Hôm nay,  

Bến nước cù lao

03/06/201910:43:00(Xem: 5308)

Bến nước cù lao

 

Năm xưa một chuyến thăm cồn Ốc

Sóng nước Hàm luông bát ngát bờ

Sông cái đôi giòng ôm đất mới

Mây trời man mác gió xa đưa

 

Nhà em hương hoả vài công đất

Cây trái xoay vòng suốt cả năm

Mỗi tháng đôi lần ra chợ tỉnh

Miệt mài buôn chuyến giúp song thân

 

 

Em hong lá chuối cho vừa héo

Ủ nếp vào khay sắp thẳng hàng

Hăm ba tháng Chạp xôi cơm rượu

Men dậy thơm từ ngõ trúc sang

 

Con gái cù lao da rám nắng

Tóc thề xanh mộng gió bay theo

Một con xuồng nhỏ ven sông cái

Chèo mỏi đường xa tắt bóng chiều

 

Tôi hỏi quá giang về chợ tỉnh

Em cười thu vén góc xuồng con

Lăn tăn nước chảy bờ lau vắng

Duyên dáng làm sao gái xóm cồn ?

 

Xuồng ra bến nhỏ trời hiu quạnh

Chiều xuống trên giòng nước lớn xuôi

Em phải bơi đêm về tỉnh sớm

Tránh con nước ngược , chợ tan rồi

 

Dừa xiêm chen giữa đôi cần xé

Quít ngọt vườn sau khẳm mũi xuồng

Cũng có cau tơ , trầu mấy rổ

Mấy khay cơm rượu dậy mùi hương

 

Hái mấy trái bần bên xẻo nhỏ

Chia em quên bớt quãng đường xa

Cũng chua cũng chát trên đầu lưởi

Cũng đậm đà thêm chuyến hải hà

 

Thương em xuôi ngược từng con nước

Mỏi mệt quay chèo thức trắng đêm

Tới tỉnh cột xuồng bên Bến lỡ

Chờ phiên chợ sáng bạn hàng quen

 

Xuống bến giã từ cô gái nhỏ

Lòng buồn man mác ánh sương rơi

Trao em một bọc cà phê vợt

Một chút công đền …chỉ vậy thôi !

 

Sau đó mấy lần ra Bến lỡ

Chẳng hề gặp lại chiếc xuồng xưa

Con sông thì vẫn con sông ấy

Giòng nước hình như cũng hững hờ

 

Bao giờ trở lại cù lao Ốc ?

Ăn ốc len om nước cốt dừa

Nghe gió đổi chiều con nước lớn

Cánh buồm no gió lướt trong mưa …

 

Hồ Thanh Nhã

 

 

Cù lao Ốc còn gọi là Cồn Ốc thuộc xã Hưng Phong –Huyện Giồng Trôm –Tỉnh Bến Tre , cách thị xã Bến Tre 10 km , nằm giữa sông Hàm Luông . Cồn có chiều dài 8,3 km , rộng hơn 1km. Cồn Ốc là cồn nổi lớn nhất trên sông hàm Luông . Ban đầu chỉ là một cồn nhỏ thấp , có nhiều loài cây ngập  nước trên đất phù sa , vô số ốc bám vào sinh sống , nên gọi là cồn Ốc hay Cù lao Ốc .

Cù lao Ốc là khu du lịch với nhiều địa điểm cùng các đặc sản văn hóa dân dả mà khi đến đây du khách sẽ vô cùng thích thú khi hòa nhập với thiên nhiên cây xanh nước biếc , mây nước mênh mông .Du khách sẽ được tham quan vườn dừa với hơn 20 giống dừa khác nhau như dừa ta , dừa dứa ,dừa xiêm xanh , dừa tam quan , dừa ẻo , dừa dâu …góp phần tạo nên sự đa dạng các giống dừa tại Việt nam .Nơi đây cũng tập trung nhiều loại cây ăn trái như dừa núm , bưởi da xanh , cam quit …với chất lượng ngon hơn các vùng khác .

Du khách ghé qua Cồn Ốc còn được hướng dẫn tham quan các ngành nghề thủ công truyền thống như nghề đan giỏ cọng dừa ,cùng các mặt hàng mỹ nghệ được xử dụng nguyên liệu từ cây và trái dừa .Năm 2011 xã được tài trợ nguồn vốn biến đổi khí hậu do tỉnh tài trợ để xây dựng tuyến đê ngăn mặn và làm tuyến lộ giao thông . Con đường đã tạo nên một vòng cong chung quanh Cồn để du khách có thể ngắm cảnh đẹp miệt vườn Hàm Luông sông nước Sau đây mời quý vị thưởng thức bài thơ Chợ Vàm , nói lên một đặc điểm sông nước miền Tây khác :

 

 

Chợ Vàm

 

Chợ họp trên sông trời đứng bóng

Dãy xuồng nhô nhấp nước sông xuôi

Chợ Vàm tháng Tám lơ thơ khách

Con nước ươn từ buổi sớm mai

 

Chèo ghe đi chợ trên sông nước

Man mác tình quê mấy bến bờ

Ai biết phù sa chia mấy nhánh ?

Mấy giòng trong đục đất quê xưa

 

Thương hiệu treo từng những nhánh tre

Hoa Xuân , cây trái , bún hay chè

Mỗi ghe mỗi quán chèo lưu động

Bốn hướng sông hồ họp chợ quê

 

Là em cô quán trên xuồng nhỏ

Sáng bán cà phê nấu hỏa lò

Áo trắng bay theo làn gió nhẹ

Cũng còn vương vấn chút than tro

 

Quán nhỏ xuồng neo sào đợi khách

Chợ Vàm sông nước mấy nông sâu ?

Là đây mấy mảnh đời phiêu bạt

Cùng nhánh phù sa nước đổi màu

 

Hai ba xuồng sát xuồng cô quán

Từng ngụm cà phê ấm gió về

Mấy cụm lục bình trôi nước cuốn

Bềnh bồng như những mảnh đời quê

 

Bóng chiều xuống thấp đầu con rạch

Tan chợ em về cuối nhánh sông

Chợ vãn hỏa lò than cũng tắt

Nước ròng chèo ngược…mấy long đong

 

Em về nón lá không còn nắng

Bãi mía đầu doi gió đổi chiều

Từng lớp mù sương trên ngọn sóng

Cũng buồn thân thế nặng lòng theo

 

Em về Cái Mít ba doi lớn

Hai vịnh …còn sâu mấy nỗi niềm

Dãy đáy hàng khơi đèn thấp thoáng

Mù xa cửa biển ánh sương đêm

 

Một đời hạ bạc lênh đênh sóng

Trôi nổi ngày qua lớp thủy triều

Ngư hỏa đối sầu đêm tịch mịch

Gió mùa đưa đẩy cánh bèo theo

 

Thương hồ hạ bạc đôi đời khác

Rồi cũng tương giao nước một giòng

Cũng lớp mù sương xa mấy dặm

Nghe lòng nằng nặng sóng song song …

 

                     Hồ Thanh Nhã

 

Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.