Hôm nay,  

Nhớ Trà Vinh!

01/06/201908:29:00(Xem: 6592)

Nhớ Trà Vinh!

 

Đoàn Xuân Thu

 

Trà Vinh, thời mình gọi là Vĩnh Bình, nằm bên bờ sông Tiền, cách Sài Gòn khoảng 202 km và cách Cần Thơ khoảng 100 km, cách Biển Đông khoảng 40 km. Đất Trà Vinh chia cắt bởi sông rạch chằng chịt. Trên đất liền là gò, là giồng, lan ra tới cửa biển. Có nơi độ cao, so với mực nước biển, chưa tới một mét, nên năm mười hai tháng, Trà Vinh ngập mặn tới nửa mét trong vòng từ ba tới năm tháng. Nước mặn tràn vào sông thành nước lợ. Nước ngọt thiếu, dân muốn xài, phải đào giếng! 

 

Và ‘Gánh nước đêm trăng’ của Viễn Châu do Út Trà Ôn ca ra đời như vậy đó!

 

***

 

Hồi xưa đất Kampuchia gồm Lục Chân Lạp và Thủy Chân Lạp, (tức cái đồng bằng sông Cửu Long mình bây giờ). Và truyền thuyết ra đời rằng: Préah Trapéan (tiếng Khmer), Trà Vinh (âm tiếng Việt), có nghĩa tìm được tượng Phật đá trong ao mùa nước lụt năm đó, dân rước tượng Phật về Chùa thờ phượng! Sau nầy cứ mỗi lần ông nầy lên ông kia xuống, thay tên đổi họ vùng đất nầy hoài, nhưng người dân vẫn gọi đất Trà Vinh.

 

Đất Trà Vinh là một đất đa sắc tộc. Cứ mười người là có bảy người Việt, hai người Khmer và một người Tàu. Rồi yêu nhau ‘sa cạ’! (Khoái là yêu hè! Không phân biệt chủng tộc gì hết ráo) Rồi sanh con đẻ cái, nên Trà Vinh có đầu gà đít vị, Tiều lai Miên (!), hoặc Miên lai Việt nên con lai, nhứt là con gái, thừa hưởng của Tía mình một chút, của Má mình một chút,. tổng hợp toàn tinh hoa, nên em nó đẹp não nùng. Đẹp đến nỗi mấy anh xứ Nẫu quê mình, tuốt tự Quảng Nam, phiêu bạt vào, dẫu còn nhớ con ‘ghệ’ mình ở quê xưa, mà vẫn thấy con tim mình tan nát!

 

Chẳng hạn như nhạc của Đinh Trầm Ca, qua giọng hát Thái Châu: “Sông quê nước chảy đôi bờ! Để anh chín dại mười khờ thương em! Chiều nay bỗng nhớ cây mù u. Dòng sông in bóng em chiều thu! Về đây mới biết bên sông không còn mái nhà ngày xưa” Té ra em đi lấy Đài Loan mất rồi! 

 

***

 

Đất Trà Vinh nầy cũng tự mình sản sinh ra rất nhiều người nổi tiếng như nhạc sĩ Trúc Phương, tên thật là Nguyễn Thiên Lộc, sanh năm 1932, tại Mỹ Hòa, Cầu Ngang, Trà Vinh. 

 

Đằng sau đôi mắt kiếng cận thị dày cui, nặng độ, Trúc Phương rất tài hoa với điệu Bolero và tui khoái nhứt là bài ‘Thói đời’ mà mỗi lần ngà ngà say, tui thường rên ư ử, đến nỗi em yêu tui phải tán thưởng nhiệt liệt.

 

Rồi sau 75, kiếp con tằm không được phép nhả tơ, buồn quá, tâm bệnh rồi lâm bệnh nên đời Trúc Phương khá ngắn ngủi! Trúc Phương đã đi chuyến đò chiều cuối cùng vào miền vĩnh quyết, đêm 20, Tháng Chín, năm 1995.

 

***

 

Đó là tân nhạc, bên cổ nhạc, đất Trà Vinh cũng sản sinh ra một nhân vật kiệt xuất là nhạc sĩ Bảy Bá tức soạn giả Viễn Châu, người đã từ trần vào trưa mùng Một, tháng Hai, năm 2016, tại Sài Gòn, hưởng thọ 92 tuổi.

 

Viễn Châu tên thật là Huỳnh Trí Bá, sanh năm 1924, tại Đôn Châu, Trà Cú, Trà Vinh. Con thứ Bảy nên thường được gọi là Bảy Bá. 19 tuổi, ông vác cây đờn tranh lên Sài Gòn lập nghiệp, xa mãi Đôn Châu nên lấy bút hiệu là Viễn Châu.

 

Xa quê Đôn Châu, Viễn Châu nhớ nhà quá xá… Nhớ em yêu nên xúc cảm nhiều, bài ‘Gánh nước đêm trăng’ của ông thiệt là hết ý! “Gìn lòng hai chữ ngỡi nhân, yêu ai yêu chỉ một lần mà thôi. Em cười em bảo với tôi, thề có đất trời em không phụ anh đâu…”

 

***

 

Về Trà Vinh, vùng đất thương mến thương, đêm nay nhớ quê, nhớ cửa Cổ Chiên, ngày xưa, ngày vượt biển! Nhớ Trúc Phương, nhớ thời giày sô áo trận, nhớ ông thầy đờn Bảy Bá với ‘Gánh nước đêm trăng’. Nhớ đủ thứ, những hồi ức êm đềm của ngày tháng cũ.

 

Cải lương trong nước giờ đang giãy giãy… chết! Nhưng ‘Gánh nước đêm trăng’ vẫn còn là đêm trăng đi gánh nước ở Đôn Châu, Trà Cú, Trà Vinh.

 

Vì gánh nước là phụ; mà hẹn hò với anh là chính! Trao cho anh chiếc khăn tay; rồi tiện chưn quất anh một đá! Đau quá xá! Hỡi người con gái Trà Vinh!

 

***

 

Footscray có một cái tiệm hủ tiếu mì Trà Vinh. Té ra ông chủ quán là người dân miệt Trà Vinh đây mà! Xa quê, và nhớ quê nên ông mới đặt tên quán như vậy chớ. Mà nói tới Trà Vinh, cha, tui cũng có nhiều kỷ niệm lắm nha bà con.

 

Nhớ gần Tết năm 1989, khi các nước vùng Đông Nam Á như Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương hăm he sẽ đóng cửa Trại tị nạn vào Tháng Tư, theo lời xúi biểu của thằng em đang ở Adelaide, tui vội vã xuống thuyền giong ra biển mà không kịp ăn Tết với vợ con. 

 

Chiều 28 Âm lịch nè, đúng 30 năm về trước, bãi đáp ở Lò đường, Kinh Ngang, Mỏ Cày, Bến Tre, cái máy Ray 6 ù ù ra biển. Tài công sợ chạy gần bờ, du kích bắn sảng, nên cứ giữa dòng mà bường tới. Nước ròng, sát cửa biển có cái cồn cát, lé đé mặt nước. Trời tối hù ai thấy, thuyền lủi vô cái ịch, mắc kẹt sình, hết nhúc nhích, phải chờ nước lớn. Tui ló cái bản mặt của mình lên khoang, vừa nhìn mấy đứa nhỏ dân địa phương, trần truồng, mặt mày lấm lem bùn đất, đi bắt sò, bắt hến trên cồn, vừa hút thuốc nhìn trời hiu quạnh…Chắc xuân nầy anh hông về! Thôi phần số tới đâu hay tới đó! Cá chui vô rọ, chỉ biết chờ chiếc vỏ lãi của công an biên phòng ra xúc về, nhốt Khám Lớn Vĩnh Bình. 

 

Nhưng may thay cha con nó mắc lo ăn Tết, bận nhậu nên hổng có đứa nào rảnh mà đi ruồng bắt đám vượt biên. Mười hai tiếng sau, chiều tàn, đêm bủa lưới, bóng tối lan tỏa mặt sông đầy, nước lên, thuyền ra hàng đáy ngoài cửa biển, trái giờ, ngược gió. Sóng nó đánh đùng đùng. Thôi chạy trở vô!

 

Chín giờ đêm, tui nhảy cái tùm xuống bến sông, xã Mỹ Long, Cầu Ngang bì bõm, nước ngang cần cổ, chòi chòi leo lên bờ, rượt theo một em vợ xuân thì của thằng tài công về nhà em là quán cà phê trong xã trốn. Quần áo ướt nhẹp, em giấu tui trong cái mùng của em, sao mà ấm quá trời! Be he!

 

Rạng sáng sớm hôm sau, em đưa tui bằng xe Honda ôm ra bờ rẫy, đất giồng, cách bến xe chừng hai, ba cây số, để tui đón xe về Sài Gòn. Sau khi gom cả trăm ngàn đồng tiền dằn túi, tui đền ơn em. Em cười hí hí, mà rằng: “Đi chuyến sau… Xuống tìm em… để em lo…! Đừng có thối chí nhe anh hai! Có người đi tới chục lần mới được. Anh hai mới có năm, ba lần mà nhằm nhò gì… Lần tới lại đi với em nhe! Em chờ!”

 

30 năm! Giờ người xưa của tui chắc đã thành bà Ngoại! Xin hẹn Ngoại Trà Vinh kiếp sau ta tìm thấy nhau nhe!

 

Đoàn Xuân Thu 

Melbourne

 

  

 

Đảng Cộng Sản Việt Nam có truyền thống bán nước từ Hồ Chí Minh cho đến ngày nay. Người bán nước số một là Nguyễn Phú Trọng, bán nước một cách tinh vi, từ những bí mật nầy đến những bí mật khác để lừa bịp nhân dân. Đã đặt Việt Nam lệ thuộc vào Trung Cộng, xem như thời kỳ Bắc thuộc lần thứ năm. Tuổi tác đã cao, sức khỏe yếu kém mà muốn ôm cái ghế quyền lực suốt đời. Thủ hạ Nguyễn Hồng Diên thăm dò dư luận bằng những lời lẽ nâng bi quá đáng, làm phản tác dụng, gây phẩn nộ trong quần chúng. Tóm lại, Nguyễn Phú Trọng và đảng của ông đã đặt Việt Nam lệ thuộc vào Trung Cộng, đó là tội đồ của dân tộc.
Khi còn trẻ, đôi lúc, tôi cũng (thoáng) có ý định sẽ trở thành một người cầm bút. Ở một xứ sở mà phần lớn người ta đều cầm cuốc, cầm búa, cầm kìm hay cầm súng… mà định cầm viết thì quả là một chuyện khá viển vông – nếu không muốn nói là hơi xa xỉ. Lúc không còn trẻ (nữa) tôi mới ngộ ra rằng: bút viết nó chọn người, chứ không phải là ngược lại – trừ khi mình cứ cầm đại thì không kể. Tôi không được (hay bị) lựa và cũng không có máu liều – như phần lớn quí vị trong Hội Nhà Văn Việt Nam Đương Đại – nên chuyện viết lách kể như … trớt quớt!
Nuôi dưỡng nền dân chủ giống như kẻ trồng cây: khi còn là hạt giống phải chống đỡ quạ tha gà mổ; cây còn non trẻ cần ngăn ngừa sâu bọ; đến lúc trưởng thành già nua phải chặt bớt những cành lớn không thì một cơn bão lớn sẽ làm đổ ngã thân cây. Việt Nam chưa có dân chủ nên tranh đấu đòi dân chủ. Nền dân chủ non trẻ tại Phi Luật Tân bị đe dọa trở lại độc tài. Dân chủ ở Mỹ trưởng thành lâu đời nay lại nảy sinh ra dấu hiệu già nua thoái hóa thành một hình dạng gì chưa nhận biết được.
Xét về cao độ thì Sơn Núi (Nguyễn Đức Sơn) ở thấp hơn nhiều bạn đồng nghiệp của mình – như Bùi Minh Quốc, Hà Sĩ Phu, Mai Thái Lĩnh, Tiêu Dao Bảo Cự… – xa lắc. Những nhân vật này đều có thời là biên tập viên của tạp chí Lang Biang, tờ báo (đã bị đóng cửa) này lấy tên theo vùng cao nguyên lâm Viên mà họ đang sinh sống. Đỉnh Lâm Viên, ở Đà Lạt, cao hơn hai ngàn mét lận. Từ đây, muốn leo lên trời (để đái, hay làm gì tùy thích) còn tiện hơn nhiều. Ngoài lợi thế nhỏ nhặt này ra, những cư dân ở miền sơn cước gặp phải toàn là những điều (vô cùng) bất tiện. Họ xa cách (mịt mù) với thế giới văn minh, ở những đô thị miền xuôi. Tôm cá hì hục chở lên đến được đến cao nguyên (thường) đã bị ươn, và thông tin khi nhận được thì (ôi thôi) hoàn toàn đã cũ.
Giữa mùa đại dịch COVID-19, tại những buổi tường trình mỗi ngày, Tổng thống Mỹ Donald Trump và Phó Tổng thống Mike Pence không ngớt tiên đoán sự lớn mạnh vượt bực của kinh tế quốc gia Hoa Kỳ sau khi tình hình dịch tễ lắng đọng. Hai ông nhấn mạnh rằng kinh tế Mỹ hậu-COVID-19 sẽ tìm lại thế quân bằng sau những chao đảo khiếp hãi khiến cả 40 triệu nhân công thất nghiệp trong vòng vỏn vẹn ba tháng trời. Đầu tháng Sáu, hy vọng bắt đầu le lói khi guồng máy kinh tế rục rịch mở cửa lại, ai nấy trông đợi ánh sáng tỏa lớn cuối đường hầm.Tuy nhiên, mặc dù người ta có quyền hy vọng vào sự thịnh vượng chung, nhưng sự thật là đối với các thành phần ít may mắn hơn trong xã hội (vâng, phần đông trong đó là những sắc dân da màu thiểu số), khó khăn kinh tế gần như là một điều chắc chắn. Ai cũng tưởng sau khi COVID-19 giáng một đòn chí tử lên kinh tế Hoa Kỳ, thì khoảng cách chênh lệch giữa hai thành phần giàu-nghèo sẽ phần nào thu hẹp, nhưng oái oăm thay, mọi bằng chứng cho thấy sự khác biệt ấy
Do đó, chỉ khi nào người dân được quyền trực tiếp chọn Lãnh đạo qua bầu cử tự do, công bằng và dân chủ thì khi ấy những kẻ bất tài, có thành tích xấu, hay chỉ biết thu vét cho đầy túi tham, lợi ích nhóm hay làm tay sai cho Ngoại bang mới bị loại khỏi đội ngũ cầm quyền. Ngược lại, nếu vẫn tiếp tục chọn người theo thông lệ “đảng cử dân bầu” hay “đảng chọn, cán bộ bỏ phiếu” thì có trăm năm, nhân dân Việt Nam vẫn chưa tìm thấy ánh sáng ở cuối đường hầm.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất tự do.
Thây xác trưng ra đó / Còn chưa đủ thối inh? / Mua chi thêm bầy ngựa / Cứt vung cả Ba Đình! - Trần Bang
Tôi sinh ra trong một cái xóm rất nghèo, và (tất nhiên) rất đông trẻ nhỏ. Cùng lứa với tôi, có cả tá nhi đồng mà tên gọi đều bắt đầu bằng chữ út: Út lé, Út lác, Út lồi, Út lùn, Út hô, Út còi, Út ghẻ, Út mập, Út sún, Út sứt, Út méo, Út hô, Út đen, Út ruồi, Út xẹo, Út trọc … Cứ theo cách thấy mặt đặt tên như vậy, người ta có thể nhận dạng và biết được thứ tự của đứa bé trong gia đình mà khỏi phải giới thiệu (lôi thôi) kiểu cách, theo kiểu Âu Tây: – Còn đây là thằng út, nó tên là Út rỗ. Vùa lọt lòng thì cháu rơi ngay vào một cái … thùng đinh! Riêng trường hợp của tôi thì hơi (bị) khác. Tôi tên Út khùng. Lý do: khi mới chập chững biết đi, tôi té giếng. Khi tìm ra con, nắm tóc kéo lên, thấy thằng nhỏ mặt mày tím ngắt, chân tay xụi lơ, bụng chương xình, má tôi chỉ kêu lên được một tiếng “rồi” và lăn ra bất tỉnh.
Chúng ta thấy gì qua những cuộc biểu tình và bạo lực tiếp theo sau cái chết của người thanh niên da đen George Floyd bị người cảnh sát da trắng Derek Chavin dùng đầu gối đè cổ nghẹt thở chiều ngày 25-5-2020 tại thành phố Minneapolis, bang Minnesota? Hàng trăm cánh sát dã chiến với trang bị tác chiến và măt nạ chống khói độc đối đầu với hàng ngàn người biểu tình đòi công lý cho George Floyd và đòi được sống bình đẳng với người Mỹ da trắng. Đó là cuộc đấu tranh chính đáng chống lại áp bức, chống lại bất công của một xã hội đa chủng đa văn hóa như nước Mỹ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.