất sông Hương núi Ngự là nơi sản sinh ra nhiều nhà thơ – cả nổi tiếng lẫn khét tiếng. Nếu kể hết tên, chắc chắn sẽ thiếu sót. Bài này chỉ viết lơn tơn – không phải với mục đích phê bình văn học hoặc tài liệu giáo khoa gì ráo – về hai tác giả mà cuộc đời và sự nghiệp có những liên hệ oái oăm về thân tộc và chỗ đứng của họ trên văn đàn và trong lòng độc giả.

Tố Hữu, bia miệng để đời

Theo tin của một số báo trong nước, đầu năm nay (2019) một khu lưu niệm nhá thơ Tố Hữu sẽ được xây dựng tại thôn Tân Xuân Lai, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế "nhằm tri ân những đóng góp của ông cho sự nghiệp đấu tranh cách mạng, xây dựng đất nước, góp phần giáo dục truyền thống và tạo điểm tham quan góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương”.

 

blank

Thông báo xây dựng khu tưởng niệm ông Tố Hữu tại Huế.

Thông báo xây dựng khu tưởng niệm ông Tố Hữu tại Huế.

Kinh phí dự trù – chỉ mới dự trù thôi, chưa kể phần “chi phí phát sinh” thường thấy trong các dự án công cộng ở Việt Nam – là 28 tỷ đồng, lấy từ ngân sách nhà nước (tức tiền thuế của dân).

Để bạn có thể hình dung, khoản tiền ấy (hơn 1 triệu Mỹ kim) bằng chi phí xây dựng khoảng 10 trường tiểu học hoặc 10 bệnh xá cấp xã – không tính đến giá trị của diện tích đất khá lớn ở vị trí đắc địa của huyện.

Ừ, thì UBND Thừa Thiên – Huế có lý do để làm như vậy vì ông Tố Hữu không chỉ là một nhà lãnh đạo của đảng CSVN mà còn được coi như “nhà thơ cách mạng hàng đầu” của chế độ. Với họ, việc xây dựng khu lưu niệm là ưu tiên hơn 10 trường tiểu học hoặc 10 bệnh xá ở tỉnh miền trung “mùa đông thiếu áo, hè thời thiếu ăn” này.

(Thật ra, khi còn sinh tiền, ông Tố Hữu khiêm nhượng nhận mình đứng… thứ nhì. Dĩ nhiên, người được xếp hạng trên ông là… “bác”, tác giả được bộ máy tuyên truyền của chế độ thổi lên như “nhà thơ vĩ đại nhất của dân tộc sau Nguyễn Trãi” và cũng là người viết nhiều quyển sách tự ca tụng mình dưới các bút hiệu khác nhau).

Cuộc đời và sự nghiệp của Tố Hữu (1920 – 2002) được chia làm hai phần (không hoàn toàn rõ rệt vì chúng chồng lấn nhau): làm quan và làm thơ. Khi làm quan, ông cũng làm thơ ca tụng chế độ và khi làm thơ, ông viết những bài đầy chất miệng nhà quan.

Đời làm quan của Tố Hữu là một thất bại hiển nhiên. Khi ông đạt đến ngôi vị quan trường cao nhất cũng là lúc người dân sáng tác câu vè mỉa mai “Nhà thơ làm kinh tế / Thống chế đi đặt vòng”. [1]

 

blank

Nhà thơ Tố Hữu và tập thơ Theo Chân Bác

Đời làm thơ của Tố Hữu càng thảm hại hơn. Dù đã in hàng chục tập thơ và các sáng tác của ông được giảng dạy rộng khắp từ bậc tiểu học lên đến đại học trong nhiều thập niên, nhưng sự nghiệp văn chương của Tố Hữu ngày nay chỉ còn lại một cái bỉu môi kinh tởm bởi những người cầm bút cùng thời và thế hệ kế tiếp.

Họ không còn muốn đọc – và thậm chí, không thèm đọc – những bài thơ chiến đấu đầy tính “lãng mạn cách mạng” của thời Việt Bắc, Theo Chân Bác, Ba Mươi Năm Đời Ta Có Đảng hoặc Từ Ấymà chỉ nhớ những đòn thù dã man của Tố Hữu vì tư oán và ghen tài đối với những văn nghệ sĩ chân chính chỉ viết theo lương tâm của người cầm bút.

Nhà thơ Tố Hữu và tập thơ Theo Chân Bác

Trường hợp Nhân Văn – Giai Phẩm ở miền Bắc (từ năm 1955-58) là một ví dụ rõ nét nhất. Cuộc đời oan khiên, bầm dập, tan nát của những tài hoa kiệt xuất trong nền văn học nước nhà như Trần Dần, Phùng Quán, Hữu Loan, Nguyễn Hữu Đang, Lê Đạt, Quang Dũng, Hoàng Cầm, Văn Cao, Phùng Cung… không thể nào đổ thừa cho ai khác ngoài Tố Hữu, Thứ trưởng Bộ Tuyên truyển kiêm “Quan đầu ngành” kiểm soát tư tưởng của giới văn nghệ sĩ miền Bắc.

Khi Nhân Văn – Giai Phẩm bùng nổ, Tố Hữu đã thẳng tay ra lệnh đàn áp, bắt bớ các thành viên cột trụ của phong trào. Tuy ngày nay vụ oan khuất Nhân Văn – Giai Phẩm đã sáng tỏ và các nạn nhân được phục hồi danh dự nhưng Tố Hữu vẫn dửng dưng như người vô can mặc dù nhiều người trong cuộc chỉ đích danh ông ta là kẻ bách hại tự do sáng tác của phong trào này.


blank

Nhà thơ Tố Hữu (bên trái) và Tổng Bí thư Lê Duẩn

Hãy nghe một vài nhận định tiêu biểu trong giới cầm bút ở cả hai miền, cùng và sau thế hệ của Tố Hữu:

Nhà văn Nguyễn Viện, một người bất đồng chính kiến sống tại Sài Gòn, cho rằng thơ của Tố Hữu không hay, thơ của ông nặng tính tuyên truyền, đôi khi đến nỗi khát máu và nịnh bợ quá đáng.

Nhà thơ Hoàng Hưng, sống ở miền Bắc, thuộc thế hệ những văn nghệ sĩ từng bị đàn áp trong vụ Nhân Văn – Giai Phẩm, đồng ý rằng thơ Tố Hữu một thời đã thấm sâu vào dân chúng còn hơn cả ca dao nhưng vẫn là thơ tuyên truyền.

“Ngoài cái việc chung (phục vụ cho chế độ) thì ông Tố Hữu còn có cái tư thù, vì nhóm Nhân Văn dám làm một cuộc hội thảo để phê bình tập thơ Việt Bắc của ông ấy, trong đó có hai người là Trần Dần và Hoàng Cầm.”

Nhà thơ Tố Hữu (bên trái) và Tổng Bí thư Lê Duẩn

Một bài thơ của Tố Hữu được phổ biến và học tập rộng rãi trong thời Cải cách Ruộng đất, lại là những câu sát máu rợn người và vong bản tột cùng:

Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ.          

Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong,

Cho đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng,                                        

Thờ Mao Chủ tịch, thờ Sít-ta-lin bất diệt

Hoặc những câu thơ vô sỉ như thế này đã và vĩnh viễn là vết nhơ trong dòng thơ hiện đại Việt Nam, kể cả dòng thơ cách mạng:

Áo Ông trắng giữa mây hồng                                                                  

Mắt Ông hiền hậu, miệng Ông mỉm cười                                                      

Stalin! Stalin!                                                                                          

Yêu biết mấy, nghe con tập nói                                                             

Tiếng đầu lòng con gọi Stalin!                                                                  

….

Thương cha, thương mẹ, thương chồng

Thương mình thương một, thương Ông thương mười.

Ngay cả những bài thơ về tình yêu của Tố Hữu cũng “thấm đẫm tính đảng”:

Tim anh đó chia ba phần tươi đỏ

Anh dành riêng cho Đảng phần nhiều

Phần cho thơ và phần để em yêu

Em khẽ bảo thế cũng nhiều anh nhỉ... [2]

Việt Nam là nơi có nhiều khu lưu niệm, tượng đài, bia đá nhiều nhất thế giới, một kỷ lục mà quan chức nhà nước rất tự hào. Người ta đua nhau xây dựng các công trình đó – để làm gì, ai cũng biết – dù có khi những nhân vật / sự kiện được lưu niệm chỉ là sản phẩm của sự lừa dối (như anh hùng Lê Văn Tám tẩm xăng chạy vào đốt trại giặc, liệt sĩ Võ Thị Sáu cài hoa lê-ki-ma lên mái tóc trên đường ra sân bắn, Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai...).

Tố Hữu không là một trường hợp như vậy. Ông ta là con người với những câu chuyện có thật còn rỉ máu một thời chuyên chính vô sản. Ông ta có xứng đáng được người dân lưu niệm, lập bia hay không?

Nhà thơ Đỗ Trung Quân, tác giả của bài thơ Bài Học Đầu Cho Con được phổ nhạc với tựa Quê Hương (là chùm khế ngọt), một người cầm bút thuộc thế hệ sau ở miền Nam, nhận xét về Tố Hữu:

“Ông ấy là một nhà thơ nổi tiếng, nổi tiếng theo kiểu là hàng đầu của văn học cách mạng. Nhưng đó là chuyện của cách mạng, không phải là chuyện của tôi… Cứ xây đi (khu lưu niệm Tố Hữu), để sau này người ta còn có cái để mà hạ xuống.”

Mới hay ông bà mình từ xưa nói chẳng hề sai:

Trăm năm bia đá cũng mòn

Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ
 

Phùng Quán, nhà thơ chân thật

Tuy quan điểm sáng tác và vị trí xã hội khác nhau – và đối nghịch nhau – nhưng, như một định phận trớ trêu, Phùng Quán (1932 – 1995) và Tố Hữu lại có quan hệ thân tộc với nhau. Trong tác phẩm “Ba phút sự thật”, Phùng Quán viết ông gọi Tố Hữu bằng cậu nhưng thực ra Tố Hữu là bác (anh ruột của mẹ) của ông, theo cách xưng hô của người Bắc.

Phùng Quán bắt đầu viết từ rất sớm, khoảng năm 20 tuổi, phần lớn là văn. Ông nổi tiếng ngay với tác phẩm đầu tay “Vượt Côn Đảo”, được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1955 [3]. Nhưng sự nghiệp của Phùng Quán thật sự đi vào văn học sử - và cuộc đời ông cũng bắt đầu bị cuốn xoáy xuống tận cùng oan nghiệt vì họa văn tự - sau hai bài thơ “Lời Mẹ dặn” và “Chống tham ô lãng phí” đăng trong Nhân Văn – Giai Phẩm năm 1957. Gần như lập tức, hai bài thơ này được coi như tuyên ngôn lương thức của giới văn nghệ sĩ miền Bắc lúc ấy.

 

blank

Phùng Quán thời trẻ

Phùng Quán thời trẻ

Phùng Quán bị kỷ luật, tống xuất khỏi quân đội và bị tước tư cách hội viên của Hội Nhà văn Việt Nam. Từ ấy, ông bị lưu đày trong các trại tù cải tạo ở nhiều nơi và sống lây lất với kiếp “câu trộm, rượu chịu, văn chui” [4] suốt gần 30 năm cho đến thời kỳ “đổi mới” giữa thập niên 1980, khi các thành viên của Nhân Văn – Giai Phẩm được phục hồi danh dự.

Trong suốt thời gian bầm dập đó, tên tuổi Phùng Quán hầu như biến mất trên văn đàn dù ông vẫn “viết chui” (lấy tên người khác) và nhận được một số giải thưởng lớn (vẫn do... người khác lãnh) [5].

Phùng Quán chỉ chính thức cầm bút lại năm 1988 với quyển tiểu thuyết “Tuổi thơ dữ dội” đoạt Giải thưởng Văn học Thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam. Ông cũng đã sáng tác nhiều bài thơ giá trị như Hoa sen, Hôn, Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe...

 

Oái oăm thay, năm 2007, tức 12 năm sau khi ông qua đời, Chủ tịch nước CHXHCNVN ký quyết định truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật cho Phùng Quán (cùng với Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm). Không biết dưới suối vàng ông có vui lòng lãnh nhận giải thưởng này không để đánh đổi cả cuộc đời bị đọa đày tủi nhục.

 

blank

Nhà thơ Phùng Quán (1932-1995)

Nhà thơ Phùng Quán (1932-1995)

Thơ Phùng Quán, đặc biệt là bài Lời Mẹ dặn (viết khi tác giả mới 25 tuổi), như kể chuyện, đơn giản đến mức ai cũng có thể viết được, nhưng nó lại có một sức hút kỳ lạ khó cưỡng vì chứa đựng một lý tưởng nhân văn thuần khiết và cao đẹp:

 

Tôi mồ côi cha năm hai tuổi
Mẹ tôi thương con không lấy chồng
Trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải
Nuôi tôi đến ngày lớn khôn.
...

Rồi đến lúc lớn khôn, Mẹ dạy:

Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét.
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu
...

Đến khi trở thành nhà văn, tác giả tự nguyện:

Tôi muốn làm nhà văn chân thật
Chân thật trọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.

 

Hơn nửa thế kỷ qua, bài thơ đã trở thành tài sản tâm hồn của nhiều thế hệ độc giả ở cả hai miền Nam Bắc. Chẳng có gì lạ mà sau này, trong tuyển tập 100 bài thơ Việt hay nhất thế kỷ 20 của Trung tâm Văn hóa Doanh nhân và Nhà xuất bản Giáo dục, Lời Mẹ Dặn được trang trọng in lại, dù vì nó mà tác giả đã long đong gần suốt một đời.

blank

Thơ đề trên thơ - Phùng Quán

Dịch giả Nguyễn Hiệu, nguyên Trưởng ban Tu thư của Đại học Vạn Hạnh và cũng là một bạn tâm giao với Phùng Quán, đã đưa ra lý do sâu xa của sự thù hận và trù dập ấy. Ông cho rằng bài thơ mang đậm tính phản kháng, trực tiếp chạm đến một nhân vật mà ai cũng biết, đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nguyễn Hiệu nhận xét:

 

"Bài Lời Mẹ Dặn nó có một ý nghĩa lớn. Đối với Phùng Quán, với tôi và rất nhiều người bởi vì bài thơ ấy anh viết năm 25 tuổi thôi nhưng anh đã nói những điều đại kỵ đối với miền Bắc trong ấy có bốn câu “Yêu ai cứ bảo là yêu / Ghét ai cứ bảo là ghét / Dù ai ngon ngọt nuông chiều / Cũng không nói yêu thành ghét / Dù ai cầm dao dọa giết cũng không nói ghét thành yêu.”

 

Những câu này trực tiếp nhắm vào Hồ Chí Minh và nhắm vào giáo dục miền Bắc tức là không ai yêu Hồ Chí Minh cả nhưng mà từ nhỏ tới lớn mọi người được dạy là ai yêu bác Hồ Chí Minh hơn chúng em nhi đồng? Cái câu của Phùng Quán bảo “Yêu ai cứ bảo là yêu / Ghét ai cứ bảo là ghét” là câu chạm nọc họ kinh khủng lắm.

 

Cho nên đến năm 1995 thì họ muốn xoa dịu những người trong Nhân Văn - Giai Phẩm, họ hứa in cho mỗi người một tập thơ và 5 triệu tiền nhuận bút thế nhưng họ bảo với Phùng Quán là phải bỏ bài thơ “Lời Mẹ Dặn” ra, Phùng Quán nhất định không chịu và sau khi anh chết họ mới chịu in bài thơ này."

 
blank

Phần mộ của Nhà thơ Phùng Quán và Nhà giáo Vũ Thị Bội Trâm

 

Phùng Quán mất ngày 22.01.1995 (cũng là ngày sinh của ông) tại Hà Nội. Sau khi vợ ông, nhà giáo Vũ Bội Trâm, qua đời năm 2010, thể theo lời di chúc của ông: Tôi sẽ đào nấm huyệt / Cạnh mồ cha mẹ tôi, gia đình đã đưa hài cốt ông bà về cải táng (năm 2011) tại quê nhà ở làng Thanh Thủy Thượng, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên - Huế.

Phần mộ trang nhã và khiêm tốn của họ - do bạn bè và những người ái mộ trong và ngoài nước quyên góp xây dựng (không phải 28 tỷ đồng trích từ ngân sách nhà nước) – chỉ chiếm một diện tích khoảng 20 mét vuông, nằm thoai thoải trên một triền đồi nhỏ, nhìn xuống một hồ nuôi cá và, cách đó không xa, một con đường làng nhỏ mang tên ông với một “Quán nhậu bình dân Phùng Quán”.

 

blank

Lưu Dân tại ngã ba đường Phùng Quán và quán nhậu bình dân Phùng Quán

Lưu Dân bên đường mang tên Phùng Quán và Quán nhậu bình dân Phùng Quán

Từ nay, Phùng Quán sẽ vĩnh viễn thoát khỏi cuộc đời “câu trộm, rượu chịu, văn chui” vì không ai còn có thể giam hãm hoặc cấm đoán một hồn thơ khẳng khái và chân thật của ông được. Hồ cá trước mặt, quán nhậu bên cạnh và văn của ông đã được người đời khắc lên trên đá.

(Nếu bạn có dịp đến thăm, ngôi mộ Nhà thơ Phùng Quán và Nhà giáo Vũ Thi Bội Trâm nằm cách Thành phố Huế khoảng 6km về phía nam, trên đường đi phi trường Phú Bài. Bạn phải để ý kỹ vì chỉ có một tấm bảng nhỏ phía tay mặt ghi dòng chữ “Mộ Phùng Quán” dẫn vào một hương lộ có thể chạy xe hơi, khoảng 10 phút là tới.)

Theo lời kể của một người bạn thân trong gia đình, Phùng Quán đã có lần đến thăm Tố Hữu, khi người cậu là quan chức cao cấp của chế độ và đứa cháu lại là một nhà thơ phản động. Hai người chỉ dấm dẳng dăm câu vì không hợp nhau. Đại khái Tố Hữu có lời khuyên gì đó nhưng Phùng Quán không nghe và bỏ về. Sau, Tố Hữu lại nhắn: “Quán, đừng dại nữa!” Nghe chuyện, Phùng Quán cười: “Mình dại lâu rồi, nhưng chỉ muốn làm người chân thật.”

Bây giờ, cả hai đều đã trở thành người thiên cổ.

Thế mới hay, khôn (như Tố Hữu) cũng chết, mà dại (như Phùng Quán) cũng chết. Một khu lưu niệm hàng ngàn mét vuông trị giá tiền tỷ hay một phần mộ nho nhỏ tha hồ gió reo trên đồi cũng như nhau thôi. Chỉ còn lại trơ trơ ngàn năm một tấm bia miệng.

*************

[1] Câu vè này nói về Tố Hữu và Võ Nguyên Giáp. Tố Hữu từng nắm chức vụ Phó Thủ tướng phụ trách về kinh tế trong những năm 1980. Quyết định của Tố Hữu về “Giá, Lương, Tiền” đã khiến tốc độ lạm phát của Việt Nam lúc ấy tăng đến 770%. Trong thời gian này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng bị hạ tầng công tác do sự đấu đá nội bộ, Ông ta bị sỉ nhục bởi “công tác đảng giao” về làm Chủ tịch Ủy ban Sinh đẻ có kế hoạch.

[2] Đoạn thơ này sau năm 1975 bị dân cà-phê vỉa hè “nhái” lại để mô tả hiện tượng cán bộ CS hủ hóa, bỏ bê gia đình chạy theo đào nhí: Lương anh đó chia ba phần to nhỏ / Anh dành riêng cho bả phần nhiều / Phần bao em và phần để anh tiêu / Em sẽ bảo thế cũng liều anh nhỉ...

 

[3] Trong một bài viết của nhà văn Nguyễn Quang Lập, Phùng Quán thú nhận truyện Vượt Côn Đảo là… bịa. Hồi đó, ông nghe người ta kể lại một phần ông bịa ra chín phần. “… Cho đến ngày anh (PQ) ngồi kể cho mình (NQL) nghe, khoảng năm 85 – 86 chi đó, anh vẫn chưa biết Côn Đảo méo hay tròn. Trong đó có mấy câu anh tả con đường từ nhà tù ra Bãi Dương (trường bắn) được lót xương của các tù nhân bị án tử hình. Là anh bịa ra thế để nâng cao lòng căm thù Đế quốc thực dân chứ xương người làm sao lót được đường. Chẳng ngờ trong hồi ký của một ông ở tù Côn Đảo về (ông này nổi tiếng lắm, không dám nêu tên) khi viết về con đường này cũng tả y chang như anh, cũng con đường lót xương các tù nhân…”

 

“Cũng chuyện tù Côn Đảo, trong Trường ca Võ Thị Sáu, anh (PQ) viết tuổi 16 chị Sáu vẫn hái hoa lê-ki-ma cài tóc. Buổi sáng ngày bị hành hình, chị đã ngắt một nhành hoa lê-ki-ma cài lên mái tóc, trên đường ra pháp trường, vừa đi vừa hát. Anh đâu biết lê-ki-ma là cây gì, nghe cái tên đẹp thì tưởng hoa của nó chắc đẹp lắm. Sau này mới biết lê-ki-ma thực ra là cây quả trứng gà, hoa đã xấu lại đầy nhựa, “ngắt một nhành hoa cài mái tóc” có mà dở hơi… Anh Quán cười khà khà, nói sau này hễ viết về chị Võ Thị Sáu thì người ta lại bê nguyên chi tiết này vào, vui quá là vui.”

 

[4] “Sinh kế” của Phùng Quán trong suốt quãng đời bị trù dập là câu cá trộm (không có giấy phép) vào ban đêm ở các hồ quanh Hà Nội, nhiều nhất là ở Hồ Tây. Ông trở thành “thợ câu” do sự giúp đỡ và che chở của vài người bạn lính trong đơn vị cũ hâm mộ thơ ông. Ban đầu, ông không biết nghề, chật vật lắm mới đủ một bữa “cơm đầu ghế” (ngày nay gọi là cơm bụi), nhưng về sau ông trở thành một “chuyên gia bậc nhất” trong giới câu trộm. Phùng Quán tính rằng trong thời gian đăng đẳng đó, ông đã câu trộm được 4 tấn cá. Ông hứa rằng khi được “trở lại đời”, ông sẽ đến chợ Đồng Xuân lạy tạ những bà hàng đã mua cá chui của ông và đền cho họ những sáng tác tim óc của mình… cho công bằng.

[5] Khoảng năm 1969-70, Phùng Quán mượn tên một người em họ đang làm công nhân lâm trường ở Nghệ An để gửi bài dự thi viết về Lenin do tờ Phụ nữ Liên Xô tổ chức. Mục đích của ông là cố giật… giải an ủi, với phần thưởng là chiếc đồng hồ báo thức cho con gái đi học khỏi trễ giờ. Với thân phận phản động hạng nặng, Phùng Quán làm gì dám mơ một thứ hàng xa xỉ như vậy mà chỉ có cán bộ cấp cao mới có sổ mua. Nào ngờ, truyện ngắn Như con cò vàng trong cổ tích mà ông viết ngoáy trong hai ngày lại… chiếm giải nhất, với phần thưởng là một chiếc xe đạp. Báo hại người em họ của ông vừa lãnh giải thưởng văn học vào hạng giá trị nhất của Liên Xô vừa… đái trong quần, vì được báo đài cả miền Bắc ca tụng như “sản phẩm trí tuệ của giai cấp công nhân Viet Nam”. Sau này, khi biết tác giả thật, bộ máy tuyên truyền của chế độ cũng tắt tiếng luôn.

 (Bài do tác giả gửi tới Việt Báo)

****************



Trong vài thập niên vừa qua, giải Nobel Hòa Bình và Văn Chương được xem là một tuyên ngôn của ủy ban giải Nobel về các vấn đề thời cuộc quan trọng trong (những) năm trước và năm 2021 này cũng không là ngoại lệ. Giải Nobel Văn Chương năm nay được trao cho nhà văn lưu vong gốc Tazania - một quốc gia Châu Phi, là Abdulrazak Gurnah "vì sự thẩm thấu kiên định và bác ái của ông đối với những ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dân và số phận của những người tị nạn trong vực sâu ngăn cách giữa các nền văn hóa và lục địa". Cũng vậy, giải Nobel Hoà Bình đã dành cho hai ký giả Maria Ressa của Phi Luật Tân và Dmitry Muratov của Nga "vì những nỗ lực bảo vệ sự tự do ngôn luận, vốn là điều kiện tiên quyết cho nền dân chủ và sự hòa bình lâu dài". Ủy ban Nobel Hòa Bình Na Uy còn nói thêm rằng, "họ đại diện cho tất cả các ký giả đang tranh đấu cho lý tưởng này, trong một thế giới mà nền dân chủ và tự do báo chí đang đối mặt với những điều kiện ngày càng bất lợi" và cho "nền báo chí tự do, độc lập
Sau đó, sau khi “phát khóc” và lau nước mắt/nước mũi xong, bác Hồ liền thỉnh ngay bác Lê về thờ nên mới có Suối Lê Nin (với Núi Các Mác) cùng hình ảnh – cũng như tượng đài – của cả hai ông trưng bầy khắp mọi nơi, để lập ra một tôn giáo mới, thay thế cho Phật/Chúa/Thánh Thần/Ông Bà/Tiên Tổ ... các thứ.
Sự nghiệp chính trị của đại đế Nã-Phá-Luân chẳng liên hệ gì nhiều đến Trung Quốc nên không biết tại sao ông nổi hứng tuyên bố một câu bất hủ mà giờ này có giá trị của một lời tiên tri “Hãy để Trung Hoa ngủ yên bởi vì khi tỉnh giấc nó sẽ làm rung chuyển thế giới.” Vào tháng 03/1978 có một sự kiện ít được biết đến nhưng bắt đầu lay thức gã khổng lồ Trung Quốc khi một hợp tác xã nông nghiệp ở Phúc Kiến xin phép được giữ lại phần sản xuất vượt chỉ tiêu để khuyến khích nông dân hăng hái làm việc. Đây là giai đoạn trước Đổi Mới nên viên thư ký đảng bộ của hợp tác xã bị phê bình kiểm điểm. Chỉ 8 tháng sau đó vào cuối năm 1978 Đặng Tiểu Bình tuyên bố cải tổ và mở cửa nền kinh tế. Đề nghị nói trên của hợp tác xã được mang ra thử nghiệm với kết quả sáng chói nên viên thư ký đảng được ban khen.
Sau 10 năm ra sức Xây dựng, chỉnh đốn hàng ngũ để bảo vệ đảng không tan, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vẫn thừa nhận: ”Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" vẫn chưa được ngăn chặn, đẩy lùi một cách căn bản, thậm chí có mặt còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn, có thể gây ra những hậu quả khôn lường.”
Nếu mối quan hệ Trung Quốc-Hoa Kỳ là một ván bài, thì người Mỹ sẽ nhận ra rằng họ đã được một lá bài tốt và tránh khuất phục trước nỗi sợ hãi hay niềm tin vào sự suy tàn của Hoa Kỳ. Nhưng ngay cả một lá bài tốt cũng có thể thua, nếu chơi tệ. Khi chính quyền của Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden thực hiện chiến lược cạnh tranh đại cường với Trung Quốc, các nhà phân tích tìm các phép ẩn dụ trong lịch sử để giải thích tình trạng cạnh tranh ngày càng sâu sắc. Nhưng trong khi nhiều người dựa vào sự khởi đầu của Chiến tranh Lạnh, thì một ẩn dụ lịch sử đáng lo ngại hơn là sự bắt đầu của Thế chiến thứ nhất. Năm 1914, tất cả các cường quốc đều mong rằng cuộc chiến Balkan lần thứ ba là ngắn ngủi. Thay vào đó, như nhà sử học người Anh Christopher Clark đã chỉ ra rằng, các cường quốc bị mộng du bước vào một trận đại chiến kéo dài bốn năm, phá hủy bốn đế chế và giết chết hàng triệu người.
“Căn bản đời sống của chúng ta là đi tìm sự hạnh phúc và tránh né sự khổ đau, tuy nhiên điều tốt nhất mà ta có thể làm cho chính bản thân chúng ta và cho cả hành tinh này là lật ngược lại toàn bộ suy nghĩ ấy. Pema Chodron đã chỉ cho chúng ta thấy mặt cấp tiến của đạo Phật.”
Năm 1964, anh Phạm Công Thiện được mời vào Sài Gòn để dạy triết Tây tại Viện cao đẳng Phật học vừa được mở tại chùa Pháp Hội (tiền thân của Viện Đại học Vạn Hạnh sau này), tôi được anh cho đi theo. Tôi nhớ anh đã dẫn tôi đến thăm Bùi Giáng vào một buổi chiều, trong một căn nhà ở hẻm Trương Minh Giảng, căn nhà rất ẩm thấp, chật hẹp, gần như không có chỗ cho khách ngồi.
Cố nhớ kỹ lại, tôi vẫn không nghĩ ra là tôi đã gặp thầy Phước An lần đầu vào dịp nào (dĩ nhiên là ở Vạn Hạnh, trong năm 1972, nhưng trong hoàn cảnh nào?). Chỉ nhớ rằng quen nhiều và thân với thầy lắm. Phòng 317 Nội Xá Vạn Hạnh là phòng ở của quý thầy trẻ, là những người tôi rất thân, và đây là một phòng mà tôi có thể ra vào bất cứ lúc nào.
Ba bà Mai kể trên thuộc hai thế hệ. Cả ba đều đã trải qua một kiếp nhân sinh mà “phẩm giá” người dân bị chà đạp một cách rất tự nhiên.” Nếu may mắn mà “CNXH có thể hoàn thiện ở Việt Nam” vào cuối thế kỷ này, như kỳ vọng của ông TBT Nguyễn Phú Trọng, chả hiểu sẽ cần thêm bao nhiêu bà Mai phải (tiếp tục) sống “với tâm thức khốn cùng” như thế nữa?
Và bây giờ, tất cả chỉ còn là kỷ niệm! Hôm nay, tôi xin viết những dòng chữ này để chia sẻ cùng quý vị khán thính giả và anh chị em nghệ sĩ, hầu tưởng nhớ đến người con gái Pleiku “mà đỏ, môi hồng” tên là Phi Nhung, một ca sĩ với tấm lòng nhân hậu dành cho tha nhân, cho cuộc đời và cho quê hương, đất nước.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.