Hôm nay,  

Ngụ Ngôn Mẹ

12/05/201906:59:00(Xem: 6169)

T.Vấn

blank

Mẹ Việt Nam – Tranh: Thanh Châu

 

Ngụ Ngôn Mẹ

(Irene Temple Bailey)
 

Người mẹ trẻ đặt chân trên con đường đời.“Đường còn xa lắm không?” Bà hỏi. Người dẫn đường trả lời: “Còn xa lắm, và đầy chông gai nữa . Bà sẽ già cỗi trước khi đi đến cuối con đường. Tuy vậy, cái cuối cùng bao giờ cũng tốt đẹp hơn lúc khởi đầu”.  Nhưng người mẹ trẻ tỏ ra sung sướng. Bà không tin rằng lại có điều gì tốt đẹp hơn những năm tháng bà được làm người mẹ. Vì vậy, bà thản nhiên vui đùa với các con, bẻ cho chúng những bông hoa tươi thắm bên đường, tắm chúng trong những dòng suối trong mát. Nhìn những tia nắng mặt trời nhẩy múa xung quanh con mình, bà mẹ trẻ cảm thấy cuộc sống thật tuyệt vời, bà kêu lên: “Liệu còn có điều gì đáng yêu hơn cuộc sống này nữa không?”
 

Rồi đêm đến. Bão tố, bóng tối phủ kín lối đi. Lũ trẻ run rẩy vì sợ hãi, vì lạnh. Người mẹ trẻ kéo các con lại gần, ôm ấp lấy chúng như gà mẹ ôm ấp đàn gà con. Các con của bà vui sướng: “Mẹ ơi, chúng con không sợ hãi nữa. Có mẹ ở bên, không điều gì có thể làm hại chúng con được”. Bà mẹ trẻ đáp: “Các con đã làm mẹ vui hơn một ngày vui sướng nhất, vì mẹ đã dạy cho các con học được lòng can đảm”.
 

Ngày rạng ánh bình minh. Trước mặt, là một ngọn đồi. Mấy mẹ con cứ leo, leo mãi, cho đến khi tất cả đều mệt lử, nhưng người mẹ trẻ luôn khuyến khích các con: “Hãy cố lên, chỉ cần một chút kiên nhẫn nữa thôi là chúng ta sẽ lên đến đỉnh đồi.” Lũ trẻ ngoan ngõan nghe lời mẹ, và khi tới nơi, chúng nói: “Mẹ ơi, chúng con đã không thể leo đến đích được nếu không có mẹ!”. Người mẹ trẻ, đêm đó khi bà đặt mình nằm xuống, bà ngước nhìn các vì sao và nói: “Ngày hôm nay còn tốt đẹp hơn cả ngày vừa qua. Các con của tôi đã học được sự kiên trì chịu đựng khi phải đối đầu với gian khổ. Ngày hôm qua, tôi đã ban cho chúng lòng can đảm, và ngày hôm nay chúng nhận được sức mạnh từ bài học kiên trì”.
 

Ngày kế tiếp, trên trời xuất hiện những đám mây kỳ lạ làm âm u cả mặt đất. Đó là những đám mây của chiến tranh, của thù hằn, của tội ác. Trong bóng tối âm u, lũ trẻ mò mẫm, sờ sọang, rồi trượt chân vấp té. Người mẹ trẻ bảo các con: “Các con, hãy ngước mặt nhìn lên. Hãy đưa mắt về vùng ánh sáng!”. Lũ trẻ nhìn, thấy ở trên đỉnh những đám mây đen là thứ hào quang chói lọi vĩnh cửu, nó đã dẫn lũ trẻ vượt ra khỏi sự che phủ của bóng tối, của mây đen. Đêm hôm đó, người mẹ hài lòng, nói: “Ngày hôm nay là ngày tôi vui sướng nhất trong đời. Các con tôi đã học hỏi được tất cả những gì tôi có thể dậy dỗ chúng.”
 

Thế rồi, những ngày, những tháng, những năm cứ lần lượt trôi qua. Cuộc hành trình vào đời của bà mẹ và các đứa con của mình vẫn tiếp tục. Nhưng bây giờ, người mẹ trẻ không còn trẻ nữa. Bà trở nên bé nhỏ đi vì tấm lưng còng. Trong khi đó, các con bà đã trưởng thành, thân thể cao to cường tráng, với những bước đi vững chãi can trường. Mỗi khi gặp đọan đường gập ghềnh hiểm trở, chúng bế bà lên dễ dàng, vì bây giờ hình hài bà đã nhẹ như một sợi lông chim. Và cuối cùng, họ đặt chân đến một ngọn đồi. Phía bên kia là những con đường sáng rực rỡ và những cánh cửa đời dát vàng mở rộng thênh thang. Bà mẹ bèn nói với các con: “Mẹ đã đi đến cuối cuộc hành trình của mình. Chỉ đến bây giờ, mẹ mới tin rằng cái cuối cùng đẹp hơn sự khởi đầu, vì các con của mẹ đã có thể bước đi một mình, cũng như rồi đây con cái của các con sẽ biết bước đi một mình không cần các con dẫn dắt”. Những đứa con liền nói với mẹ: “Mẹ ơi! Lúc nào mẹ cũng sẽ đi bên cạnh chúng con, kể cả khi mẹ đã khuất sau cánh cửa nước Trời”.
 

Các đứa con của bà mẹ, đứng bất động nhìn theo bóng dáng mẹ bước đi một mình về phía cánh cổng. Rồi khi cánh cửa đã khép lại, họ bảo nhau: “Chúng ta không còn nhìn thấy mẹ nữa, nhưng mẹ vẫn ở bên cạnh chúng ta. Một người mẹ, như mẹ của chúng ta, đẹp hơn một hồi ức dịu dàng. Bà là Sự Hằng Sống”.

(Nguyên tác: Parable of Motherhood by Temple Bailey *)

________

*Irene Temple Bailey ( 1865-1953), nhà văn người Mỹ nổi tiếng với nhiều tác phẩm truyện ngắn và truyện dài. Năm 1933 là nhà văn có trị gía tác quyền cao nhất thế giới. Đặc biệt, bà chưa bao giờ lập gia đình. Những tác phẩm được bà viết ra với tất cả sự trân trọng, chính là những đứa con yêu quý của bà..

  
 

Dòng Sông Mẹ
 

Người mẹ như dòng sông, dòng sông của quá khứ, dòng sông của hiện tại, dòng sông của tương lai. Người mẹ như dòng sông, dạy cho con biết nhẫn nại, biết lắng nghe, biết chờ đợi. Tiếng nói mẹ như tiếng nói từ dòng sông, êm đềm, nhẹ nhàng, sâu lắng, mênh mông.

Khôn ngoan của mẹ như sự khôn ngoan của dòng sông, tích tụ từ đời này qua đời nọ, cấu thành bởi đất mẹ, nước mẹ, hồn mẹ.

Mẹ đã mang cả thế giới trong bào thai nhỏ bé của mình, và từ bào thai nhỏ bé ấy, những điều vĩ đại đã được ươm mầm, rồi một sớm vươn vai thành lịch sử. Và dù những kẻ vĩ đại đã từng làm được rất nhiều điều vĩ đại, rồi cũng sẽ có một ngày trở về bên mẹ, ngoan ngõan nằm xuống an bình bên mẹ như những ngày thơ ấu. Đó là hạnh phúc đầu tiên và cuối cùng của lòai người, của muôn lòai sinh vật. Đó cũng là lý lẽ tồn tại của mọi thứ phù phiếm ở trần gian.

Thế gian này chẳng có gì trường tồn, vĩnh cửu, chỉ có hình tượng người mẹ là ở trên, ở ngòai vòng cương tỏa của hủy diệt. Như dòng sông, Mẹ là sự bình an. Như dòng sông, Mẹ là vĩnh cửu. Như dòng sông, Mẹ là sợi dây nối liền những thế hệ.

Phúc cho những ai còn biết trở về dòng sông tuổi thơ mà tìm lại chính mình. Phúc cho những ai còn biết rằng dẫu cho bao điều vĩ đại mình đã hòan thành, mình cũng chỉ là hạt bụi khiêm tốn khi đứng cúi đầu trước bà mẹ gìa nua còm cõi. Phúc cho những ai còn có thể khóc ngọt ngào khi nhớ về những bà mẹ của quá khứ, còn cảm thấy được chở che khi ôm vào lòng những bà mẹ của hiện tại, và sẵn sàng hy sinh tất cả những gì mình có cho những bà mẹ của tương lai . . .

T.Vấn

 



 

Giáo hội xin tán thán tinh thần hộ đạo và tu đạo của quí Thiện nam Tín nữ trong hoàn cảnh tai ương đầy kinh hãi hiện nay. Tất cả năng lực và công đức lớn lao này của người đệ tử, chúng con xin dâng lên cúng dường đức Thế Tôn trong ngày Đản sinh. Hàng trăm ngàn trái tim, hàng vạn ngàn bàn tay siết chặt giữa những thương đau tràn ngập của nhân loại, chúng con nguyện quán chiếu thật sâu sự khổ nạn hiện nay để kiên nhẫn mà vượt qua.
Có lẽ cả Trung Cộng lẫn Hoa Kỳ đều không mong muốn việc khơi mào cho một cuộc xung đột vũ trang, nhưng trước thái độ xác quyết của tổng thống Joe Biden, Trung Cộng hiểu rằng họ đang đối đầu với một đối thủ nguy hiểm gấp bội lần so với những năm qua.
Với chế độ độc đảng toàn trị hiện hành, với bộ máy tam trùng hiện tại, với văn hoá tham nhũng hiện nay, và với chủ trương cấm tự do báo chí cố hữu … thì chuyện sống được bằng lương mãi mãi chỉ là một kỳ vọng xa vời. Vô phương thực hiện!
Hội nghị Paris là một quá trình đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt kể từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, sau ngày 25 tháng 1 năm 1969 có thêm Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) tham gia. Ngoài 202 phiên họp chính thức của bốn bên, còn có thêm 24 cuộc mật đàm khác giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, Xuân Thủy. Cuối cùng, hội nghị kết thúc sau bốn năm chín tháng và bốn bên chính thức ký kết Hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.
Ngày 30 tháng Tư năm 1975 khép lại trang sử Việt của hai lực lượng dân tộc đối đầu nhau trong thế tương tranh quốc tế giữa tư bản và cộng sản. Thế tương tranh này kéo dài từ tranh chấp giữa hai triết thuyết xuất phát từ phương Tây – Duy Tâm và Duy Vật, đã làm nước ta tan nát. Việt Nam trở thành lò lửa kinh hoàng, anh em một bọc chém giết nhau trong thế cuộc đảo điên cạnh tranh quốc tế.
Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
Hình ảnh thay cho ngàn lời nói, ghi nhận rõ "sự hấp hối" của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ghi lại cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, nỗi lo sợ của dân chúng lũ lượt rời nơi đang sinh sống, đã bỏ nhà cửa trốn chạy trước khi VC tràn vào thành phố
Chúng ta liệu có thể đóng vai trò giúp đỡ những người nhập cư và tị nạn trong tương lai như là người Mỹ đã từng làm cho chúng ta không? Theo lời của Emma Lazarus, liệu chúng ta có nâng “... ngọn đèn bên cạnh cánh cửa vàng” cho “... kẻ bão táp, người vô gia cư ... người mệt mỏi, người nghèo khổ” không? Đối với chúng tôi, trong ngày 30 tháng 4 này, không có câu hỏi nào có ý nghĩa và tính quan trọng hơn câu hỏi này.
Khách đến Việt Nam ngày nay thấy nhiều nhà cao cửa rộng, xe chạy chật đường hơn xưa. Nhưng đa số người Việt Nam có vẻ không có cái nhu cầu dân chủ của người Myanmar hay người Hồng Kông. Hay là họ có, nhưng 20 năm chiến tranh đã làm họ mệt mỏi, xuôi xị chấp nhận chút đầy đủ vật chất, nhắm mắt với tương lai? Và Đảng Cộng sản Việt Nam có thể hy vọng người Việt sẽ ngoan ngoãn như người dân Bắc Hàn, không cần dự phần tự quyết cho tương lai của mình và con cháu mình?
Ngày 30/4 năm thứ 46 sau 1975 đặt ra câu hỏi: Còn bao nhiêu năm nữa thì người Việt Nam ở hai đầu chiến tuyến trong chiến tranh mới “hòa giải, hòa hợp” được với nhau để thành “Một Người Việt Nam”? Hỏi chơi vậy thôi chứ cứ như tình hình bây giờ thì còn mút mùa lệ thủy. Nhưng tại sao?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.