Hôm nay,  

Ạch đụi tra lão - - độc đắc thơ - hồn nhiên mùa xuân

08/03/201910:25:00(Xem: 6748)

Ạch đụi tra lão


Hồ Đình Nghiêm


blankNhà thơ Hoàng Xuân Sơn
Tranh của Thanh Trí
 

Montréal, thành phố tôi định cư, đã có ai đó thày lay phiên dịch, phụ đề Việt ngữ thành Mộng Lệ An. Thoạt nghe xướng tên, cứ ngỡ như đó là nhan truyện dài kỳ tình diễm lệ chan đầy nước mắt của nhà văn nữ Quỳnh Dao ở tận xứ lạ Taiwan. Nhiều đọc giả “khó tính” bảo: Quỳnh Dao là chưởng môn nhân môn phái Sến. Tôi chưa đọc văn bả nên chỉ biết mần thinh. Tôi nhớ có vị nào đó ở trong nước từng có thơ “mưa rơi không cần thông dịch” hoặc một thứ na ná tựa thế. Tôi lại nhớ một câu thoại “Cái gì của César thì nên trả lại cho César”.

Tôi yêu Montréal, nhỏ bé, hiền hoà, dân tình cởi mở, Anh-Pháp đề huề chẳng yes thì oui. Có khu cổ xuý việc trau dồi Pháp ngữ, lại thày lay mần thông ngôn, như sau: Tình xê la mua, tiền xê lạc răng, đời xê la vi. Ui, trẻ lên ba cũng tường những món gay cấn nọ.

Ở khu chăm nói tiếng mẹ đẻ, tôi thân thiết với hai nhà thơ: Luân Hoán, Hoàng Xuân Sơn. Hai nhà văn: Võ Kỳ Điền, Song Thao. Tôi gọi bốn vị bằng anh, vì tôi tri thiên mệnh trong khi họ thuộc dạng cổ lai hy. Họ chẳng thích nuôi râu, chứ nếu thả giàn để râu ria ra rậm rạp thì e “bác Hồ” phải nể mặt tủi hờn đọ không lại kính nhi viễn chi. Quá khứ, Luân Hoán gốc Đà Nẵng (Trung). Hoàng Xuân Sơn gốc Huế (Trung). Võ Kỳ Điền gốc Phú Quốc (Nam). Song Thao gốc Hà Nội (Bắc). Ba phương lưu lạc dặm ngàn đã tìm về chốn đất lành “chim” đậu này. Cớ sao cứ quen miệng đất lành chim đậu? Những giống loài khác muốn xớ rớ, lân la tới thì không đậu được sao? Giả dụ như ve sầu, như gà mái, như bướm vàng?

“Hoàn cảnh” nhà thơ Luân Hoán giống như tôi: Lấy vợ cùng quê, chung phường khóm. Riêng nhà thơ Hoàng Xuân Sơn và nhà văn Song Thao lại có sự khác biệt. Khác mà hoá ra chẳng khác, cái mới hay! Chị Hoàng Xuân Sơn gốc Hà Nội trong khi chị Song Thao là gốc Huế. Nói dễ mất lòng là thế này (cho dễ hiểu): Chị Hoàng Xuân Sơn mà trò chuyên với anh Song Thao thì nghe ra cung bậc lên bổng xuống trầm chuẩn mực hỏi ngã rất ư thanh lịch của Bắc kỳ 9 nút. Và anh Hoàng Xuân Sơn đối đáp cùng với chị Song Thao thì mỗi chữ tự động chêm vào dấu nặng (y như tôi vậy, Huệ mợ Huệ mộng. Có đáng ghét không?) Bực cả mình, chẳng mộng lệ an gì sất. Nhà thơ Hoàng Xuân Sơn từng lên giọng, thay tôi, đả phá cách giả giọng Huế của phường ngoại đạo, những hài kịch rẻ tiền, đầy bôi bác. Bác Sơn ta đó chính là Huế chay!

Tôi quan sát ngầm, ngay thời điểm này có bốn vị làm thơ cực kỳ sung mãn: Trần Vấn Lệ, Nguyễn Hàn Chung, Luân Hoán và Hoàng Xuân Sơn. Riêng nhà thơ Huế mềnh thì trải thơ, gửi bài đến hầu hết các diễn đàn văn học trên net. Hơi thơ cá biệt, ý tình đầy ắp. Gần đây, thơ gom chứa chút tự trào, một nụ cười kín đáo, thoạt bắt gặp không khỏi nghe ra lòng xao động. Bỡn cợt nhưng vẫn không bỏ quên chất thơ mộng lay rèm đằng sau con chữ vừa thoát ra. Nếu có ai hỏi tôi câu hóc búa: Thơ là gì? Tôi có ngay câu trả lời: Hãy đọc thơ Hoàng Xuân Sơn. Tôi xin đơn cử một trong muôn vàn bài tôi yêu thích. Bài “Nách”. (Ăn phải món ngon liền ngôn: Ngon nhức nách! Và nách còn có nghĩa là ẵm, bồng, bế, tha: Con nách em đi cho mạ rảnh tay chút nờ!):

 

một lần. tôi xốc nách tôi
tự mình quên đứng nên ngồi thiệt lâu
nách tôi tới chỗ buồn rầu
trước sau vẫn có một câu chuyện tình
nách tôi ra chốn thình lình
nắng mưa mưa nắng dập dình trăng sao
nách tôi về lại xứ nào
cho tôi đứng dậy cúi chào nguyên tôi.
(11. 2018)

 

Hay nhức nách! Bài thơ đã “nách” tôi đi một đỗi khá lâu trong bồng bềnh rù quến. Một bài mới hơn, làm xong ngày 27.01. 2019, cũng thể thơ lục bát, bài “Ơn xuân”. Xin trích đoạn:

…
nhờ em
da lão đâm chồi
ơn nuôi nấng
giữa trần ai bít bùng

đời mình có cái chung chung
cái riêng tư của
mịt mùng tai ương

phía trước xông một con đường
sau lưng
ủ mộng bình thường xác xơ

đời quá bộ
như bài thơ
cùng nhau lượm chữ
dăm tờ rối beng

…

Phải đó là lời than van? Không, chỉ một tiếng thở dài, rất nhẹ, dù lượm chữ dăm tờ rối beng có nơi bài thơ muốn đoạn lìa là một việc làm hết sức nặng nề. Một người gánh đá lên non hay con dã tràng chăm xe cát? Công việc nào nhọc sức hơn? Không biết. Không nên đào xới. Thơ là thứ “không cần thông dịch”. Tôi đọc, thấy trong người có biến chuyển, chỉ ngần ấy thôi là đã đủ để cảm ơn người làm ra bài thơ nọ. Dư dục vô ngôn.

Không cứ là lục bát, thơ bốn chữ, năm chữ, sáu chữ, bảy (bẩy) chữ của anh Huế se duyên cùng chị Bắc (cố đô + thủ đô) cũng mang đủ sự hài hoà giữa da diết hồi ức, van lơn lúc tự hoạ, một trách cứ về lối đi thẳng thớm không dưng bị thế nhân nhộn nhạo ra sức uốn cong, gập ghềnh, đắp mô, xao xác. Hơi hám của thời cuộc tham dự vào, tâm thành thay lời khuyên nhủ lẩn khuất. Và sau hết, lời thơ chuyển tải đã tới đích cuối. Tạm nhặt ra bốn bài, bốn trích đoạn, thay mặt cho bốn, năm, sáu, bẩy:

 

chớ đứng xớ rớ
tuyết phủ cô hồn
gió luồn tim mạch
ạch đụi bàng môn
…
lâu rồi kiệt quệ
còn chi em ơi
còn một chút đời
vo như tờ giấy
ngồi đây quên đấy
còn một dúm tro

miệt mài tra lão
còn chút mày mò
răng cỏ lộn lạo

(trích từ bài “Tháng giá”. 7. 2. 2019)

 

 

đừng xôn xao chữ nghĩa
lúc về sáng, nửa đêm
bạn sẽ là con rối
giữa mộng thực triền miên

chữ mù trong tự điển
héo lánh lên thượng nguồn


không còn ai muốn giở
một chương hồng sách thơm

(trích hai khổ đầu trong bài “Tơ chỉ rối”)

 

Hết bốn, năm, qua tới sáu. Một liếc xéo (nháy mắt) về quê nhà. Bài “Thời vận”:

 

bọn trẻ còn dám “đi bão”
thì mình đằng vân chút chơi
miễn là đừng mê mẩn gió
phượt hết yên ba một thồi.

 

Và thơ 7 chữ, trích ra hai đoạn trong bài “Xướng âm”:

 

âm quá. không cù rủ mặt đường
giữa mùa băng cực níu tai ương
ngón chân tìm một lỗ để thở
cùng tóc râu túa đời tha phương

40 năm xỏ giày mang ủng
không dám. chưa quen cái lạnh tràn
hồn tóp teo dưới tầng áo xống
bận. hay đừng rồi cũng hở hang
…

Người đọc có tinh ý nhìn ra trong thơ thượng dẫn một đôi từ cá biệt của Huế? Xớ rớ. Ạch đụi. Tra lão. Mày mò. Bận áo xống… Tôi không cố tình đâu, tôi chỉ lựa nhặt ra những bài khác thể loại, cùng lúc muốn chứng minh về thời tiết mùa đông khắc nghiệt vây lấy thành phố chúng tôi cư ngụ, lời thơ bày rõ một quang cảnh “mộng bất an”.

Khác nhà thơ Luân Hoán, nhà văn Song Thao. Hai người Huế chúng tôi tuy cái viết ra khá là bộn bề nhưng mãi không gặp duyên lành việc in thành sách. Ạch đụi. Rị mọ. Mãi lần khân ngoài sân mà chưa lần vào trong bếp: “không còn ai muốn giở, một chương hồng sách thơm”? Hoàn cảnh! Hoàn cảnh như câu thơ của Bùi Giáng:

Sáng ra bao tử mơ mòng
Cà phê bên nọ cháo lòng bên ki
a.

Mình sẵn cháo lòng mà lại thiếu cà phê. Mình mãi mơ mòng về cái bất toàn nọ. Rất mực gay cấn đồng thời cũng ngộ tới sự buông bỏ:

“lâu rồi kiệt quệ
còn chi em ơi
còn một chút đời
vo như tờ giấy”.

 

Mặc dù nhịp độ sáng tác luôn đều tay, giàu có thơ, tuy vậy Hoàng Xuân Sơn chỉ mới in ra 4 đầu sách: Viễn Phố (1988) Huế Buồn Chi (1993), Lục Bát Hoàng Xuân Sơn (2004), Thơ Quỳnh (2018). Nhà thơ tâm sự: Bây giờ tự dưng mình đi “làm phiền” bằng hữu thì nghĩ cũng không phải. Hình như có lần chính tôi đã nói ra một câu tương tợ như rứa. Cũng áy náy nếu một hôm trở trời nghe người đó lên giọng hát hỏng: “Anh còn nợ em…”. Tôi có thực hiện loạt bài phỏng vấn các anh chị viết văn làm thơ bốn phương, riêng gặp một người đặc biệt, nhà thơ Bắc Phong. Hỏi: Thấy anh làm thơ có thưa đi? Trả lời: Có lẽ về già, tuổi tác gây ảnh hưởng. Hỏi: Sao anh không in một tập thơ? Trả lời: Tại tôi lười. (Nguồn: Trang Văn Học Nghệ Thuật Phạm Cao Hoàng).

Nếu Bùi Giáng luôn chịu cảnh ngộ “bao tử mơ mòng” thì chúng ta cũng nên thông hiểu “bá nhân bá bao tử”, bụng người này khác bụng người kia. Tôi đã từng mơ mòng nhưng nay tôi tỉnh ngộ, tôi đắc đạo, buông bỏ. Thôi dẫm chân vào sạn đạo, cầm bình bát đi khất thực. Không phải lười, nhưng đã có tuổi, nhìn lui: Mọi thứ là phù vân.

Cảm ơn nhà thơ Hoàng Xuân Sơn:

 

“hồn tóp teo dưới tầng áo xống
bận. hay đừng rồi cũng hở hang”.

 

Montréal sắp vào xuân nhưng giá buốt vẫn một mực không thay đổi. Vẫn đậy đệm áo xống ba lớp, bốn lớp, năm lớp, sáu lớp, bảy lớp. May thay, thơ tứ tuyệt, ngũ ngôn, lục bát, song thất luôn còn đó, lung linh gầy nên đốm lửa làm ấm những giấc mộng không thành, xua đuổi mộng bất an.

 

“Trăm năm một chuyến về thiên cổ
Tuế nguyệt buồn lay chút bụi vàng”.

 

Thơ ai đó? Hình như của Nguyễn Đức Sơn khi bái biệt, tiễn đưa Quách Thoại? Có thể chuyển sang ca từ một bản nhạc: Buồn vào hồn không tên…

Buồn, tốt nhất xin cứ vô danh. Hãy để nó dễ siêu thoát. Chớ bắt chước “con ma nhà họ Hứa” làm chi cho nặng nghiệp. Hừ, Mộng Lệ An!

 

Hồ Đình Nghiêm
Nguồn: Tác giả gửi

 -----

Và trả lời từ nhà thơ Hoàng Xuân Sơn:

 

 

Xin gởi lại quả ôn Nghiêm, một bài viết nhơn ngày Phụ Nữ,

một bài trích từ Văn Chương Việt - 2012 :

 

 

độc đắc thơ

                                 cám ơn hồ chơn nhơn

cấu cào dữ dội

vòi sứt một bên

trầy vi tróc vảy

 

được cái nước bền

là lì lợm đấy

hay dở cứ mần

không thần cũng thánh

chưa là hột cơm

cứ nhằn hạt sạn

 

cơm nóng cơm dẻo

cũng là cơm cháy

đen thủi đen thùi

mặn mà bạch tạng

 

hột chắc hột lép

nếp tẻ mà chi

đừng mắc công toi

tìm tòi phân biệt

nhị nguyên nhất quán

cái kiềng ba chân

mà thơ chỉ một

  

độc độc độc độc

một chắc một mình

mình ên cũng rứa

độc đắc thình lình

 

người bùi đã bảo

ừ vui thôi mà

ừ.  vui thôi . . .

  

hoàng xuân sơn

(mừng ngày) mồng tám tháng ba

bút tre bút nứa chui ra chui vào

 

 Đa tạ!

------------------------- 


hồn nhiên mùa xuân


bộ tịch? đừng. không nên
cứ để nguyên hồn nhiên
con mắt nằm sau gáy
thấy hết cả diện tiền

em ạ. ta là quỷ
già đời. lĩnh xướng. dâm
đầu trơ xương núi sọ
bí chú. đọc lầm thầm

con nít reo ngoài cươi
à! đồng dao tới nơi
vẫn nghe ta đồng nát
tự thuở cạp đất người

biết nói. [không]. chưa đủ
yêu. ở chỗ biết cười
một cành tre bật dậy
trăng trèo lên giếng khơi

bằng hai chân nòng nọc
ồ. không phải. đuôi người
trở về rừng khai hội
khi tình xuân biếng lười

cứ ù thế. giêng hai
ùù. như ù mọi
ta núm được em rồi
cả nụ cuời. tươi rói!
 
hoàng xuân sơn
3. tháng hai. 12

(trích Văn Chương Việt)

 

SOURCE: 
Thư Viện Sáng Tạo: https://sangtao.org/2019/03/08/ach-dui-tra-lao/ 

Có lẽ nhằm mục đích để nhớ lại 40 năm sau cuộc chiến Vietnam-War, và cũng để đánh dấu 20 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao Viêt-Mỹ, Rory Kennedy, nhà đạo diễn cũng là người sản xuất điện ảnh, đã bắt đầu cho trình chiếu cuốn phim “The Last Days In Vietnam” hôm 17-January-2014 trong dịp lễ hội Sundance Film Festival. Phim dài 98 phút do bà thực hiện dựa trên sử liệu phim ảnh về cuộc chiến của Mỹ tại Việt Nam...
Trước thềm Đại hội 13 tình hình thực sự của chế độ XHCN đã được chuyên viên xác nhận chính thức như sau: “..đã xuất hiện ngày càng nhiều “nhóm lợi ích” tiêu cực, đã và đang ảnh hưởng, tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, nhất là ở những ngành, lĩnh vực quan trọng, liên quan trực tiếp đến cuộc sống của các tầng lớp nhân dân, như quản lý đất đai, tài chính - ngân hàng, đầu tư xây dựng cơ bản, khai thác tài nguyên. Thậm chí, “nhóm lợi ích” tiêu cực còn xuất hiện ở một số ngành, lĩnh vực vốn vẫn được coi là tôn nghiêm, liên quan đến an ninh quốc gia, như công tác tổ chức - cán bộ, phòng, chống tội phạm,... Một loạt vụ án tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử trong thời gian gần đây liên quan đến nhiều tổ chức đảng, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo cao cấp cho thấy, “nhóm lợi ích” đã leo cao, luồn sâu vào trong bộ máy Đảng và Nhà nước, đe dọa đến sự tồn vong của Đảng và chế độ.”
Toàn là thần chú và phép lạ cả. Điều mầu nhiệm là tuy chỉ được ăn bánh vẽ nhưng cả nước vẫn không ai kêu đói, và có người còn tấm tắc khen ngon. Mầu nhiệm hơn nữa là một dân tộc dễ chịu (và dễ dậy) tới cỡ đó mà vẫn sống sót được mãi cho đến đầu thế kỷ này.
Năm 2013, khi Tập Cận Bình nắm giữ hai chức vụ cao nhất trong đảng và chính quyền, với tham vọng lớn lao khi vạch ra cái bẫy “Nhất Đới Nhất Lộ”, nhằm thôn tính, quy về một mối từ kinh tế lẫn chính trị. Trung Quốc bỏ ra hàng nghìn tỷ Mỹ kim để ve vản, hối lộ quan chức thẩm quyền của các nước đồng lõa ký kết những dự án xây dựng. Bị sa vào bẫy nợ bao nhiêu, bị lệ thuộc vào Trung Cộng bấy nhiêu, từ thuê mướn trở thành đặc khu (lãnh địa của Trung Quốc) với 99 năm.
Vấn đề kỳ thị chủng tộc là chuyện rất bình thường ở đâu cũng có hết. Là người Việt sống tại hải ngoại chúng ta cũng không thể thoát ra khỏi vấn đề nầy. Tuy nhiên sự kỳ thị có ảnh hưởng nhiều hay ít đến nạn nhân hay không cũng còn tùy thuộc một phần lớn vào thái độ và cách suy nghĩ của mỗi người.
Vài năm vừa qua, giới quan sát quốc tế và quốc nội Hoa Kỳ đều nhận ra một điều là chính sách của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc ngày nay có xu hướng thiên về mặt cứng rắn hơn. Hầu hết các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ đều có một ý nghĩ chung là phải áp dụng một chính sách mới hầu giảm thiểu hoặc chí ít hạn chế tính cách hung hăng càng ngày càng trở nên rõ rệt của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) dưới quyền lãnh đạo của lãnh tụ tối cao, Chủ tịch nhà nước kiêm Tổng Bí thư Tập Cận Bình. Tình trạng căng thẳng giữa hai siêu cường, cộng thêm áp lực do trận đại dịch Covid-19 và kinh tế suy thoái, rất có thể sẽ khiến cái bề mặt tưởng chắc chắn như tường đồng vách sắt của Tập và Bắc Kinh có cơ rạn nứt.
Nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày 30 tháng 4 năm 1975, kết thúc chiến tranh Việt Nam và bắt đầu cuộc di cư tị nạn Việt Nam, tôi muốn chia sẻ một vài lời về sự kiên cường của chúng ta là người Mỹ gốc Việt, là người tị nạn và con cháu của người tị nạn. Cảm giác thế nào khi nền tảng của thế giới chúng ta đang sống bị rung chuyển đến mức chúng ta không còn biết mình đang đứng ở đâu hay làm thế nào để tiến về phía trước? Trước năm 2020, trước đại dịch COVID-19, chỉ những người đã chịu những bi kịch lớn mới có thể trả lời câu hỏi này. Bây giờ tất cả chúng ta đang sống với nó.
Nhưng vấn đề không đơn giản như họ nghĩ để buộc người miền Nam phải làm theo vì không còn lựa chọn nào khác. Trong 45 năm qua, ai cũng biết nhà nước CSVN đã đối xử kỳ thị và bất xứng với nhân dân miền Nam trên nhiều lĩnh vực. Từ công ăn việc làm đến bảo vệ sức khỏe, di trú và giáo dục, lý lịch cá nhân của người miền Nam đã bị “phanh thây xẻ thịt” đến 3 đời (Ông bà, cha mẹ, anh em) để moi xét, hạch hỏi và làm tiền.
Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.