Hôm nay,  

Bidong Bây Giờ

28/05/201910:12:00(Xem: 8259)

Bidong, Bidong…blank


Hòn đảo cách bờ hơn nửa giờ ca-nô cao tốc, chỉ rộng 1 cây số vuông, nguồn nước ngọt ít oi và (hầu như) không có thú rừng nhưng, theo hồ sơ còn lưu trữ tại Văn phòng Trung ương Hội Hồng Nguyệt Malaysia, nó từng là nơi tiếp nhận tạm cư cho hơn 300,000 người vượt biển từ Việt Nam trong những thập niên 70-90 của thế kỷ trước. Hơn 1,000 thuyền nhân Việt Nam đã gửi thây ở đây và trên các đảo lân cận khác. Số trẻ em ra đời trên đảo trong thời gian đó cũng bằng số người qua đời…

Vậy mà đã hơn 40 năm rồi, từ khi Bidong mở cửa vào tháng 8/1978 để tiếp cư cho dòng người tỵ nạn vượt thoát chế độ chính trị hà khắc ở quê nhà. Bây giờ, trong chuyến thăm viếng Bidong vào tháng 4/2019 vừa qua của nhóm bạn tự đặt tên là “Bidong Family” (phần đông là từ Australia), hình ảnh hòn đảo nhiều kỷ niệm đó đã hoàn toàn không còn nhận ra… blank


“Thuyền ra cửa biển..."


Trái ngược với những lần dắt díu vượt biên trong bóng đêm, hồi hộp sợ công an phát giác, mửa mật vì sóng gió biển khơi, hoặc hãi hùng khi đối mặt với hải tặc... chuyến đi thăm Bidong của nhóm được thực hiện êm ru như "Tháng Ba bà già đi biển". Hai chiếc ca-nô cao tốc xé nước băng ra đảo từ bến phà du lịch Redang (thuộc bang Terengganu). Chưa kịp chụp hình hoặc quay phim cảnh Bidong từ xa đã thấy nó lù lù trước mặt...

blank

Hội ngộ Bidong


Trong nhóm có nhiều người về Bidong lần đầu nhưng cũng có một số đã thăm lại hòn đảo này vài lần. Dù mới hay cũ, cảm giác vẫn giống nhau khi đặt chân lên cầu jetty, bồi hồi và xúc động.

blank

Căn lều qua đêm


Bây giờ, bạn có thể ngủ lại đêm ở Bidong nếu xin được giấy phép từ Viện bảo tàng – cũng dễ, chỉ thủ tục hành (là) chính thôi mà. Bạn cũng có thể thuê các căn lều cá nhân (giá khoảng 10 đô Úc một căn) từ nhân viên phục vụ du lịch trên đảo. Đây là một trải nghiệm tuyệt vời mà người viết đề nghị nên làm, vì có lẽ hiếm khi bạn có dịp lang thang tìm lại dấu vết xưa, ngắm hoàng hôn trên đảo, tắm đêm ở bãi Zone A và, nếu may mắn như chúng tôi, một bữa BBQ hải sản tươi roi rói.


      blank  blank


blank

Cánh Buồm Tự Do


Biểu tượng của khát vọng tự do, với 5 cánh buồm bao quanh chiếc trống ở giữa, vẫn sừng sững trên Đồi Tôn giáo trong ánh hoàng hôn Bidong. Tượng đài cũng vừa được trùng tu cách đây 2 năm. Chúng tôi đến chiêm bái, đặt tay mình lên Lời Tri Ân (bằng tiếng Mã):

Thuyền nhân Việt Nam tri ân Hoàng gia, Chính phủ và nhân dân Malaysia đã giúp đỡ chúng tôi qua cơn nguy khó.

và bốn câu thơ truy niệm (bằng chữ Nôm):

Nơi đây hương khói ngàn thu                                                                                                                               Thuyền nhân tạm nghỉ trong mồ trùng dương Buồm cao ghi dấu can trường                                                                                                                      Trống thiêng gọi kẻ bốn phương tìm về

mà nghe cả biển trời bao la tình tự dân tộc.


blank

Cầu tàu về đêm


Cầu jetty được xây mới với kinh phí 1 triệu Mỹ kim năm 2012 sau khi chính phủ tiểu bang quyết định biến Bidong thành “Hòn đảo di sản di dân và du lịch”.  Ban đêm, cầu jetty được thắp sáng bằng hệ thống đèn solar, lung linh huyền ảo. Nhân viên của Viện bảo tàng Terengganu, cơ quan trách nhiệm bảo trì và phát triển Bidong, cho biết hàng tuần có khoảng 500 người đến thăm địa điểm này, trong đó có nhiều nhóm người Việt từ khắp nơi trên thế giới. Hiện tại, Bidong cũng là trung tâm nghiên cứu hải dương của Viện đại học Terengganu với khoảng vài chục sinh viên thường xuyên cắm trại và thực tập.

blank

Kể chuyện vượt biên


Ai từng một lần lên thuyền vượt biển đều có câu chuyện của mình. Với vài ly rượu, dăm bài hát bên ánh lửa trại, mọi người trải lòng với nhau về một thời long đong khốn khó.

blank

Dưới bóng từ bi


Chùa Từ Bi, nơi gặp gỡ của hàng ngàn người trên đảo vào những ngày lễ vía và là niềm an ủi sâu xa cho những mảnh đời bất hạnh, bây giờ không còn hình dáng xưa qua nhiều năm dài sương gió. Những tượng Phật trong và ngoài chùa bị đập nát cũng vừa được trùng tu lại. Chúng tôi lễ Phật giữa chính điện lộ thiên loang lổ ánh nắng mà vẫn cảm nhận ân đức mát rượi dưới bóng từ bi.

blank

Ông già Bidong


Nhiều câu chuyện được kể lại về Ông già Bidong và sự linh nghiệm của pho tượng.  Thời gian và sự phá hoại của con người đã làm hư hại pho tượng trong nhiều năm. Năm ngoái, một số anh em trong nhóm bạn này đã phục dựng lại pho tượng nhân dịp 40 năm Bidong hội ngộ.

blank

Niềm đau chôn giấu

blank


Phía sau nghĩa trang Zone F là một bí mật của Bidong mà mãi đến tận gần đây chúng tôi mới biết. Đó là một niềm đau chôn giấu của những nạn nhân hải tặc bị cưỡng hiếp giữa biển, của những cuộc tình lầm lỡ vụng dại trong thời tạm cư trên đảo… Những bào thai bị trục phá hoặc sinh non được lén lút (vừa) chôn (vừa) giấu hoặc vất bỏ dưới lớp đất nông nơi này, một bờ đá chênh vênh mà phía sau là vực biển sâu… Quanh đống nhang tàn, chúng tôi đứng cầu siêu cho những linh hồn mồ côi vì vận nước.

blank blank

Nhớ lại một thời…


Và trước khi rời đảo, một số người trong nhóm cũng không quên lưu lại dấu vết kỷ niệm của riêng mình, dù chỉ “để sóng cuốn đi…”

 Bài viết: Lưu Dân  - Hình ảnh: Tôn Thất Vinh

Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.