Hôm nay,  

Hai nhà thơ Huế

01/03/201918:12:00(Xem: 7830)

Hai nhà thơ Huế

Lưu Dân, 26.02.2019

(Viết, nhân đọc một tin… tức mình)

Source: SBS Radio, Australia – Vietnamese.



Huế là xứ thơ. Có lẽ do các yếu tố lịch sử, phong cảnh và nếp sống, vùng đất sông Hương núi Ngự là nơi sản sinh ra nhiều nhà thơ – cả nổi tiếng lẫn khét tiếng. Nếu kể hết tên, chắc chắn sẽ thiếu sót. Bài này chỉ viết lơn tơn – không phải với mục đích phê bình văn học hoặc tài liệu giáo khoa gì ráo – về hai tác giả mà cuộc đời và sự nghiệp có những liên hệ oái oăm về thân tộc và chỗ đứng của họ trên văn đàn và trong lòng độc giả.

Tố Hữu, bia miệng để đời

Theo tin của một số báo trong nước, đầu năm nay (2019) một khu lưu niệm nhá thơ Tố Hữu sẽ được xây dựng tại thôn Tân Xuân Lai, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế "nhằm tri ân những đóng góp của ông cho sự nghiệp đấu tranh cách mạng, xây dựng đất nước, góp phần giáo dục truyền thống và tạo điểm tham quan góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương”.

 

blank

Thông báo xây dựng khu tưởng niệm ông Tố Hữu tại Huế.

Thông báo xây dựng khu tưởng niệm ông Tố Hữu tại Huế.

Kinh phí dự trù – chỉ mới dự trù thôi, chưa kể phần “chi phí phát sinh” thường thấy trong các dự án công cộng ở Việt Nam – là 28 tỷ đồng, lấy từ ngân sách nhà nước (tức tiền thuế của dân).

Để bạn có thể hình dung, khoản tiền ấy (hơn 1 triệu Mỹ kim) bằng chi phí xây dựng khoảng 10 trường tiểu học hoặc 10 bệnh xá cấp xã – không tính đến giá trị của diện tích đất khá lớn ở vị trí đắc địa của huyện.

Ừ, thì UBND Thừa Thiên – Huế có lý do để làm như vậy vì ông Tố Hữu không chỉ là một nhà lãnh đạo của đảng CSVN mà còn được coi như “nhà thơ cách mạng hàng đầu” của chế độ. Với họ, việc xây dựng khu lưu niệm là ưu tiên hơn 10 trường tiểu học hoặc 10 bệnh xá ở tỉnh miền trung “mùa đông thiếu áo, hè thời thiếu ăn” này.

(Thật ra, khi còn sinh tiền, ông Tố Hữu khiêm nhượng nhận mình đứng… thứ nhì. Dĩ nhiên, người được xếp hạng trên ông là… “bác”, tác giả được bộ máy tuyên truyền của chế độ thổi lên như “nhà thơ vĩ đại nhất của dân tộc sau Nguyễn Trãi” và cũng là người viết nhiều quyển sách tự ca tụng mình dưới các bút hiệu khác nhau).

Cuộc đời và sự nghiệp của Tố Hữu (1920 – 2002) được chia làm hai phần (không hoàn toàn rõ rệt vì chúng chồng lấn nhau): làm quan và làm thơ. Khi làm quan, ông cũng làm thơ ca tụng chế độ và khi làm thơ, ông viết những bài đầy chất miệng nhà quan.

Đời làm quan của Tố Hữu là một thất bại hiển nhiên. Khi ông đạt đến ngôi vị quan trường cao nhất cũng là lúc người dân sáng tác câu vè mỉa mai “Nhà thơ làm kinh tế / Thống chế đi đặt vòng”. [1]

 

blank

Nhà thơ Tố Hữu và tập thơ Theo Chân Bác

Đời làm thơ của Tố Hữu càng thảm hại hơn. Dù đã in hàng chục tập thơ và các sáng tác của ông được giảng dạy rộng khắp từ bậc tiểu học lên đến đại học trong nhiều thập niên, nhưng sự nghiệp văn chương của Tố Hữu ngày nay chỉ còn lại một cái bỉu môi kinh tởm bởi những người cầm bút cùng thời và thế hệ kế tiếp.

Họ không còn muốn đọc – và thậm chí, không thèm đọc – những bài thơ chiến đấu đầy tính “lãng mạn cách mạng” của thời Việt Bắc, Theo Chân Bác, Ba Mươi Năm Đời Ta Có Đảng hoặc Từ Ấymà chỉ nhớ những đòn thù dã man của Tố Hữu vì tư oán và ghen tài đối với những văn nghệ sĩ chân chính chỉ viết theo lương tâm của người cầm bút.

Nhà thơ Tố Hữu và tập thơ Theo Chân Bác

Trường hợp Nhân Văn – Giai Phẩm ở miền Bắc (từ năm 1955-58) là một ví dụ rõ nét nhất. Cuộc đời oan khiên, bầm dập, tan nát của những tài hoa kiệt xuất trong nền văn học nước nhà như Trần Dần, Phùng Quán, Hữu Loan, Nguyễn Hữu Đang, Lê Đạt, Quang Dũng, Hoàng Cầm, Văn Cao, Phùng Cung… không thể nào đổ thừa cho ai khác ngoài Tố Hữu, Thứ trưởng Bộ Tuyên truyển kiêm “Quan đầu ngành” kiểm soát tư tưởng của giới văn nghệ sĩ miền Bắc.

Khi Nhân Văn – Giai Phẩm bùng nổ, Tố Hữu đã thẳng tay ra lệnh đàn áp, bắt bớ các thành viên cột trụ của phong trào. Tuy ngày nay vụ oan khuất Nhân Văn – Giai Phẩm đã sáng tỏ và các nạn nhân được phục hồi danh dự nhưng Tố Hữu vẫn dửng dưng như người vô can mặc dù nhiều người trong cuộc chỉ đích danh ông ta là kẻ bách hại tự do sáng tác của phong trào này.


blank

Nhà thơ Tố Hữu (bên trái) và Tổng Bí thư Lê Duẩn

Hãy nghe một vài nhận định tiêu biểu trong giới cầm bút ở cả hai miền, cùng và sau thế hệ của Tố Hữu:

Nhà văn Nguyễn Viện, một người bất đồng chính kiến sống tại Sài Gòn, cho rằng thơ của Tố Hữu không hay, thơ của ông nặng tính tuyên truyền, đôi khi đến nỗi khát máu và nịnh bợ quá đáng.

Nhà thơ Hoàng Hưng, sống ở miền Bắc, thuộc thế hệ những văn nghệ sĩ từng bị đàn áp trong vụ Nhân Văn – Giai Phẩm, đồng ý rằng thơ Tố Hữu một thời đã thấm sâu vào dân chúng còn hơn cả ca dao nhưng vẫn là thơ tuyên truyền.

“Ngoài cái việc chung (phục vụ cho chế độ) thì ông Tố Hữu còn có cái tư thù, vì nhóm Nhân Văn dám làm một cuộc hội thảo để phê bình tập thơ Việt Bắc của ông ấy, trong đó có hai người là Trần Dần và Hoàng Cầm.”

Nhà thơ Tố Hữu (bên trái) và Tổng Bí thư Lê Duẩn

Một bài thơ của Tố Hữu được phổ biến và học tập rộng rãi trong thời Cải cách Ruộng đất, lại là những câu sát máu rợn người và vong bản tột cùng:

Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ.          

Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong,

Cho đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng,                                        

Thờ Mao Chủ tịch, thờ Sít-ta-lin bất diệt

Hoặc những câu thơ vô sỉ như thế này đã và vĩnh viễn là vết nhơ trong dòng thơ hiện đại Việt Nam, kể cả dòng thơ cách mạng:

Áo Ông trắng giữa mây hồng                                                                  

Mắt Ông hiền hậu, miệng Ông mỉm cười                                                      

Stalin! Stalin!                                                                                          

Yêu biết mấy, nghe con tập nói                                                             

Tiếng đầu lòng con gọi Stalin!                                                                  

….

Thương cha, thương mẹ, thương chồng

Thương mình thương một, thương Ông thương mười.

Ngay cả những bài thơ về tình yêu của Tố Hữu cũng “thấm đẫm tính đảng”:

Tim anh đó chia ba phần tươi đỏ

Anh dành riêng cho Đảng phần nhiều

Phần cho thơ và phần để em yêu

Em khẽ bảo thế cũng nhiều anh nhỉ... [2]

Việt Nam là nơi có nhiều khu lưu niệm, tượng đài, bia đá nhiều nhất thế giới, một kỷ lục mà quan chức nhà nước rất tự hào. Người ta đua nhau xây dựng các công trình đó – để làm gì, ai cũng biết – dù có khi những nhân vật / sự kiện được lưu niệm chỉ là sản phẩm của sự lừa dối (như anh hùng Lê Văn Tám tẩm xăng chạy vào đốt trại giặc, liệt sĩ Võ Thị Sáu cài hoa lê-ki-ma lên mái tóc trên đường ra sân bắn, Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai...).

Tố Hữu không là một trường hợp như vậy. Ông ta là con người với những câu chuyện có thật còn rỉ máu một thời chuyên chính vô sản. Ông ta có xứng đáng được người dân lưu niệm, lập bia hay không?

Nhà thơ Đỗ Trung Quân, tác giả của bài thơ Bài Học Đầu Cho Con được phổ nhạc với tựa Quê Hương (là chùm khế ngọt), một người cầm bút thuộc thế hệ sau ở miền Nam, nhận xét về Tố Hữu:

“Ông ấy là một nhà thơ nổi tiếng, nổi tiếng theo kiểu là hàng đầu của văn học cách mạng. Nhưng đó là chuyện của cách mạng, không phải là chuyện của tôi… Cứ xây đi (khu lưu niệm Tố Hữu), để sau này người ta còn có cái để mà hạ xuống.”

Mới hay ông bà mình từ xưa nói chẳng hề sai:

Trăm năm bia đá cũng mòn

Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ
 

Phùng Quán, nhà thơ chân thật

Tuy quan điểm sáng tác và vị trí xã hội khác nhau – và đối nghịch nhau – nhưng, như một định phận trớ trêu, Phùng Quán (1932 – 1995) và Tố Hữu lại có quan hệ thân tộc với nhau. Trong tác phẩm “Ba phút sự thật”, Phùng Quán viết ông gọi Tố Hữu bằng cậu nhưng thực ra Tố Hữu là bác (anh ruột của mẹ) của ông, theo cách xưng hô của người Bắc.

Phùng Quán bắt đầu viết từ rất sớm, khoảng năm 20 tuổi, phần lớn là văn. Ông nổi tiếng ngay với tác phẩm đầu tay “Vượt Côn Đảo”, được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1955 [3]. Nhưng sự nghiệp của Phùng Quán thật sự đi vào văn học sử - và cuộc đời ông cũng bắt đầu bị cuốn xoáy xuống tận cùng oan nghiệt vì họa văn tự - sau hai bài thơ “Lời Mẹ dặn” và “Chống tham ô lãng phí” đăng trong Nhân Văn – Giai Phẩm năm 1957. Gần như lập tức, hai bài thơ này được coi như tuyên ngôn lương thức của giới văn nghệ sĩ miền Bắc lúc ấy.

 

blank

Phùng Quán thời trẻ

Phùng Quán thời trẻ

Phùng Quán bị kỷ luật, tống xuất khỏi quân đội và bị tước tư cách hội viên của Hội Nhà văn Việt Nam. Từ ấy, ông bị lưu đày trong các trại tù cải tạo ở nhiều nơi và sống lây lất với kiếp “câu trộm, rượu chịu, văn chui” [4] suốt gần 30 năm cho đến thời kỳ “đổi mới” giữa thập niên 1980, khi các thành viên của Nhân Văn – Giai Phẩm được phục hồi danh dự.

Trong suốt thời gian bầm dập đó, tên tuổi Phùng Quán hầu như biến mất trên văn đàn dù ông vẫn “viết chui” (lấy tên người khác) và nhận được một số giải thưởng lớn (vẫn do... người khác lãnh) [5].

Phùng Quán chỉ chính thức cầm bút lại năm 1988 với quyển tiểu thuyết “Tuổi thơ dữ dội” đoạt Giải thưởng Văn học Thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam. Ông cũng đã sáng tác nhiều bài thơ giá trị như Hoa sen, Hôn, Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe...

 

Oái oăm thay, năm 2007, tức 12 năm sau khi ông qua đời, Chủ tịch nước CHXHCNVN ký quyết định truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật cho Phùng Quán (cùng với Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm). Không biết dưới suối vàng ông có vui lòng lãnh nhận giải thưởng này không để đánh đổi cả cuộc đời bị đọa đày tủi nhục.

 

blank

Nhà thơ Phùng Quán (1932-1995)

Nhà thơ Phùng Quán (1932-1995)

Thơ Phùng Quán, đặc biệt là bài Lời Mẹ dặn (viết khi tác giả mới 25 tuổi), như kể chuyện, đơn giản đến mức ai cũng có thể viết được, nhưng nó lại có một sức hút kỳ lạ khó cưỡng vì chứa đựng một lý tưởng nhân văn thuần khiết và cao đẹp:

 

Tôi mồ côi cha năm hai tuổi
Mẹ tôi thương con không lấy chồng
Trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải
Nuôi tôi đến ngày lớn khôn.
...

Rồi đến lúc lớn khôn, Mẹ dạy:

Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét.
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu
...

Đến khi trở thành nhà văn, tác giả tự nguyện:

Tôi muốn làm nhà văn chân thật
Chân thật trọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.

 

Hơn nửa thế kỷ qua, bài thơ đã trở thành tài sản tâm hồn của nhiều thế hệ độc giả ở cả hai miền Nam Bắc. Chẳng có gì lạ mà sau này, trong tuyển tập 100 bài thơ Việt hay nhất thế kỷ 20 của Trung tâm Văn hóa Doanh nhân và Nhà xuất bản Giáo dục, Lời Mẹ Dặn được trang trọng in lại, dù vì nó mà tác giả đã long đong gần suốt một đời.

blank

Thơ đề trên thơ - Phùng Quán

Dịch giả Nguyễn Hiệu, nguyên Trưởng ban Tu thư của Đại học Vạn Hạnh và cũng là một bạn tâm giao với Phùng Quán, đã đưa ra lý do sâu xa của sự thù hận và trù dập ấy. Ông cho rằng bài thơ mang đậm tính phản kháng, trực tiếp chạm đến một nhân vật mà ai cũng biết, đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nguyễn Hiệu nhận xét:

 

"Bài Lời Mẹ Dặn nó có một ý nghĩa lớn. Đối với Phùng Quán, với tôi và rất nhiều người bởi vì bài thơ ấy anh viết năm 25 tuổi thôi nhưng anh đã nói những điều đại kỵ đối với miền Bắc trong ấy có bốn câu “Yêu ai cứ bảo là yêu / Ghét ai cứ bảo là ghét / Dù ai ngon ngọt nuông chiều / Cũng không nói yêu thành ghét / Dù ai cầm dao dọa giết cũng không nói ghét thành yêu.”

 

Những câu này trực tiếp nhắm vào Hồ Chí Minh và nhắm vào giáo dục miền Bắc tức là không ai yêu Hồ Chí Minh cả nhưng mà từ nhỏ tới lớn mọi người được dạy là ai yêu bác Hồ Chí Minh hơn chúng em nhi đồng? Cái câu của Phùng Quán bảo “Yêu ai cứ bảo là yêu / Ghét ai cứ bảo là ghét” là câu chạm nọc họ kinh khủng lắm.

 

Cho nên đến năm 1995 thì họ muốn xoa dịu những người trong Nhân Văn - Giai Phẩm, họ hứa in cho mỗi người một tập thơ và 5 triệu tiền nhuận bút thế nhưng họ bảo với Phùng Quán là phải bỏ bài thơ “Lời Mẹ Dặn” ra, Phùng Quán nhất định không chịu và sau khi anh chết họ mới chịu in bài thơ này."

 
blank

Phần mộ của Nhà thơ Phùng Quán và Nhà giáo Vũ Thị Bội Trâm

 

Phùng Quán mất ngày 22.01.1995 (cũng là ngày sinh của ông) tại Hà Nội. Sau khi vợ ông, nhà giáo Vũ Bội Trâm, qua đời năm 2010, thể theo lời di chúc của ông: Tôi sẽ đào nấm huyệt / Cạnh mồ cha mẹ tôi, gia đình đã đưa hài cốt ông bà về cải táng (năm 2011) tại quê nhà ở làng Thanh Thủy Thượng, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên - Huế.

Phần mộ trang nhã và khiêm tốn của họ - do bạn bè và những người ái mộ trong và ngoài nước quyên góp xây dựng (không phải 28 tỷ đồng trích từ ngân sách nhà nước) – chỉ chiếm một diện tích khoảng 20 mét vuông, nằm thoai thoải trên một triền đồi nhỏ, nhìn xuống một hồ nuôi cá và, cách đó không xa, một con đường làng nhỏ mang tên ông với một “Quán nhậu bình dân Phùng Quán”.

 

blank

Lưu Dân tại ngã ba đường Phùng Quán và quán nhậu bình dân Phùng Quán

Lưu Dân bên đường mang tên Phùng Quán và Quán nhậu bình dân Phùng Quán

Từ nay, Phùng Quán sẽ vĩnh viễn thoát khỏi cuộc đời “câu trộm, rượu chịu, văn chui” vì không ai còn có thể giam hãm hoặc cấm đoán một hồn thơ khẳng khái và chân thật của ông được. Hồ cá trước mặt, quán nhậu bên cạnh và văn của ông đã được người đời khắc lên trên đá.

(Nếu bạn có dịp đến thăm, ngôi mộ Nhà thơ Phùng Quán và Nhà giáo Vũ Thi Bội Trâm nằm cách Thành phố Huế khoảng 6km về phía nam, trên đường đi phi trường Phú Bài. Bạn phải để ý kỹ vì chỉ có một tấm bảng nhỏ phía tay mặt ghi dòng chữ “Mộ Phùng Quán” dẫn vào một hương lộ có thể chạy xe hơi, khoảng 10 phút là tới.)

Theo lời kể của một người bạn thân trong gia đình, Phùng Quán đã có lần đến thăm Tố Hữu, khi người cậu là quan chức cao cấp của chế độ và đứa cháu lại là một nhà thơ phản động. Hai người chỉ dấm dẳng dăm câu vì không hợp nhau. Đại khái Tố Hữu có lời khuyên gì đó nhưng Phùng Quán không nghe và bỏ về. Sau, Tố Hữu lại nhắn: “Quán, đừng dại nữa!” Nghe chuyện, Phùng Quán cười: “Mình dại lâu rồi, nhưng chỉ muốn làm người chân thật.”

Bây giờ, cả hai đều đã trở thành người thiên cổ.

Thế mới hay, khôn (như Tố Hữu) cũng chết, mà dại (như Phùng Quán) cũng chết. Một khu lưu niệm hàng ngàn mét vuông trị giá tiền tỷ hay một phần mộ nho nhỏ tha hồ gió reo trên đồi cũng như nhau thôi. Chỉ còn lại trơ trơ ngàn năm một tấm bia miệng.

*************

[1] Câu vè này nói về Tố Hữu và Võ Nguyên Giáp. Tố Hữu từng nắm chức vụ Phó Thủ tướng phụ trách về kinh tế trong những năm 1980. Quyết định của Tố Hữu về “Giá, Lương, Tiền” đã khiến tốc độ lạm phát của Việt Nam lúc ấy tăng đến 770%. Trong thời gian này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng bị hạ tầng công tác do sự đấu đá nội bộ, Ông ta bị sỉ nhục bởi “công tác đảng giao” về làm Chủ tịch Ủy ban Sinh đẻ có kế hoạch.

[2] Đoạn thơ này sau năm 1975 bị dân cà-phê vỉa hè “nhái” lại để mô tả hiện tượng cán bộ CS hủ hóa, bỏ bê gia đình chạy theo đào nhí: Lương anh đó chia ba phần to nhỏ / Anh dành riêng cho bả phần nhiều / Phần bao em và phần để anh tiêu / Em sẽ bảo thế cũng liều anh nhỉ...

 

[3] Trong một bài viết của nhà văn Nguyễn Quang Lập, Phùng Quán thú nhận truyện Vượt Côn Đảo là… bịa. Hồi đó, ông nghe người ta kể lại một phần ông bịa ra chín phần. “… Cho đến ngày anh (PQ) ngồi kể cho mình (NQL) nghe, khoảng năm 85 – 86 chi đó, anh vẫn chưa biết Côn Đảo méo hay tròn. Trong đó có mấy câu anh tả con đường từ nhà tù ra Bãi Dương (trường bắn) được lót xương của các tù nhân bị án tử hình. Là anh bịa ra thế để nâng cao lòng căm thù Đế quốc thực dân chứ xương người làm sao lót được đường. Chẳng ngờ trong hồi ký của một ông ở tù Côn Đảo về (ông này nổi tiếng lắm, không dám nêu tên) khi viết về con đường này cũng tả y chang như anh, cũng con đường lót xương các tù nhân…”

 

“Cũng chuyện tù Côn Đảo, trong Trường ca Võ Thị Sáu, anh (PQ) viết tuổi 16 chị Sáu vẫn hái hoa lê-ki-ma cài tóc. Buổi sáng ngày bị hành hình, chị đã ngắt một nhành hoa lê-ki-ma cài lên mái tóc, trên đường ra pháp trường, vừa đi vừa hát. Anh đâu biết lê-ki-ma là cây gì, nghe cái tên đẹp thì tưởng hoa của nó chắc đẹp lắm. Sau này mới biết lê-ki-ma thực ra là cây quả trứng gà, hoa đã xấu lại đầy nhựa, “ngắt một nhành hoa cài mái tóc” có mà dở hơi… Anh Quán cười khà khà, nói sau này hễ viết về chị Võ Thị Sáu thì người ta lại bê nguyên chi tiết này vào, vui quá là vui.”

 

[4] “Sinh kế” của Phùng Quán trong suốt quãng đời bị trù dập là câu cá trộm (không có giấy phép) vào ban đêm ở các hồ quanh Hà Nội, nhiều nhất là ở Hồ Tây. Ông trở thành “thợ câu” do sự giúp đỡ và che chở của vài người bạn lính trong đơn vị cũ hâm mộ thơ ông. Ban đầu, ông không biết nghề, chật vật lắm mới đủ một bữa “cơm đầu ghế” (ngày nay gọi là cơm bụi), nhưng về sau ông trở thành một “chuyên gia bậc nhất” trong giới câu trộm. Phùng Quán tính rằng trong thời gian đăng đẳng đó, ông đã câu trộm được 4 tấn cá. Ông hứa rằng khi được “trở lại đời”, ông sẽ đến chợ Đồng Xuân lạy tạ những bà hàng đã mua cá chui của ông và đền cho họ những sáng tác tim óc của mình… cho công bằng.

[5] Khoảng năm 1969-70, Phùng Quán mượn tên một người em họ đang làm công nhân lâm trường ở Nghệ An để gửi bài dự thi viết về Lenin do tờ Phụ nữ Liên Xô tổ chức. Mục đích của ông là cố giật… giải an ủi, với phần thưởng là chiếc đồng hồ báo thức cho con gái đi học khỏi trễ giờ. Với thân phận phản động hạng nặng, Phùng Quán làm gì dám mơ một thứ hàng xa xỉ như vậy mà chỉ có cán bộ cấp cao mới có sổ mua. Nào ngờ, truyện ngắn Như con cò vàng trong cổ tích mà ông viết ngoáy trong hai ngày lại… chiếm giải nhất, với phần thưởng là một chiếc xe đạp. Báo hại người em họ của ông vừa lãnh giải thưởng văn học vào hạng giá trị nhất của Liên Xô vừa… đái trong quần, vì được báo đài cả miền Bắc ca tụng như “sản phẩm trí tuệ của giai cấp công nhân Viet Nam”. Sau này, khi biết tác giả thật, bộ máy tuyên truyền của chế độ cũng tắt tiếng luôn.

 (Bài do tác giả gửi tới Việt Báo)

****************



Một điều chắc chắn là Bắc Kinh không tranh đua làm cảnh sát quốc tế mà nhường vai trò này cho Hoa Kỳ phung phí tài sản và nhân lực trong các chiến trường Trung Đông, Trung Á và Bắc Phi. Trong khi đó Trung Quốc hưỡng lợi từ việc mua dầu hỏa, khai thác tài nguyên thiên nhiên, bán hàng tiêu dùng cùng kế hoạch Vành Đai Con Đường. Về phương diện an ninh Bắc Kinh hiện muốn đẩy lùi Hoa Kỳ ra khỏi Đông Thái Bình Dương để tạo một vòng đai an ninh vì khu vực này được xem thuộc ảnh hưởng truyền thống của Trung Quốc và là nơi có nền kinh tế năng động nhất thế giới. Trên khía cạnh tài chánh Bắc Kinh tìm cách phối hợp với Nga, Trung Đông và cả Âu Châu để chấm dứt vai trò thống trị của đồng đô-la.
Vào cuối tuần qua, Tổng Thống Hoa Kỳ, Donald Trump đã phải tìm kiếm sự bảo vệ khỏi những người biểu tình trong hầm ngầm bên dưới Tòa Bạch Ốc. Nơi trú ẩn khét tiếng là gì? Chúng tôi giải thích nó ở đâu và được xây khi nào và cho mục đích gì. Hoa Kỳ đang trong tình trạng khẩn cấp. Không chỉ vì cuộc khủng hoảng corona, mà còn ngày càng tăng do các cuộc biểu tình dân sự sau khi người Mỹ gốc Phi George Floyd bị giết bởi một cảnh sát. Các cuộc biểu tình ở nhiều thành phố trên cả nước đã đạt tỷ lệ đến mức Tổng thống Donald Trump phải đi đến nơi an toàn trong một hầm ngầm vào thứ Sáu tuần trước. Một hầm ngầm? Nơi trú ẩn khét tiếng này là gì? Chính xác thì nó được dùng để làm gì? Được xây khi nào? Nó nằm ở đâu? Chúng tôi cung cấp câu trả lời cho những điều này và các câu hỏi khác.
Hoạch đỊnh triển khai quân đội để trấn áp người dân Mỹ biểu tình của Tổng thống Trump đã dấy lên sự phản kháng chống đối dữ dội từ phía các tướng lãnh hồi hưu và các đại biểu liên bang congressmen thuộc đảng Dân chủ tại Hạ viện Hoa kỳ. Hôm 2 tháng 6, TNS Tim Kaine của đảng dân chủ bang Virginia cảnh cáo theo điều lệ National Authorization Act-NDAA- nghiêm cấm bất cứ ai không được dùng ngân quỹ nhà nước để triển khai quân đội Mỹ đàn áp công dân Mỹ biểu tình.
Chỉ còn hơn 6 tháng nữa đến Đại hội đảng toàn quốc XIII, diễn ra đầu năm 2021, nhưng những kẻ nịnh thần đã xếp hàng sau lưng Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng để vận động “đề nghị” ông ngồi thêm nhiệm kỳ nữa, hay ít nhất cũng 2 năm. Lý do của đám tôi trung đưa ra là đất nước cần lãnh đạo ổn định để bảo vệ đảng và chế độ theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa, dựa trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhưng điều này cũng lộ ra dấu hiệu mất đoàn kết và không thống nhất trong nội bộ hơn 4 triệu đảng viên.
Đời về chiều bỗng trở nên rảnh rỗi. Đôi khi, rảnh muốn khóc luôn nên tôi đâm ra uống hơi đều và cũng hơi nhiều. Chắc sợ thằng em dám chết vì rượu nên không ít anh chị hằng tâm (và hằng sản) đã nhờ tôi đi làm việc thiện, giúp những người Việt nghèo khó – sống rải rác và quanh quất – ở Biển Hồ. Tháng này, chị Kim Bintliff – Houston TX – biểu tôi đến làng Kor K’ek, cách Kampong Luong Floating Village (thuộc tỉnh Pursat) chừng hai giờ ghe máy. Tôi đã đến đây đôi ba lần trước, vì chuyện làm trường học, và không hề bị phiền nhiễu gì ráo trọi. Lần này, trưởng ấp ngỏ lời xin thêm mấy phần gạo (cho chính gia đình và vài người nữa) khiến tôi hơi khó chịu. Tuy thế, ngay khi lên bước chân lên cái nhà nổi ọp ẹp và chật hẹp của ông ta thì thái độ của tôi thay đổi hẳn. Họ cũng cùng quẫn, có khác chi những đồng bào trôi sông lạc chợ của mình đâu.
Sách "Bên thắng cuộc" của Huy Đức kể lại nhiều chuyện bí ẩn trong hàng ngũ cộng sản mà người ngoài, nhứt là người miền nam, ít ai biết và cả một số chuyện liên hệ tới giới chức miền nam sau 30.04/75 trong cải tạo và tù vượt biên dưới thời ông Võ văn Kiệt. Có chuyện tác giả kể hấp dẫn nhưng không đúng sự thật bởi chính người trong cuộc, tức nạn nhơn, đọc qua chuyện của mình đã phải ngạc nhiên. Nhưng dầu sao, sách "Bên thắng cuộc" vẫn có giá trị thông tin khá hơn nhiều sách khác của người cộng sản viết mà ta đọc qua.
Hai phần ba thế kỷ đã qua, ba thế hệ đã bị hy sinh: hy sinh chống Pháp để giành độc lập, hy sinh chống Mỹ để thống nhất đất nước, hy sinh làm những nông dân không có đất, và những công nhân không có tay nghề để đô thị hoá và công nghiệp hoá đất nước. Với đường lối giáo dục hiện nay, rõ ràng, Đảng và Nhà Nước đang tính hy sinh (luôn) thế hệ kế tiếp – thế hệ thứ tư!
Nhìn lại trên 3 năm vừa qua được ghi nhận Mỹ càng ngày xung đột với Trung Cộng mà có lẽ cao điểm là trong tháng qua. Quả thực vậy cả 2 bên đã không còn coi nhau như là đối tượng hợp tác thân thiết như trong thời kỳ TT Obama mà nay càng ngày càng công khai chống nhau kịch liệt trên mọi phương diện, nếu hoàn cảnh cho phép!.
Trong ký ức thơ ấu của tôi, Đà Lạt không phải là nơi có nhiều chim chóc. Ngoài những bầy sẻ ríu rít đón chào nắng sớm trên mái ngói, và những đàn én bay lượn khắp nơi vào lúc hoàng hôn – thỉnh thoảng – tôi mới nhìn thấy vài chú sáo lò cò giữa sân trường vắng, hay một con chàng làng lẻ loi (và trầm ngâm) trên cọc hàng rào. Chào mào tuy hơi nhiều nhưng chỉ ồn ào tụ họp, giữa những cành lá rậm ri, khi đã vào hè và trái mai (anh đào) cũng đà chín mọng. Họa hoằn mới thấy được thấy đôi ba con chim lạ, đỏ/vàng rực rỡ (chả biết tên chi) xa tít trên những cành cây cao ngất, giữa đồi thông vi vút.
Với một người Mỹ gốc Việt như tôi, Tháng Lịch Sử Người Da Đen có nghĩa gì? Các từ “Da đen”, “Người Mỹ gốc Phi châu”, và “Người Mỹ gốc Việt,” tự chúng đã là các tên gọi nặng nề. Ngay cả khi được sử dụng chỉ để đòi lại căn cước và phẩm giá, chúng vẫn đầy rẫy sự phân chia chủng tộc, dù là thời nay hay trong quá khứ. Suy ngẫm về lịch sử người Da đen, làm sao tôi có thể vượt qua cái hậu quả dã man của sức tưởng tượng và các chính sách của người da trắng Châu Âu đã bắt rễ từ hơn 500 năm trước?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.