Hôm nay,  

Tạ Từ Lý Tống

07/04/201905:49:00(Xem: 11647)

Tạ Từ Lý Tống
 

Nguyễn Quang Duy
 

Lý Tống với cuộc hành trình tìm tự do dài 31 tháng, 5 lần vượt ngục, qua 5 quốc gia, vượt 3.500 cây số đường bộ và bơi qua eo biển Johor Strait, vào thẳng Tòa Đại Sứ Mỹ tại Singapore xin tỵ nạn cộng sản.

Lý Tống với 2 lần về Sài Gòn và 1 lần sang La Habana, Cuba rải truyền đơn kêu gọi dân chúng đứng lên lật đổ cộng sản.

Tôi gặp Lý Tống, khi anh sang Úc tạ ơn đồng bào vận động tự do cho anh vào năm 1999. Với dáng người cao lớn, mái tóc dài cuộn sau gáy, đẹp trai, hiền lành, lời nói nhỏ nhẹ, thuyết phục và đầy ắp lý tưởng tự do.

Tôi thường xuyên nhận email anh gởi tới. Email cuối cùng chỉ cách đây vài tuần. Rồi tin anh hấp hối và hoàn tất phi vụ cuối cùng.

Ngày 05/4/1975, máy bay A-37 của Lý Tống bị hỏa tiễn tầm nhiệt SA-7 của cộng sản bắn vỡ, anh nhảy dù và bị bắt gần Thị Xã Cam Ranh.

Ngày 05/4/2019, đúng 44 năm sau, Lý Tống hoàn tất phi vụ cuối cùng tại bệnh viện Sharp Memorial Hospital, San Diego.

Cả hai xảy ra trong tháng Tư Đen, tháng miền Nam tự do lọt vào tay cộng sản.

 

Gia đình “Cách Mạng Chân Chính”

Theo Hồi Ký của Lý Tống, cha anh là Lê Văn Tấn, một đại điền chủ giàu nhất nhì Quận Hương Thủy, Thừa Thiên.

Trong thời kháng Pháp ông được bầu làm Chủ Tịch Ủy Ban Kháng Chiến Chống Pháp bị thực dân bắt và chặt đầu.

Anh của Lý Tống là ông Lê Văn Quỳ, khi ấy đang bị Pháp cầm tù, nghe tin Cha bị Pháp chặt đầu vượt ngục vào bưng sau tập kết ra Bắc.

Năm 1992, trước tòa án, chánh án tuyên bố Lý Tống có cha tham gia cách mạng chống Pháp hy sinh, có anh tham gia cách mạng, là cán bộ cao cấp của nhà nước nên tòa án không xử tội rải truyền đơn mà chỉ xử tội không tặc.

Lý Tống trả lời: “Gia đình tôi không phải là gia đình “Cách Mạng” mà là gia đình “Cách Mạng Chân Chính.”

“Cha tôi chống Pháp và bị Pháp giết; anh tôi yêu nước nhưng lầm đường nên chống Mỹ; đại đa số gia đình tôi chống cộng và bị cộng sản đánh giá cực kỳ ngoan cố, cực kỳ phản động.

“Nếu đứng trước phiên tòa này tôi không giữ được nhân cách và danh dự cuả mình thì sau này con cháu tôi cũng sẽ chống lại tôi!”

Ông Lê Văn Quỳ là nhà giáo Chủ nhiệm Khoa Văn Trường Đại học Vạn Hạnh. Ông Quỳ nhiều lần vào trại cải tạo thăm Lý Tống nhưng chỉ 1 lần được gặp.

Năm 1992, khi Lý Tống về Sài Gòn thả truyền đơn lần thứ 1, ông Quỳ bị “hạ tầng công tác” và bị tước bỏ tất cả quyền lợi gắn liền 50 tuổi đảng.

Khi Lý Tống thả truyền đơn Sài Gòn lần thứ 2, ông Qùy bị công an phường kêu lên làm việc, sau 3 giờ “thẩm vấn” vợ ông được báo lên phường “đem xác chồng về!”.

Chiến đấu chống Pháp giành tự do là cuộc chiến đấu của toàn dân, đảng Cộng sản cướp công, tước quyền tự do của dân tộc và từng bước đưa đất nước vào quỹ đạo cộng sản.

Chiến đấu chống cộng là chiến đấu cho tự do vì thế trước tòa án Lý Tống tuyên bố thuộc gia đình “Cách Mạng Chân Chính” chống cộng.

Trước tòa án anh còn tuyên bố là công dân Việt Nam Cộng Hòa và công dân Hoa Kỳ, chưa từng xin công dân cộng sản.

 

Người tù chân đất

Theo Hồi Ký của ông Phạm Văn Lương K20, một lần, ở tổng trại 4, Tuy Hòa, Lý Tống chui dưới bụng chiếc xe tải vượt trại. Xe chạy ngược lên Ban Mê Thuột anh bị bắt, bị giải giao về trại. Quản chế trại bắt anh quì, anh không quỳ, còn banh ngực ra và nói: “các anh muốn bắn, cứ bắn, tôi không quì”.

Khi lên tổng trại 5 tại Sơn Hòa, Lý Tống không chịu học tập, chống đối, bị cùm và biệt giam. Một hôm, khoảng 5 giờ sáng, hai trại 5 và 4, ai cũng nghe rất rõ Lý Tống liên tục kêu cứu: ”các anh em ơi, tụi Việt cộng muốn giết tôi”.

Trời còn tối, hai cảnh vệ, tới mở cùm và nói: “anh Tống, trại tha anh rồi, ra khỏi nhà cùm theo tụi tôi về với anh em cải tạo viên”.

Lý Tống biết cảnh vệ dụ anh ra khỏi nhà cùm là bắn, rồi đổ tội anh trốn trại và bắn bỏ. Lý Tống nói: “các anh thả tôi, chờ trời sáng, trại viên ngủ dậy, mọi người đều biết, tôi sẽ theo ra, còn bây giờ, tôi không ra khỏi nhà cùm lúc này”.

Nói xong, Lý Tống la lớn, bị cảnh vệ dùng báng súng đánh, anh vẫn không ra lại còn la lớn hơn.

Lý Tống nổi danh với câu nói: “Con gì nhúc nhích là ăn hết”, cóc nhái, ễnh ương, rắn rít mà gặp anh, coi như xong, anh lột da cóc, giã thịt cho thật nát, cho chút muối, nướng ăn ngon lành. Nhờ thế anh sống sót, nhiều phi công to con bị thiếu ăn chết trong tù cộng sản.

Lý Tống có một đặc điểm là chỉ đi chân đất, đôi dép quàng trên cổ tòn ten. Có ai hỏi anh trả lời gọn “Da chân mòn thì còn mọc da khác, dép mòn ai phát dép mới để đi“.

Theo ông Lê văn Nhuận anh của Lý Tống đôi dép được một cô gái gởi tặng.

Thân phụ của cô cũng là sỹ quan bị tù tại Trại A30. Cô thăm nuôi cha, để ý thấy Lý Tống lần nào cũng đi chân đất, bèn gửi tặng anh một đôi dép cao su. Anh nhận nhưng buộc dây đeo trên vai, còn chân vẫn đi đất.

 

Hành trình tìm tự do…

Theo Anthony Paul, Tạp Chí Reader’s Digest 06/1984, ngày 12/07/1980, Lý Tống bắt đầu tiến hành vượt ngục.

Anh cặm cụi dùng 1 cây đinh, cạy lỏng thanh sắt ở cửa sổ cầu tiêu của Trại tù A30, chui ra, bò ngang qua sân nhà tù, dùng một cái kéo cắt đứt 2 hàng rào kẽm gai, rồi đi bộ suốt đêm đến thành phố Tuy Hoà.

Anh được một người bạn cho tiền để đón xe đò đi Nha Trang. Người lơ xe, trông thấy bộ dạng của Lý Tống, hỏi:

“Anh trốn trại A30 phải không ? Rắc rồi to rồi. Trạm kiểm soát ở trước mặt. Thôi đi xuống đi, lẫn vào đám đông đi bộ qua trạm gác, họ ít khi soát giấy người đi bộ. Tôi sẽ đợi anh ở phía bên kia trạm gác.”

Tới Nha Trang, Lý Tống liên lạc được với một bạn gái cho quần áo, tiền, và vé xe lửa đi Sài Gòn. Người bạn gái này đã tặng anh đôi dép nói đến bên trên.

Về Sài Gòn, Lý Tống lẻn vào phi trường Tân Sơn Nhất nhưng các máy bay đều không sử dụng được anh phải tìm cách vượt biên bằng đường bộ.

Anh sang Campuchia, 2 lần bị bắt và trốn thoát được. Anh đi đến tới tỉnh Sisophon tìm cách vượt biên sang Thái. Thời chiến tranh biên giới đầy những bãi mìn phải đi ban đêm anh chỉ biết cầu ơn trên được vượt thoát.

Anh đến Thái bị giam ở nhà tù Aranyaprathet 10 tháng, lại vượt ngục tìm cách vượt biên sang Mã Lai rồi bơi qua eo biển Johore sang Singapore đến tòa Đại Sứ Mỹ xin tị nạn.

Ngày 10/02/1983, sau 31 tháng, Lý Tống vượt qua 3.500 cây số vừa đường bộ vừa đường biển, qua 5 quốc gia và 5 lần vượt ngục đã tìm thấy tự do.

“Cuộc Hành Trình Tìm Tự Do” của Lý Tống đã được viết thành Hồi Ký “Ó Đen” tại đâyhttps://drive.google.com/file/d/0By7sZs271DCEOElXOE9Ta1NSdE0/view?pref=2&pli=1

 

Phi vụ Sài Gòn 1

Sang Mỹ, Lý Tống đi học lại, khi đang trình luận án Tiến Sỹ về chính trị ngành Bang Giao Quốc Tế thì Khối Cộng sản Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, anh chọn đường về nước đấu tranh.

Năm 1992, trên chuyến bay về lại Việt Nam, anh uy hiếp phi công A310 của hãng Vietnam Airlines bay trên Sài Gòn thả 50.000 truyền đơn kêu gọi đồng bào nổi dậy giành lại tự do. Anh nhảy dù khỏi phi cơ xuống một đầm lầy, bị bắt và bị kết án 20 năm tù.

Lúc này, Hà Nội còn bưng bít thông tin nhưng việc phi công Lý Tống làm đều được các hãng truyền thông như BBC, VOA,… loan tải và phiên tòa xử anh được báo chí trong nước đưa tin rộng rãi.

Tháng 9/1998, nhà cầm quyền Hà Nội trả tự do và trục xuất Lý Tống về lại Hoa Kỳ.

 

Phi vụ La Habana

Nhân Quốc Khánh thứ 41 của Cuba, ngày 1/1/2000, Lý Tống mướn một máy bay nhỏ bay từ Florida sang thủ đô La Habana, thả 50.000 tờ truyền đơn kêu gọi nhân dân Cuba nổi dậy lật đổ cộng sản.

Về lại Hoa Kỳ, anh bị Cục Di cư và Hải quan Hoa Kỳ thẩm vấn được trắng án nhưng bị Cục hàng không Liên bang rút giấy phép bay.

Anh được cộng đồng Cuba tự do coi là anh hùng chống cộng toàn cầu.

 

Phi vụ Sài Gòn 2

Ngày 16/11/2000, một ngày trước khi Tổng Thống Bill Clinton thăm Việt Nam, Lý Tống mướn 1 phi cơ nhỏ bay vòng vòng trên Sài Gòn thả 50.000 tờ truyền đơn rồi từ từ bay về lại Thái.

Tờ truyền đơn một mặt là lá cờ Việt Nam Cộng Hòa mặt kia là lời kêu gọi Biểu Tình Đòi Tự Do nhân dịp Tổng Thống Hoa Kỳ ghé thăm Việt Nam.

Về lại Thái Lan anh bị bắt và bị nhà cầm quyền Hà Nội đòi dẫn độ về Việt Nam.

Sau hơn 6 năm bị giam cầm, ngày 03/04/2007 Toà Chung Thẩm Thái ra phán quyết công nhận hành động của Lý Tống là một hành động chính trị và trả tự do cho anh.

Năm 2008 Lý Tống còn lên kế hoạch từ Nam Hàn bay sang Bắc Kinh, nhân dịp Thế Vận Hội 2008 rải truyền đơn nhưng không thành.

 

Gây tranh cãi…

Ngày 19/7/2010, Lý Tống gây tranh cãi khi mặc váy đóng giả nữ, lọt vào một buổi biểu diễn ca nhạc, giả vờ tặng hoa rồi liên tiếp xịt hơi cay vào mặt Đàm Vĩnh Hưng. Anh bị xử 6 tháng tù và 3 năm quản chế.

Ngày 22/1/2016, được truyền hình PhoBolsaTV phỏng vấn, Lý Tống cho biết rất “ân hận” việc này, cuộc chiến chống nghị quyết 36 khó khăn hơn, nếu làm thì phải làm có kết quả rõ ràng không thể để đồng bào hoang mang tranh cãi.

 

Hổ trợ Phong Trào Dân Chủ Việt Nam

Hôm nay 8/4/2019, cũng là ngày kỷ niệm 13 năm thành lập Khối 8406. Tôi trước đây có trong Ban Cố Vấn Khối nên biết rất rõ Lý Tống là người tích cực ủng hộ Khối 8406 và các Phong trào đấu tranh Quốc Nội.

Là cựu tù nhân chính trị, Lý Tống hiểu rõ tình trạng của tù nhân cộng sản nên anh luôn tìm cách giúp đỡ cả tài chánh lẫn tinh thần những người đang đấu tranh.

 

Tạ từ Lý Tống

30/4/1975 thua cuộc nhưng Lý Tống và chiến hữu trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không hề bỏ cuộc.

Lý Tống là phi công cuối cùng của Quân Sử Việt Nam Cộng Hòa, anh dũng, kiêu hùng, bất khuất.

Anh hoàn tất phi vụ cuối cùng 5/4/2019, hoàn thành nhiệm vụ Tổ Quốc Không Gian, giữ trọn lời thề Tổ Quốc, Danh Dự và Trách Nhiệm.

Cuộc đời Lý Tống nói lên khát vọng tự do của người Việt Nam.

Lý Tống sẽ được đưa về an táng tại Little Saigon, Nam California vào ngày 20 và 21/4/2019 sắp tới. Được biết tỷ phú Hoàng Kiều đã ngỏ lời tặng miếng đất cho anh: “Chúng ta phải kiếm một miếng đất đẹp và rộng cho anh Tống vì anh xứng đáng được như vậy.”

Tạ từ Anh.

Bên Anh luôn có tôi, có chiến hữu, có đồng bào ngày đêm chiến đấu cho Việt Nam Tự Do.
 

Nguyễn Quang Duy

Melbourne, Úc Đại Lợi

8/4/2019



“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.