Hôm nay,  

Triết lý về ăn!

04/05/201920:30:00(Xem: 6583)

Triết lý về ăn! 

 

Đoàn Xuân Thu  

 

 

 “Ăn để mà sống! Chớ sống không phải để mà ăn!” Người viết xin cực kỳ phản đối cái ý kiến kham khổ, khắc kỷ nầy. Nói như vậy mấy cái nhà hàng nó dẹp tiệm hết hay sao?

 

Giữa ăn thường thường với ăn ngon thì tui đâu có ‘khờ’ mà hổng chịu ăn ngon chớ?! Ăn là một nghệ thuật, là một trong tứ khoái… mà lại đứng đầu nữa thì khỏi bàn tới bàn lui bàn xuôi bàn ngược gì hết ráo cũng đủ biết nó quan trọng đến dường nào! Còn thu ăn măng trúc; đông ăn giá… thì kệ mấy ổng!

 

Phàm viết báo là đề tài phải giống như đồ ăn mới được. Nghĩa là phải mới, phải lạ, phải nóng và phải ngon! Báo Xuân năm nào cũng thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ là xưa rồi. Nên tui xin nói về chuyện ăn của hoàng đế Tàu hồi xưa kia là chuyện cơ mật trong cung đình, chuyện bí mật quốc gia không được phép tiết lộ ra ngoài.

 

Tại sao phải giữ bí mật? Vì để dân dã đang đói xanh râu, rã ruột mà nó biết được nó thèm thì tội nghiệp cho Trẫm lắm! Nó quậy là ngai vàng của Trẫm sẽ rung rinh gẫy (mẹ) nó một chưn là Trẫm té!!

 

Hoàng đế Tàu ăn là phải có: sắc, hương, vị, lượng. Vua xực phàn không được quyền nói xực mà phải nói là ngự thiện?! Mỗi bữa ăn của hoàng đế xoàng xoàng chỉ khoảng 40 món thôi. Làm từ gà, vịt, lợn, cá và rau củ mùa nào thức nấy mới ngon! Gạo vua xơi giã từ loại lúa đặc biệt, gọi là gạo tiến vua. Ngoài ra, vua còn xực luôn các loại nai, đuôi hươu, gân hươu, tay gấu, heo rừng, xương hổ, yến sào, vi cá, hải sâm…Con gì dưới đất, trên trời, trong rừng, ngoài biển, vua giành, xực ráo! Ăn ròng rã năm nầy qua năm nọ thì thử hỏi đất nước Trung Hoa không tàn mạt sao được?!

 

Dù ăn tùm lum tà la do mấy thằng khùng xúi bậy nhưng vua sợ chết lắm nha, (giống tui, tui cũng vậy!), nên một món dù ‘quan bếp’ nấu ngon chí tử, vua cũng ‘quằm’ không quá ba muỗng. Nấu ăn, phạm sơ suất nhỏ như đồ vua kiêng vì dị ứng, như đậu phộng chẳng hạn mà cứ nấu dâng; để tối vua gãi trầy da tróc vảy là bị đưa mông ra cho lính quánh 100 trượng! Quánh kiểu nầy là chết (cha) ‘quan’ đầu bếp?!

 

***

 

Từ cái triết lý về ăn mình rút ra cái kết luận là: Lãnh đạo ăn ít; thì dân ăn nhiều. Mà lãnh đạo ăn nhiều là dân ăn cỏ như nước Bắc Triều Tiên của Kim Chính Ân chẳng hạn. Còn vua ăn bạo và quan ăn hỗn luôn thì trước sau gì cũng loạn lạc.

 

Chính vì biết vậy nên Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình phải xếp hàng mua bánh bao tại một quán ‘Qingfeng’ nổi tiếng ở Bắc Kinh móc túi mình ra, mua bánh bao, một đĩa rau và lòng heo xào để ăn trưa tốn hết 21 nhân dân tệ (3.5 USD).

 

Báo chí nhà nước Tàu đánh phèng la ỏm tỏi mà rằng: dân Tàu ngạc nhiên há hốc mồm ra, nhìn lom lom rồi khoái! Vì xưa giờ đâu có thằng cha tai to mặt lớn nào mà làm như vậy đâu! Tuy nhiên cũng có mấy chú Tào Tháo đa nghi nói: Tập Cận Bình diễn tuồng!  Một số khác cho rằng Tập Cận Bình bắt chước thằng đế quốc Mỹ cỡ Phó Tổng thống trong chuyến viếng thăm Trung Quốc mới đây chỉ ăn trưa chỉ hết 109 nhân dân tệ (17.5 USD) . Mấy Chú Ba phán thằng đế quốc Mỹ nầy kịch nhưng  các quan chức Trung Quốc nên xem đây là một bài học. Họ bỏ tiền túi ra; trong khi các quan chức Trung Quốc xài hàng chục ngàn nhân dân tệ tiền dân đóng thuế chỉ để ăn trưa!

 

Dù ông Tập có ăn sơn hào hải vị hay ăn ở quán cơm xã hội đi chăng nữa thì người viết cũng không ‘ke’. Tốn vài trăm lượng bạc cho một bữa ăn của chánh vì vương thì nói thiệt đất nước Tàu cũng không có mạt thêm bao nhiêu! Ăn uống tẩm bổ mới có sức mà phục vụ ‘bà xã’ và nhân dân chứ! Tập ăn gì cũng được! Đừng ăn (cướp) thác Bản Giốc, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam là OK Salem! 

 

Đoàn Xuân Thu 

Melbourne

 

 

 

 


 
 

Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.
Ôn dịch Vũ Hán gây nên một cơn khủng hoảng chưa từng thấy trong khối các nước nghèo khó khiến 100 quốc gia trong số 189 thành viên IMF hiện đang cầu cứu cơ quan quốc tế này viện trợ khẩn cấp. Tưởng cần nên tìm hiểu bối cảnh của những quốc gia đang phát triển song song với các phân tích về tác động của khủng hoảng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.