Hôm nay,  

Quán Âm Bán Cá

12/04/201917:45:00(Xem: 9472)

QUÁN ÂM BÁN CÁ

Phan Minh Hành

 

blank

Nguồn: Internet

 

     Vào đời nhà Đường bên Tàu trong một thôn làng phần đông thanh niên trai tráng thường tụ tập cờ bạc rượu chè, phá làng phá xóm và nhất là hay chọc ghẹo phụ nữ. Còn số ít là những sĩ tử ham học, tối ngày mài dũa kinh sử đợi chờ ngày thi cữ trúng tuyển ra làm quan, "Trai thời đọc sách ngâm nga, Dùi mài kinh sử  đại khoa đón chờ". Một ngày nọ cả thôn xóm, hàng quán, chợ búa, khắp nơi xôn xao về sự xuất hiện của một cô gái khoảng tuổi tròn 18 mộng mơ ở ngoài chợ. Không ai biết lai lịch của cô gái nầy, chỉ thấy mỗi sáng sớm cô gái xinh tươi như một tiên nữ ôm chậu cá ra chợ ngồi bán. Điều khá ngộ nghĩnh nơi cô bán cá duyên dáng và dễ thương nầy là ở trước ngực mang một miếng vải viết hai hàng chữ ngắn gọn:

          - Mua cá phải phóng sanh.

          - Không phóng sanh không bán.

     Khi được hỏi lý do tại sao phải phóng sanh cá, bằng nụ cười nhân ái trên môi cô gái lễ độ đáp rằng lời dạy của Đức Thế Tôn vẫn luôn văng vẳng bên tai ".. đến một cọng cỏ không được lấy, đến một con kiến không được giết..". Rồi khi được vặn hỏi thêm tại sao không được giết đến một con kiến nhỏ bé, cô gái bán cá vẫn nhỏ nhẹ viện dẫn lời Đức Khổng Tử đã dạy: "Văn kỳ thanh bất nhẫn kiến kỳ thực, kiến kỳ sanh bất nhẫn kiến kỳ tử". (Nghe tiếng kêu la của con vật, không nỡ ăn thịt nó; thấy nó sống không đành thấy nó chết). Nhưng đối với trai tráng trong làng việc mua cá để phóng sanh là việc dễ dàng thực hiện, chứ việc làm thế nào chinh phục trái tim người đẹp mới là việc khó khăn.

Bởi vì cô gái bán cá là cục nam châm thú hút đám trai trẻ đến nhìn ngắm, thả lời ong bướm ghẹo nguyệt trêu hoa; là đề tài hấp dẫn đánh động đám văn nhân tài tử nhả ngọc phun châu làm thơ tặng người đẹp; và cũng là một trinh nữ thơm ngát để các bà mai bà mối nói lời hương thơm mật ngọt, hứa hẹn bắt nhịp cầu duyên đến các quan quân. Nhan sắc đẹp xinh ngất trời của cô gái bán cá lan tỏa sang các làng thôn bên cạnh, khiến nức lòng trái tim của hàng nam giới mơ ước kết tóc se duyên với nàng bán cá. Trước sự ngưỡng mộ và thương yêu của các trai trẻ trong làng, cô gái bán cá dịu dàng nói: 

          " Thân em chỉ có một mình, làm sao thỏa mãn mơ ước của tất cả chàng trai? Thôi thì em sẽ trao thân nầy cho ai thực hiện đúng theo điều kiện của em".

     Mọi người đồng nhao nhao hỏi:

          " Điều kiện gì, mong em hãy nói mau?"

     Cô gái bán cá lễ phép trả lời:

          "Trong bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa chương thứ 25 là Phẩm Phổ Môn. Người nào học thuộc Phẩm Phổ Môn chỉ trong 1 ngày ngày, em sẽ sánh duyên với người đó."

     Mấy ngày sau kết quả có 10 nam tử học thuộc Phẩm Phổ Môn trong vòng 1 ngày đúng như điều kiện của cô gái đưa ra.  Nhưng cô gái bán cá ngậm ngùi thở than:

          "Thân gái đơn côi nầy làm sao chia sẻ cho 10 người vừa đáp đúng câu hỏi ban đầu. Thôi thì em buộc lòng đưa ra điều kiện thứ hai".

    Mười người thỏa đáng điều kiện thứ nhất đồng thanh hỏi:

          "Điều kiện thứ hai là gì, mong nàng hãy nói mau?"

          "Người nào học thuộc kinh Kim Cang trong vòng 3 ngày, thân em sẽ thuộc về người đó."

     Vài ngày sau kết quả có 3 người học thuộc lòng kinh Kim Cang chỉ trong 3 ngày. Lần nữa cô gái bán cá ôm đầu suy tư rồi từ tốn nói:

          "Trong ba người xuất chúng thông minh nầy, thân em biết trao về ai đây? Thôi thì em bất đắc dĩ phải đề ra điều kiện thứ ba vậy".

     Ba người có trí nhớ tốt đó tự tin hỏi:

          "Điều kiện thứ ba là gì, mong nàng hãy nói mau?"

          "Trong Phật giáo Đại thừa có bộ kinh được xem là vua của các kinh, đó là bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Người nào học thuộc kinh Pháp Hoa trong vòng 7 ngày, em nhất định sẽ kết thành phu phụ với người đó."

     Theo Hòa Thượng Tuyên Hóa phải mất đến 6 tháng mới có thể học thuộc lòng 554 câu thần chú Thủ Lăng Nghiêm, nên mọi người đều nghĩ rằng không ai có thể đáp ứng được điều kiện thứ ba của cô gái. Nhưng rồi chỉ có một người độc nhất với trí huệ sáng ngời đã học thuộc kinh Pháp Hoa trong một thời gian ngắn ngủi 7 ngày, đúng như điều kiện cô gái đòi hỏi và do đó trở thành phu quân của cô gái bán cá với sắc đẹp như tiên nữ trên trời.

     Theo tục lệ ngày xưa ở Trung Hoa, trong phòng hoa chúc của chú rể và cô dâu phải có cặp hoa nến được thắp sáng (nên được gọi là hoa chúc), và giữ làm sao cho cặp nến nầy cháy sáng song hành hay tàn lụi với nhau cùng một lúc, nhằm mong mỏi cặp vợ chồng mới cưới sống trăm năm hạnh phúc, chứ không sống trong cảnh người chết trước kẻ chết sau. Nhưng trong đêm động phòng phòng hoa chúc của cô dâu và chàng rể, một cây nến tắt ngủm bao giờ không ai thấy. Trước giờ động phòng cô dâu hoan hỉ hỏi chàng rể:

          " Chàng có thể nói em nghe chàng có bí quyết gì, hay phương cách gì giúp chàng học thuộc lòng bộ kinh Pháp Hoa chỉ trong 7 ngày được không?"

          " Nàng ơi, đó là bấy lâu nay hằng đêm anh thường chuyên thọ trì tụng niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, khiến trí huệ anh tăng trưởng và cầu gì được nấy. Nhờ nàng anh đã có duyên lành to lớn học thuộc lòng kinh Pháp Hoa và kinh Kim Cang, nên anh nguyện sau nầy anh sẽ làm bất cứ việc gì nàng muốn."

    Khi nghe chàng rể nói như thế, cô dâu vui mừng khôn xiết  nên liền nhờ chú rể giúp thực hiện điều tâm nguyện ấp ủ bấy lâu nay:

          " Chàng có nhận thấy không, trong làng nầy chùa thì ít, kỹ viện lại nhiều, hàng quán thì đông, trường học lại vắng, nên quá ít người hiểu đạo, giữ năm giới, tất sinh ra nhiều tệ trạng xấu xa và sa đọa."

          " Anh đồng ý với nàng, bởi thế trai trẻ trong làng nầy sớm ngày cờ bạc, rượu chè, hút sách, mê chốn lầu xanh quá nhiều.

          " Vì vậy em xin chàng hãy nhớ làm giùm em, cố gắng khuyên nhủ mọi người, nhà nhà, trai gái trong làng hãy hằng đêm lễ bái và tụng niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, đặng nhờ oai lực của Quán Thế Âm Bồ Tát sao cho trai thì không rượu chè, cờ bạc, hút sách ma túy, gái thì trao dồi đức hạnh, chăm sóc gia đình."

          " Anh xin hứa với nàng anh sẽ hết lòng gắng sức thực hiện điều tâm nguyện của nàng. Anh sẽ nói với mẹ cha bỏ tiền xây chùa, độ tăng, in kinh, cúng dường tam bảo cùng bố thí kẻ tàn tật nghèo khó. Và anh sẽ cố gắng nghiêm trì giới luật, học hỏi kinh điển, trao dồi trí tuệ đặng quảng bá đạo pháp đến khắp mọi nơi"

      Cô gái bán cá vui sướng vô ngần khi nhận thấy nàng rất may mắn chọn được một người hôn phối có tâm tư quá gần gũi với đạo pháp như nàng. Cô dâu nhìn chú rể bằng ánh mắt kính trọng, thương yêu và nói:

          " Bây giờ xin chàng chiều lòng em một điều cuối nầy thôi."

          " Anh rất vui làm những điều em muốn."

          " Em vào phòng buông mùng nằm nghỉ trước. Ở ngoài nầy em muốn chàng đọc tụng kinh Phổ Môn cho em nghe. Sau khi tụng xong chàng vào phòng với em, chàng nhé."

     Chờ cô gái đi vào buông mùng, chàng rể liền ngồi xuống kiết già và tụng…. Phật bảo Bồ tát Vô Tận Ý "Này Thiện nam tử! Nếu có vô lượng muôn ức chúng sanh đương chịu các khổ não, nghe đến danh hiệu Bồ tát Quán Thế Âm, thiết tha xưng niệm, tức thời Bồ tát Quán Thế Âm quán triệt âm thanh đó, khiến cho họ đều được giải thoát."

          Khi chàng rể tụng xong chương thứ 25 Phẩm Phổ Môn trong kinh Pháp Hoa, chàng bước ra đi đóng tất cả cửa trong nhà, rồi bước vào phòng ngủ. Dưới một ngọn nến lung linh mờ ảo, chàng rể nhìn thấy cô dâu trong bộ y phục ngày cưới màu đỏ chưa thay, nằm thư thái trên giường, ánh mắt khép lại và khuôn mặt toát ra niềm mãn nguyện, hạnh phúc. Cũng trong bộ y phục ngày cưới màu đỏ chưa thay, chàng rể đến bên giường, lòng hoan hỉ cầm tay cô dâu. Bỗng chợt nhận ra bàn tay cô dâu lạnh toát, tim ngưng đập và hơi thở không còn! Chàng rể uất nghẹn, gục đầu trên người cô dâu, bậc lên tiếng nấc nghẹn ngào:  

                   Tưởng đời như mơ

                   Nhưng ai nào ngờ

                   Hôm nay đại hỉ

                   Ngày mai đại tang!

    

      Nắng đã lên cao nhưng mây xanh vẫn còn bao phủ bầu trời, gió thổi vi vu trong nghĩa trang, chàng rể cùng các thân nhân và họ hàng đang lấp đất đầy ngôi mộ cô gái bán cá. Đôi mắt chàng rể nhuốm lệ và đỏ hoe, quỳ trước quan tài cô dâu, hai bàn tay bốc từng nấm đất bỏ lên quan tài. Bỗng đâu xuất hiện một lão tăng già mặc áo tràng nâu, chống gậy đi đến nói với chàng rể hãy đừng làm một việc vô nghĩa nầy nữa. Ngước mắt nhìn lão tăng chàng rể nghẹn ngào hỏi:

          " Tại sao vậy thưa cụ?"

          " Chẳng có ai nằm trong quan tài hết."

     Không để chàng rể hỏi tiếp, lão tăng chậm rãi nói rằng bởi vì cô gái bán cá chính là Bồ Tát Quán Thế Âm thị hiện, nhằm giáo hóa và cứu độ trai tráng trong làng thoát khỏi bờ mê của ngũ dục. Vừa nghe qua chàng rể và mọi người chung quanh đều rợn người kinh hãi, tưởng chừng như sóng biển vang ầm, như sấm nổ bên tai. Rồi như một phản xạ tự nhiên chàng rể cào đất ra khỏi mộ và mở nắp quan tài. Quan tài trống rỗng, không thấy xác thân cô gái bán cá nằm trong đó! Chàng rể sững sờ, chết lặng hồi lâu, rồi quay mặt định nói vài lời với lão tăng, nhưng mọi người không thấy lão tăng đâu cả.

    Sau nầy chành rể nhớ lại cô gái bán cá đã lôi cuốn các chàng trai trong làng bằng sắc đẹp mỹ miều, duyên dáng và bằng đức hạnh hiền hòa, đoan trang. Rồi sau đó cấy vào họ những chủng tử thiện lành qua các bộ kinh đại thừa Phât giáo, rất phù hợp với lời kinh Duy Ma Cật Sở Thuyết, quyển trung, phẩm thứ tám:" Trước là dùng dục để lôi kéo, sau khiến nhập Phật tri kiến" (Tiên dĩ dục câu khiên, hậu linh nhập Phật trí ). Chàng rể cũng hồi tưởng lại những lời tâm nguyện của cô gái bán cá, nên chàng hoàn toàn tin tưởng rằng cô gái bán cá và cả vị lão tăng, chính là Bồ Tát Quán Thế Âm thị hiện. Chính Đức Thế Tôn đã nói trong phẩm Phổ Môn rằng Bồ Tát Quán Thế Âm đã thị hiện rất nhiều thân khác, từ thị hiện thân Phật, Thanh Văn..v..v.. cho đến thân cư sĩ, trưởng giả, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, đồng nam đồng nữ nói pháp, với mục đích hóa độ chúng sanh thoát khỏi bờ mê đến bờ giác ngộ. Sau nầy nhờ vào hình ảnh và câu chuyện Quán Âm Bán Cá, dân trong làng đã buông bỏ rất nhiều sự tham đắm ngũ dục (tiền tài, danh vọng, sắc dục, ăn uống, ngủ nghỉ), thay vào đó họ siêng năng thăm viếng chùa chiền cùng tinh tấn tu học kinh điển Phật giáo. Vì thế Phật giáo đời nhà Đường được xem là hưng thịnh nhất ở Trung Hoa, mà công lao của bà Hoàng Đế Võ Tắc Thiên không phải là nhỏ. Ngày nay hầu hết các phật tử đều thuộc lòng 4 câu "Khai Kinh Kệ" của bà Hoàng Đế Võ Tắc Thiên sáng tác:
 

          Phật pháp rộng sâu rất nhiệm mầu
          Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu
          Con nay nghe được chuyên trì tụng
          Nguyện rõ Như Lai nghĩa nhiệm mầu

 

Ngày 10 tháng 4, 2019

Phan Minh Hành

 

“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.