Hôm nay,  

Hát Bội Giữa Rừng!

29/05/201911:11:00(Xem: 5775)

Khi nhận được một câu hỏi của một ông bạn đọc hơi cà khịa là: Hầu hết sự nghiệp của nhà văn là viết về đề tài Nam bộ, được (hay bị) gọi là "Ông già Nam bộ", "Nhà văn Nam bộ"… ông có cảm thấy mình "cục bộ" hay không? 

Sơn Nam đã trả lời rằng:“Hà…hà..nếu "cục bộ" thì "cục" này hơi bị lớn đó nghen!
Vấn đề của Newton đâu phải chỉ là một trái táo. Sholokhov đâu chỉ là nhà văn của Sông Đông êm đềm, Gamzatov không phải chỉ của Dagestan."

(Chết mầy chưa đừng giỡn mặt với mấy ông nhà văn vì mấy ổng thâm lắm. Câu trả lời của mấy ổng đôi khi chú mầy đọc đến sói đầu tóc rụng hết không còn một sợi cũng còn chưa hiểu đặng)

"Tôi không chỉ được "cho" là nhà văn mà còn được "cho" là nhà văn hóa; nhà văn thì bay bằng đủ kiểu, nhưng nhà văn hóa phải đi bằng đôi chân. Sức tôi có hạn, đi hết vùng đất Nam bộ - đi cho kỹ, cho căn cơ được phần nào - đã là giỏi lắm.
Vùng đất Nam bộ và những vấn đề của vùng đất này, dẫu mòn chân một đời, tôi vẫn cảm thấy mình chưa đi hết, chưa nhìn thấy hết, chưa hiểu hết và chưa nói lên được hết...”

***

Viết về vùng đất nơi chôn nhau cắt rún của mình, hơn sáu mươi năm cầm viết, Sơn Nam cũng thú nhận nhiệm vụ bất khả thi (Mission Impossible) là: chưa đi hết, chưa đọc hết, chưa hiểu hết về đất và người Nam Bộ!

Nhưng viết chưa đủ và chỉ về một địa phương U Minh, Cà Mau mà thôi không có nghĩa là cục bộ cũng như Newton không phải là trái táo. Newton nhìn trái táo rơi ngoài vườn và những ý tưởng khoa học của ông thành thuyết “Vạn vât hấp dẫn”.

Solokhov viết về Sông Đông không chỉ là mối tình bi kịch giữa Grigory và Aksinya bên dòng Sông Đông êm đềm mà còn đi xa hơn về không gian và thời gian thì thọ rất lâu so với tuổi thực của nhà văn.

Gamzatov là một nhà thơ nổi tiếng nhất trong dòng văn học tiếng Avar, với Dagestan,một nước nhỏ, dân số chừng hơn nửa triệu, mà bài viết của ông, trên khắp thế giới, khi đọc lên, ai cũng thấy mình yêu quê hương của riêng mình dào dạt.

Sơn Nam qua đời để lại cho thế giới, không chỉ của riêng Việt Nam, một gia tài đồ sộ sau hơn sáu mươi năm cầm viết. Một năm trước khi mất, ông nói với bạn văn:“Tôi còn cái này hay lắm …” 
Nhưng không kịp nữa rồi. Cái dở dang làm ta tiếc, làm ta bùi ngùi trước sự mất mát lớn lao, mà tôi e phải rất lâu, lâu lắm, chúng ta mới có môt nhà văn, chỉ học hết lớp đệ tứ niên trường Collège de CanTho mà suốt cả đời tự học và viết;vậy mà tác phẩm của ông đã vượt ra xa, rất xa, khỏi U Minh, Cà Mau, Nam Bộ, Việt Nam… để đến với người đọc trên thế giới.

Chắc bạn đọc cho rằng tôi hơi nói quá ? Để biện minh, xin hãy cùng tôi đọc lại vài đoạn trong“Hát Bội giữa rừng” của tuyển tập truyện ngắn “Hương Rừng Cà Mau”mà Sơn Nam viết hơn năm mươi năm về trước.

“Đêm hát ra mắt, vui quá đỗi là vui! Đào kép thì áo mão xanh đỏ, đầu giắt lông trĩ, ngặt hai bàn chân thiếu hia, thiếu hài. Trống đánh thùng thùng. Kèn thổi tò ti te. Hai bên rạp chong bốn ngọn đuốc sáng rực.
Họ hát tuồng Phong Thần, lớp lập Bá Lạc Đài. Tuồng này nghĩ thiệt lạ, thiệt hay. Nhiều người ba bốn chục tuổi mới được xem hát bội lần này là lần thứ nhứt. Họ thức sáng đêm ngồi dưới xuồng, khi mệt mỏi thì nằm xuống. Rồi lại ngồi dậy…”

Tình nghĩa giữa gánh hát và khán giả bước đầu bao giờ cũng nồng thắm… Nhưng sau đó thì: “….Mấy đứa con nít xem một chập, ngồi ngủ gục. Chừng trống đánh giựt mình, tụi nó dụi mắt, cằn nhằn : "cái gì mà tốc bôn trì, tốc bôn trì hoài ! Cả tháng rồi không có gì mới. Cứ con yêu Tỳ Bà tinh chưn cẳng có ghẻ ngứa..."

Tụi nó xúm nhau bơi xuống về. Hỡi ôi ! Hai ba ông cọp chạy dài theo bờ rạch ! Thôi thì đành trở vô vòng hàng rào nọ mà chờ đợi tới sáng.”

Mưa sa, gánh Bầu Tèo rã vì:“Việc gì cũng vậy, riết rồi sanh chán. Xưa kia, ông Từ Thức cưới vợ tiên ở Bồng Lai mà còn đòi trở về dương thế, hà huống chi xem đoàn hát Bầu Tèo này biểu diễn.”

***

Từ cái chuyện hát bội giữa rừng của Sơn Nam tui cũng học được cái điều nầy cũng thấy hay hay: gánh Bầu Tèo cứ hát hoài một tuồng bà con mình sanh chán nên chèo ghe về hết ráo. 

Đó là quyền tự do của bà con mình thuở khẩn hoang của miền Lục Tỉnh Nam Kỳ. Ông bà mình xưa thiệt là văn minh hết sức!

Giờ nhìn ra thế giới từ Đông sang Tây, từ Nam lên Bắc thấy có quá nhiều gánh hát, lại thấy quá nhiều chánh trị gia cứ đòi làm kép chánh, cứ nhẩy lên sân khấu múa may quay cuồng, hát hoài một tuồng.

(Tụi nó xúm nhau bơi xuống về. Hỡi ôi ! Hai ba ông cọp chạy dài theo bờ rạch ! Thôi thì đành trở vô vòng hàng rào nọ mà chờ đợi tới sáng.”)

Người dân bị nắm đầu bắt xem, thấy đi vô đi ra cũng thằng cha hồi nảy nên không chịu coi nữa thì thằng cha kép chánh nầy hăm he đến mẻ răng luôn đứa nào không coi tao tiếp tục hát tuồng chèo, chèo qua chèo lại, chèo lui chèo tới tao kêu ‘lính’ quánh chết cha tụi bây hết ráo à nha!

Bà con khán giả sợ quá đành mắt mở thao láo nhìn lên sân khấu nhưng trong bụng đã ngủ tự lâu rồi!

“Hát bội giữa rừng” như cái kiếng vạn hoa, mỗi lần nhìn lại ta thấy một hình ảnh mới cũng rực rỡ không kém, nhưng khác hình ảnh cũ, lại thấy cái mới thì làm sao ai lại dám chê tác phẩm “Hát bội giữa rừng” của Sơn Nam là cục bộ?!

 

Đoàn Xuân Thu
Melbourne

Năm 17 tuổi, đang khi học thi tú tài, tôi bỗng nhiên bị suyễn. Căn bệnh này – vào cuối thế kỷ trước, ở miền Nam – vẫn bị coi là loại nan y, vô phương chữa trị. Từ đó, thỉnh thoảng, tôi lại phải trải qua vài ba cơn suyễn thập tử nhất sinh. Những lúc ngồi (hay nằm) thoi thóp tôi mới ý thức được rằng sinh mệnh của chúng ta mong manh lắm, và chỉ cần được hít thở bình thường thôi cũng đã là một điều hạnh phúc lắm rồi. If you can't breathe, nothing else matters!
Một người không có trí nhớ, hoặc mất trí nhớ, cuộc đời người ấy sẽ ra sao? Giả thiết người ấy là ta, cuộc đời ta sẽ như thế nào? Ai cũng có thể tự đặt câu hỏi như vậy và tự cảm nghiệm về ý nghĩa của câu hỏi ấy. Sinh hoạt của một người, trong từng giây phút, không thể không có trí nhớ. Cho đến một sinh vật hạ đẳng mà chúng ta có thể biết, cũng không thể tồn tại nếu nó không có trí nhớ. Trí nhớ, Sanskrit nói là smṛti, Pāli nói là sati, và từ Hán tương đương là niệm, cũng gọi là ức niệm, tùy niệm. Nói theo ngôn ngữ thường dùng hiện đại, niệm là ký ức. Đó là khả năng ghi nhớ những gì đã xảy ra, thậm chí trong thời gian ngắn nhất, một sát-na, mà ý thức thô phù của ta không thể đo được.
Ba mươi năm trước tôi là thành viên hội đồng quản trị của một cơ quan xã hội giúp người tị nạn trong khu vực phía đông Vịnh San Francisco (East Bay) nên khi đó đã có dịp tiếp xúc với người tị nạn Afghan. Nhiều người Afghan đã đến Mỹ theo diện tị nạn cộng sản sau khi Hồng quân Liên Xô xâm chiếm đất nước của họ và cũng có người tị nạn vì bị chính quyền Taliban đàn áp. Người Afghan là nạn nhân của hai chế độ khác nhau trên quê hương, chế độ cộng sản và chế độ Hồi giáo cực đoan.
Bà Merkel là một người đàn bà giản dị và khiêm tốn, nhưng nhiều đối thủ chính trị lại rất nể trọng bà, họ đã truyền cho nhau một kinh nghiệm quý báu là “Không bao giờ được đánh giá thấp bà Merkel”.
Hai cụm từ trọng cung (supply-side) và trọng cầu (demand-side) thường dùng cho chính sách kinh tế trong nước Mỹ (đảng Cộng Hòa trọng cung, Dân Chủ trọng cầu) nhưng đồng thời cũng thể hiện hai mô hình phát triển của Hoa Kỳ (trọng cầu) và Trung Quốc (trọng cung). Bài viết này sẽ tìm hiểu cả hai trường hợp. Trọng cung là chủ trương kinh tế của đảng Cộng Hoà từ thời Tổng Thống Ronald Reagan nhằm cắt giảm thuế má để khuyến khích người có tiền tăng gia đầu tư sản xuất. Mức cung tăng (sản xuất tăng) vừa hạ thấp giá cả hàng hóa và dịch vụ lại tạo thêm công ăn việc làm mới. Nhờ vậy mức cầu theo đó cũng tăng giúp cho kinh tế phát triển để mang lại lợi ích cho mọi thành phần trong xã hội. Giảm thuế lại thêm đồng nghĩa với hạn chế vai trò của nhà nước, tức là thu nhỏ khu vực công mà phát huy khu vực tư.
Gần đây, chỉ một tấm ảnh của nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ – Nicole Gee – ôm em bé người Afghan với thái độ đầy thương cảm thì nhiều cơ quan truyền thông quốc tế đều phổ biến và ca ngợi! Nhân loại chỉ tôn trọng sự thật, trân quý những tâm hồn cao thượng và những trái tim biết rung động vì tình người – như nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ, Nicole Gee – chứ nhân loại không bao giờ thán phục hoặc ca ngợi sự tàn ác, dã man, như những gì người csVN đã và đang áp đặt lên thân phận người Việt Nam!
Tôi vừa mới nghe ông Trần Văn Chánh phàn nàn: “Cũng như các hội nghề nghiệp khác, chưa từng thấy Hội nhà giáo Việt Nam, giới giáo chức đại học có một lời tuyên bố hay kiến nghị tập thể gì liên quan những vấn đề quốc kế dân sinh hệ trọng; thậm chí nhiều lần Trung Quốc lấn hiếp Việt Nam ở Biển Đông trong khoảng chục năm gần đây cũng thấy họ im phăng phắc, thủ khẩu như bình…”
Thế giới chưa an toàn và sẽ không an toàn chừng nào các lực lượng khủng bố trên thế giới vẫn còn tồn tại, một nhà báo, cựu phóng viên đài VOA từ Washington D.C. nói với BBC News Tiếng Việt hôm thứ Năm. Sự kiện nước Mỹ bị tấn công vào ngày 11 tháng 09 năm 2001 đã thức tỉnh thế giới về một chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan đang tồn tại trong lòng các nước Trung Đông. Giờ đây, sau 20 năm, liệu người Mỹ có cảm thấy an toàn hơn hay họ vẫn lo sợ về một cuộc tấn công khủng bố khác trên đất nước Hoa Kỳ hay nhằm vào công dân Mỹ ở nước ngoài.
Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, những kẻ khủng bố Hồi giáo thuộc tổ chức mạng lưới Al-Qaida đã dùng bốn phi cơ dân sự làm thành một loại vũ khí quân sự để tấn công vào Trung tâm Thương mại Thế giới ở New York và Lầu Năm Góc ở Washington D.C. Các sự kiện không tặc loại này là lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh của nhân loại và đã có hậu quả nghiêm trọng nhất trong lịch sử cận đại.
Thứ Bảy, ngày 11/09/2021, nước Mỹ tưởng niệm 20 năm vụ tấn công khủng bố thảm khốc nhắm vào tòa tháp đôi World Trade Center ở New York, bộ Quốc Phòng Mỹ ở gần Washington và ở Shanksville tại Pennsylvania. Gần 3.000 người chết, hơn 6.000 người bị thương. Hai mươi năm đã trôi qua, vẫn còn hơn 1.000 người chết đã không thể nhận dạng. Chấn thương tinh thần vẫn còn đó. Mối họa khủng bố vẫn đeo dai dẳng. Lễ tưởng niệm 20 năm vụ khủng bố gây chấn động thế giới diễn ra như thế nào, nhất là trong bối cảnh Hoa Kỳ triệt thoái toàn bộ binh sĩ khỏi Afghanistan sau đúng 20 năm tham chiến ? Mời quý vị theo dõi cuộc phỏng vấn với nhà báo Phạm Trần từ Washington.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.