Hôm nay,  

Xài giấy 500!

05/06/201910:26:00(Xem: 8548)

Tuần rồi có một độc giả thương mến thương gọi người viết chiều ra Footscray, vô một cái nhà hàng của bà con Việt Nam mình, vừa lai rai ba sợi vừa nói dóc chơi. Nhà hàng nầy không có cái ‘lái sần’ (licence) bán rượu, bia nên bạn mình phải BYO, (Bring Your Own), tức là tự mang rượu của mình tới nhậu! Được mời ăn nhậu không tốn tiền, tui chỉ đãi lại bằng giai thoại văn chương, chớ tiền có đâu mà hùn vô trả! Được chiêu đãi một cách trọng thị nên rượu vô vài cốc là tui bốc (phét) lên ngay. Mồm miệng tía lia, xài lia chia toàn giấy năm trăm, tức chửi thề thôi tá lả.

Độc giả nầy lần đầu tiên mới diện kiến để bàn chuyện văn chương, thơ phú mà thấy cha nội nhà văn nầy ăn nói bạt mạng như vậy nên hơi làm lạ, con mắt tròn xoe như cái bi ve!

Sượng một chút! Bèn ngẫm bạn mới quen lần đầu mà bỗ bã quá coi kỳ nên tìm cách chữa thẹn bằng cách thuyết trình cái đề tài: ‘Chửi thề là gì?’ Có ích lợi gì không mà sao ai ai cũng chửi, dân tộc nào cũng chửi?

Nhớ hồi mới qua, lang thang cuối tuần, ra Footscray gặp toàn là bọn Ý và Hy Lạp! Thấy được đứa nào mũi tẹt, da vàng là mừng hết lớn cho dù không rõ nó là Tàu Mã (Lai) hay Indo(nesia), hoặc Phi (Luật Tân) gì đó! Chắc ăn như bắp khi nghe thằng chả mới mở miệng ra là ‘Đù’ một cái là biết ngay phe ta liền hà. Do đó chửi thề cũng là một nhãn hiệu không cần cầu chứng tại Tòa cũng cho mình biết đó là người ‘Việt Nam Mít’ mình vậy! Vậy là nhìn bà con xa xứ với nhau, ở đây không có mấy đứa, mời anh bạn sơ giao nầy đi nhậu để kết tình huynh đệ.

“Nghe tiếng anh chửi thề rất là quen. Phải dân Sài Gòn hông?”“Đúng vậy! Tui ở Chợ Cầu Ông Lãnh đó nhe!”
Có người khoái chửi thề để ra vẻ mình ‘ngầu’, mình là dân chơi, là anh chị bự, là đại ca trong chốn giang hồ, sao tui thấy anh hiền như Bụt vậy sao anh Hai cũng chửi thề?

“Ối cuộc đời mà nhiều ‘xì trét’ (stress) lắm! Nhiều cái bực mình nó bơm vào làm lòng mình phình bự như trái banh! Cứ giữ trong lòng hoài, e một ngày nó nổ chắc là mình banh xác. Nên cần có cái vòi. Lúc căng quá thì mình xì hơi ra cho bớt, để lấy lại cái cân bằng mà sống chứ!” Và chửi thề là cái vòi đấy đó đa!

“Anh thấy không dân tộc nào cũng chửi thề hết ráo chớ đâu phải chỉ mình ên người Việt mình? Úc đây cũng chửi thề nghe thấy thương luôn! 

Nhưng là người Việt mà chửi thề bằng tiếng Úc nghe không có đã! Người Việt phải chửi thề bằng tiếng Việt, nghe mới có ép phê!”

Trong cuốn Tháng Ba Gãy Súng, nhà văn Thủy Quân Lục Chiến, Cao Xuân Huy có đoạn đối thoại đầy tiếng chửi thề đầy chất lính, đọc rất ‘đã’ cái miệng như vầy:

“Ông sĩ quan này đây hả?” Nghe câu này, tôi biết chắc là hai người đã nói chuyện về tôi, và dĩ nhiên không phải là nói tốt. Nhằm nhò gì! Tiểu đoàn trưởng không trả lời, quay sang nói với tôi:“Đ.M, ông về đại đội liền bây giờ.”

“Đại đội tôi nằm đâu, thiếu tá?”“Đ.M, không biết, ông đi cho khuất mắt tôi đi!”

Đó là đối với cấp trên. Còn với cấp dưới, mấy thằng em cũng chửi thề ráo trọi:“Đù má, lâu dzậy mậy?”Tiếng nói đột ngột, không đủ lớn nhưng đủ lọt vào tai tôi. Xong rồi! Tiếng chửi thề nghe sao dễ thương lạ. Tiếng chửi thề đã chấm dứt sự nguy hiểm bao quanh tôi.…”

“Đại đội 4 phải không?” “Đù má, đi đâu về trễ vậy cha nội?”

Như vậy ai đã từng là lính làm sao không chửi thề trong cuộc chiến tai trời ách nước, sống nay chết mai cho được chớ? Tôi đã từng là lính, nhiễm cái thói quen nầy vào lậm tới tận trong xương rồi. Khó bỏ lắm!

Có bực thức giả cho rằng chửi thề là rất xấu, là ngôn ngữ của người vô học, vô văn hóa, của bọn đá cá lăn dưa, đầu đường xó chợ. Tui thì không nghĩ vậy chẳng qua đời lính nghe rất quen những lời ‘tục tĩu’ nên tôi chẳng khó chịu gì cả, thấy rất bình thường.

Chửi thề như một phản ứng tự nhiên của cảm xúc, làm tăng nhịp tim lên, làm giảm căng thẳng, giảm đau đớn thể xác, vì thế việc chửi thề được xem như một liều thuốc giảm đau (hổng tốn tiền mua) rất hiệu quả. Chửi thề không phân biệt giới tính, trình độ, tuổi tác; chửi riết rồi quen, mở miệng ra mà không xài giấy năm trăm là nói chuyện cứ cà lăm!

“Định kiến về những người hay chửi thề, cho rằng họ có IQ thấp (tức ngu) hay khả năng diễn đạt kém là hoàn toàn sai. Chửi thề là một ngôn ngữ giàu cảm xúc, giàu nhịp điệu nhứt là trong quán nhậu.

Có thể nói việc chửi thề cũng là một trong những nhu cầu cơ bản của mỗi người, bên cạnh những nhu cầu như ăn, uống, ngủ…!

Nhưng ăn nhiều, vợ tui nói, cũng đâu có tốt (sẽ bị béo phì), uống nhiều, vợ tui nói, sẽ say, và ngủ nhiều, vợ tui nói, sẽ ngu! Chửi thề như một liều thuốc, uống quá nhiều sẽ làm giảm công hiệu! Chửi thề quá xá, nhiều hơn là cần thiết sẽ làm mình ‘over dosed’, làm mình hiện nguyên hình là một người thiếu văn hóa. Chửi thề càng nhiều thì tác dụng xả ‘xì trét’ của nó lại càng ít đi”.

Nên chửi thề ít thôi! Nhưng cái nào ra cái nấy mới được! Những nhà thơ, nhà văn nổi tiếng lẫy lừng trên chốn văn đàn (đâu phải du côn, du kề gì đâu) cũng đều chửi thề hết ráo, dù ít! Khi tiếng chửi thề, nó mang guốc mộc, đi vào Văn học sử, nó mang cái tánh nghệ thuật rất cao.

Một từ rất tục tĩu, trong miệng các nhà thơ, nhà văn phát ra nó trở thành một vần thơ, một đoản văn cũng hay như những từ bác học khác vậy thôi. Chỉ cần đưa nó vô đúng lúc, đúng ngữ cảnh, đúng ngữ điệu, đọc lên sẽ thấy cái ảo diệu của tiếng chửi thề!

Hồi xưa nhà thơ Cao Bá Quát bất mãn triều đình Tự Đức đi làm loạn. Bị bắt, giải ra pháp trường hành quyết. “Ba hồi trống giục đù cha kiếp/ Một nhát gươm đưa đéo mẹ đời!”

Hai câu thơ, tiếng Nôm, đối nhau chan chát nghe như hát, như một bản thiên anh hùng ca của một người sa cơ thất thế nhưng không hèn yếu, cúi đầu mà chịu nhục.

Ai dám bảo hai câu chửi thề nầy nó không có tánh văn chương?

 

Ngoài Bắc, những năm 60, có nhà văn Tuân Nguyễn (xin đừng nhầm với Nguyễn Tuân, rất nổi tiếng trước 45 với những bài tùy bút)  theo ông Phùng Quán kể lại trong truyện “Người Bạn Lính Cùng Tiểu Đội” như vầy:“Hòa bình lập lại, Tuân ra khỏi quân ngũ, đi học tiếp và tốt nghiệp Đại học Sư Phạm, làm thầy giáo. Sau đó được điều về Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam.

Còn tôi, lâm vào cảnh khổ nạn văn chương Nhân văn Giai phẩm phải về tá túc bên bờ hồ Tây, nhập phường câu cá trộm”

“Trong khi bạn bè thân thích, kể cả máu mủ ruột thịt, người yêu, đều xa lánh tôi, thì Tuân Nguyễn vẫn gắn bó, cưu mang tôi. Mặc dầu lúc này anh là người có chức danh của một cơ quan quan trọng, bắt đầu có tiếng tăm trên thi đàn. Tuân mò tìm được nơi tôi tá túc, thường xuyên mang cho tôi áo quần, tem gạo, phiếu thịt, kẹo, thuốc lá căng tin”

“Một lần, tôi hỏi Tuân: Cậu hay gặp mình, thế nào cơ quan họ cũng biết. Cậu không ngại à…? : Có ngại cái con ‘c.c’. Đù mạ …!”

Nhưng em yêu của tui cực kỳ phản đối! Em phán rằng: “Hồi xưa Tía má em chắc chắn là không bao giờ chịu gả em cho một đứa cứ mở miệng ra là chửi thề bốp trời thiên như anh đâu!”

Tui gật gù: “Thiệt đúng là phần số mà! Phải hồi xưa anh mở miệng ra ‘chơi’ một tiếng. Không cưới được em, anh cưới đứa khác; chắc đời anh đã khá hơn rất là nhiều lần.” He he!

 

Đoàn Xuân Thu

Melbourne

 

Năm 17 tuổi, đang khi học thi tú tài, tôi bỗng nhiên bị suyễn. Căn bệnh này – vào cuối thế kỷ trước, ở miền Nam – vẫn bị coi là loại nan y, vô phương chữa trị. Từ đó, thỉnh thoảng, tôi lại phải trải qua vài ba cơn suyễn thập tử nhất sinh. Những lúc ngồi (hay nằm) thoi thóp tôi mới ý thức được rằng sinh mệnh của chúng ta mong manh lắm, và chỉ cần được hít thở bình thường thôi cũng đã là một điều hạnh phúc lắm rồi. If you can't breathe, nothing else matters!
Một người không có trí nhớ, hoặc mất trí nhớ, cuộc đời người ấy sẽ ra sao? Giả thiết người ấy là ta, cuộc đời ta sẽ như thế nào? Ai cũng có thể tự đặt câu hỏi như vậy và tự cảm nghiệm về ý nghĩa của câu hỏi ấy. Sinh hoạt của một người, trong từng giây phút, không thể không có trí nhớ. Cho đến một sinh vật hạ đẳng mà chúng ta có thể biết, cũng không thể tồn tại nếu nó không có trí nhớ. Trí nhớ, Sanskrit nói là smṛti, Pāli nói là sati, và từ Hán tương đương là niệm, cũng gọi là ức niệm, tùy niệm. Nói theo ngôn ngữ thường dùng hiện đại, niệm là ký ức. Đó là khả năng ghi nhớ những gì đã xảy ra, thậm chí trong thời gian ngắn nhất, một sát-na, mà ý thức thô phù của ta không thể đo được.
Ba mươi năm trước tôi là thành viên hội đồng quản trị của một cơ quan xã hội giúp người tị nạn trong khu vực phía đông Vịnh San Francisco (East Bay) nên khi đó đã có dịp tiếp xúc với người tị nạn Afghan. Nhiều người Afghan đã đến Mỹ theo diện tị nạn cộng sản sau khi Hồng quân Liên Xô xâm chiếm đất nước của họ và cũng có người tị nạn vì bị chính quyền Taliban đàn áp. Người Afghan là nạn nhân của hai chế độ khác nhau trên quê hương, chế độ cộng sản và chế độ Hồi giáo cực đoan.
Bà Merkel là một người đàn bà giản dị và khiêm tốn, nhưng nhiều đối thủ chính trị lại rất nể trọng bà, họ đã truyền cho nhau một kinh nghiệm quý báu là “Không bao giờ được đánh giá thấp bà Merkel”.
Hai cụm từ trọng cung (supply-side) và trọng cầu (demand-side) thường dùng cho chính sách kinh tế trong nước Mỹ (đảng Cộng Hòa trọng cung, Dân Chủ trọng cầu) nhưng đồng thời cũng thể hiện hai mô hình phát triển của Hoa Kỳ (trọng cầu) và Trung Quốc (trọng cung). Bài viết này sẽ tìm hiểu cả hai trường hợp. Trọng cung là chủ trương kinh tế của đảng Cộng Hoà từ thời Tổng Thống Ronald Reagan nhằm cắt giảm thuế má để khuyến khích người có tiền tăng gia đầu tư sản xuất. Mức cung tăng (sản xuất tăng) vừa hạ thấp giá cả hàng hóa và dịch vụ lại tạo thêm công ăn việc làm mới. Nhờ vậy mức cầu theo đó cũng tăng giúp cho kinh tế phát triển để mang lại lợi ích cho mọi thành phần trong xã hội. Giảm thuế lại thêm đồng nghĩa với hạn chế vai trò của nhà nước, tức là thu nhỏ khu vực công mà phát huy khu vực tư.
Gần đây, chỉ một tấm ảnh của nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ – Nicole Gee – ôm em bé người Afghan với thái độ đầy thương cảm thì nhiều cơ quan truyền thông quốc tế đều phổ biến và ca ngợi! Nhân loại chỉ tôn trọng sự thật, trân quý những tâm hồn cao thượng và những trái tim biết rung động vì tình người – như nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ, Nicole Gee – chứ nhân loại không bao giờ thán phục hoặc ca ngợi sự tàn ác, dã man, như những gì người csVN đã và đang áp đặt lên thân phận người Việt Nam!
Tôi vừa mới nghe ông Trần Văn Chánh phàn nàn: “Cũng như các hội nghề nghiệp khác, chưa từng thấy Hội nhà giáo Việt Nam, giới giáo chức đại học có một lời tuyên bố hay kiến nghị tập thể gì liên quan những vấn đề quốc kế dân sinh hệ trọng; thậm chí nhiều lần Trung Quốc lấn hiếp Việt Nam ở Biển Đông trong khoảng chục năm gần đây cũng thấy họ im phăng phắc, thủ khẩu như bình…”
Thế giới chưa an toàn và sẽ không an toàn chừng nào các lực lượng khủng bố trên thế giới vẫn còn tồn tại, một nhà báo, cựu phóng viên đài VOA từ Washington D.C. nói với BBC News Tiếng Việt hôm thứ Năm. Sự kiện nước Mỹ bị tấn công vào ngày 11 tháng 09 năm 2001 đã thức tỉnh thế giới về một chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan đang tồn tại trong lòng các nước Trung Đông. Giờ đây, sau 20 năm, liệu người Mỹ có cảm thấy an toàn hơn hay họ vẫn lo sợ về một cuộc tấn công khủng bố khác trên đất nước Hoa Kỳ hay nhằm vào công dân Mỹ ở nước ngoài.
Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, những kẻ khủng bố Hồi giáo thuộc tổ chức mạng lưới Al-Qaida đã dùng bốn phi cơ dân sự làm thành một loại vũ khí quân sự để tấn công vào Trung tâm Thương mại Thế giới ở New York và Lầu Năm Góc ở Washington D.C. Các sự kiện không tặc loại này là lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh của nhân loại và đã có hậu quả nghiêm trọng nhất trong lịch sử cận đại.
Thứ Bảy, ngày 11/09/2021, nước Mỹ tưởng niệm 20 năm vụ tấn công khủng bố thảm khốc nhắm vào tòa tháp đôi World Trade Center ở New York, bộ Quốc Phòng Mỹ ở gần Washington và ở Shanksville tại Pennsylvania. Gần 3.000 người chết, hơn 6.000 người bị thương. Hai mươi năm đã trôi qua, vẫn còn hơn 1.000 người chết đã không thể nhận dạng. Chấn thương tinh thần vẫn còn đó. Mối họa khủng bố vẫn đeo dai dẳng. Lễ tưởng niệm 20 năm vụ khủng bố gây chấn động thế giới diễn ra như thế nào, nhất là trong bối cảnh Hoa Kỳ triệt thoái toàn bộ binh sĩ khỏi Afghanistan sau đúng 20 năm tham chiến ? Mời quý vị theo dõi cuộc phỏng vấn với nhà báo Phạm Trần từ Washington.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.