Hôm nay,  

Xài giấy 500!

05/06/201910:26:00(Xem: 8520)

Tuần rồi có một độc giả thương mến thương gọi người viết chiều ra Footscray, vô một cái nhà hàng của bà con Việt Nam mình, vừa lai rai ba sợi vừa nói dóc chơi. Nhà hàng nầy không có cái ‘lái sần’ (licence) bán rượu, bia nên bạn mình phải BYO, (Bring Your Own), tức là tự mang rượu của mình tới nhậu! Được mời ăn nhậu không tốn tiền, tui chỉ đãi lại bằng giai thoại văn chương, chớ tiền có đâu mà hùn vô trả! Được chiêu đãi một cách trọng thị nên rượu vô vài cốc là tui bốc (phét) lên ngay. Mồm miệng tía lia, xài lia chia toàn giấy năm trăm, tức chửi thề thôi tá lả.

Độc giả nầy lần đầu tiên mới diện kiến để bàn chuyện văn chương, thơ phú mà thấy cha nội nhà văn nầy ăn nói bạt mạng như vậy nên hơi làm lạ, con mắt tròn xoe như cái bi ve!

Sượng một chút! Bèn ngẫm bạn mới quen lần đầu mà bỗ bã quá coi kỳ nên tìm cách chữa thẹn bằng cách thuyết trình cái đề tài: ‘Chửi thề là gì?’ Có ích lợi gì không mà sao ai ai cũng chửi, dân tộc nào cũng chửi?

Nhớ hồi mới qua, lang thang cuối tuần, ra Footscray gặp toàn là bọn Ý và Hy Lạp! Thấy được đứa nào mũi tẹt, da vàng là mừng hết lớn cho dù không rõ nó là Tàu Mã (Lai) hay Indo(nesia), hoặc Phi (Luật Tân) gì đó! Chắc ăn như bắp khi nghe thằng chả mới mở miệng ra là ‘Đù’ một cái là biết ngay phe ta liền hà. Do đó chửi thề cũng là một nhãn hiệu không cần cầu chứng tại Tòa cũng cho mình biết đó là người ‘Việt Nam Mít’ mình vậy! Vậy là nhìn bà con xa xứ với nhau, ở đây không có mấy đứa, mời anh bạn sơ giao nầy đi nhậu để kết tình huynh đệ.

“Nghe tiếng anh chửi thề rất là quen. Phải dân Sài Gòn hông?”“Đúng vậy! Tui ở Chợ Cầu Ông Lãnh đó nhe!”
Có người khoái chửi thề để ra vẻ mình ‘ngầu’, mình là dân chơi, là anh chị bự, là đại ca trong chốn giang hồ, sao tui thấy anh hiền như Bụt vậy sao anh Hai cũng chửi thề?

“Ối cuộc đời mà nhiều ‘xì trét’ (stress) lắm! Nhiều cái bực mình nó bơm vào làm lòng mình phình bự như trái banh! Cứ giữ trong lòng hoài, e một ngày nó nổ chắc là mình banh xác. Nên cần có cái vòi. Lúc căng quá thì mình xì hơi ra cho bớt, để lấy lại cái cân bằng mà sống chứ!” Và chửi thề là cái vòi đấy đó đa!

“Anh thấy không dân tộc nào cũng chửi thề hết ráo chớ đâu phải chỉ mình ên người Việt mình? Úc đây cũng chửi thề nghe thấy thương luôn! 

Nhưng là người Việt mà chửi thề bằng tiếng Úc nghe không có đã! Người Việt phải chửi thề bằng tiếng Việt, nghe mới có ép phê!”

Trong cuốn Tháng Ba Gãy Súng, nhà văn Thủy Quân Lục Chiến, Cao Xuân Huy có đoạn đối thoại đầy tiếng chửi thề đầy chất lính, đọc rất ‘đã’ cái miệng như vầy:

“Ông sĩ quan này đây hả?” Nghe câu này, tôi biết chắc là hai người đã nói chuyện về tôi, và dĩ nhiên không phải là nói tốt. Nhằm nhò gì! Tiểu đoàn trưởng không trả lời, quay sang nói với tôi:“Đ.M, ông về đại đội liền bây giờ.”

“Đại đội tôi nằm đâu, thiếu tá?”“Đ.M, không biết, ông đi cho khuất mắt tôi đi!”

Đó là đối với cấp trên. Còn với cấp dưới, mấy thằng em cũng chửi thề ráo trọi:“Đù má, lâu dzậy mậy?”Tiếng nói đột ngột, không đủ lớn nhưng đủ lọt vào tai tôi. Xong rồi! Tiếng chửi thề nghe sao dễ thương lạ. Tiếng chửi thề đã chấm dứt sự nguy hiểm bao quanh tôi.…”

“Đại đội 4 phải không?” “Đù má, đi đâu về trễ vậy cha nội?”

Như vậy ai đã từng là lính làm sao không chửi thề trong cuộc chiến tai trời ách nước, sống nay chết mai cho được chớ? Tôi đã từng là lính, nhiễm cái thói quen nầy vào lậm tới tận trong xương rồi. Khó bỏ lắm!

Có bực thức giả cho rằng chửi thề là rất xấu, là ngôn ngữ của người vô học, vô văn hóa, của bọn đá cá lăn dưa, đầu đường xó chợ. Tui thì không nghĩ vậy chẳng qua đời lính nghe rất quen những lời ‘tục tĩu’ nên tôi chẳng khó chịu gì cả, thấy rất bình thường.

Chửi thề như một phản ứng tự nhiên của cảm xúc, làm tăng nhịp tim lên, làm giảm căng thẳng, giảm đau đớn thể xác, vì thế việc chửi thề được xem như một liều thuốc giảm đau (hổng tốn tiền mua) rất hiệu quả. Chửi thề không phân biệt giới tính, trình độ, tuổi tác; chửi riết rồi quen, mở miệng ra mà không xài giấy năm trăm là nói chuyện cứ cà lăm!

“Định kiến về những người hay chửi thề, cho rằng họ có IQ thấp (tức ngu) hay khả năng diễn đạt kém là hoàn toàn sai. Chửi thề là một ngôn ngữ giàu cảm xúc, giàu nhịp điệu nhứt là trong quán nhậu.

Có thể nói việc chửi thề cũng là một trong những nhu cầu cơ bản của mỗi người, bên cạnh những nhu cầu như ăn, uống, ngủ…!

Nhưng ăn nhiều, vợ tui nói, cũng đâu có tốt (sẽ bị béo phì), uống nhiều, vợ tui nói, sẽ say, và ngủ nhiều, vợ tui nói, sẽ ngu! Chửi thề như một liều thuốc, uống quá nhiều sẽ làm giảm công hiệu! Chửi thề quá xá, nhiều hơn là cần thiết sẽ làm mình ‘over dosed’, làm mình hiện nguyên hình là một người thiếu văn hóa. Chửi thề càng nhiều thì tác dụng xả ‘xì trét’ của nó lại càng ít đi”.

Nên chửi thề ít thôi! Nhưng cái nào ra cái nấy mới được! Những nhà thơ, nhà văn nổi tiếng lẫy lừng trên chốn văn đàn (đâu phải du côn, du kề gì đâu) cũng đều chửi thề hết ráo, dù ít! Khi tiếng chửi thề, nó mang guốc mộc, đi vào Văn học sử, nó mang cái tánh nghệ thuật rất cao.

Một từ rất tục tĩu, trong miệng các nhà thơ, nhà văn phát ra nó trở thành một vần thơ, một đoản văn cũng hay như những từ bác học khác vậy thôi. Chỉ cần đưa nó vô đúng lúc, đúng ngữ cảnh, đúng ngữ điệu, đọc lên sẽ thấy cái ảo diệu của tiếng chửi thề!

Hồi xưa nhà thơ Cao Bá Quát bất mãn triều đình Tự Đức đi làm loạn. Bị bắt, giải ra pháp trường hành quyết. “Ba hồi trống giục đù cha kiếp/ Một nhát gươm đưa đéo mẹ đời!”

Hai câu thơ, tiếng Nôm, đối nhau chan chát nghe như hát, như một bản thiên anh hùng ca của một người sa cơ thất thế nhưng không hèn yếu, cúi đầu mà chịu nhục.

Ai dám bảo hai câu chửi thề nầy nó không có tánh văn chương?

 

Ngoài Bắc, những năm 60, có nhà văn Tuân Nguyễn (xin đừng nhầm với Nguyễn Tuân, rất nổi tiếng trước 45 với những bài tùy bút)  theo ông Phùng Quán kể lại trong truyện “Người Bạn Lính Cùng Tiểu Đội” như vầy:“Hòa bình lập lại, Tuân ra khỏi quân ngũ, đi học tiếp và tốt nghiệp Đại học Sư Phạm, làm thầy giáo. Sau đó được điều về Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam.

Còn tôi, lâm vào cảnh khổ nạn văn chương Nhân văn Giai phẩm phải về tá túc bên bờ hồ Tây, nhập phường câu cá trộm”

“Trong khi bạn bè thân thích, kể cả máu mủ ruột thịt, người yêu, đều xa lánh tôi, thì Tuân Nguyễn vẫn gắn bó, cưu mang tôi. Mặc dầu lúc này anh là người có chức danh của một cơ quan quan trọng, bắt đầu có tiếng tăm trên thi đàn. Tuân mò tìm được nơi tôi tá túc, thường xuyên mang cho tôi áo quần, tem gạo, phiếu thịt, kẹo, thuốc lá căng tin”

“Một lần, tôi hỏi Tuân: Cậu hay gặp mình, thế nào cơ quan họ cũng biết. Cậu không ngại à…? : Có ngại cái con ‘c.c’. Đù mạ …!”

Nhưng em yêu của tui cực kỳ phản đối! Em phán rằng: “Hồi xưa Tía má em chắc chắn là không bao giờ chịu gả em cho một đứa cứ mở miệng ra là chửi thề bốp trời thiên như anh đâu!”

Tui gật gù: “Thiệt đúng là phần số mà! Phải hồi xưa anh mở miệng ra ‘chơi’ một tiếng. Không cưới được em, anh cưới đứa khác; chắc đời anh đã khá hơn rất là nhiều lần.” He he!

 

Đoàn Xuân Thu

Melbourne

 

Hội nghị Paris là một quá trình đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt kể từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, sau ngày 25 tháng 1 năm 1969 có thêm Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) tham gia. Ngoài 202 phiên họp chính thức của bốn bên, còn có thêm 24 cuộc mật đàm khác giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, Xuân Thủy. Cuối cùng, hội nghị kết thúc sau bốn năm chín tháng và bốn bên chính thức ký kết Hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.
Ngày 30 tháng Tư năm 1975 khép lại trang sử Việt của hai lực lượng dân tộc đối đầu nhau trong thế tương tranh quốc tế giữa tư bản và cộng sản. Thế tương tranh này kéo dài từ tranh chấp giữa hai triết thuyết xuất phát từ phương Tây – Duy Tâm và Duy Vật, đã làm nước ta tan nát. Việt Nam trở thành lò lửa kinh hoàng, anh em một bọc chém giết nhau trong thế cuộc đảo điên cạnh tranh quốc tế.
Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
Hình ảnh thay cho ngàn lời nói, ghi nhận rõ "sự hấp hối" của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ghi lại cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, nỗi lo sợ của dân chúng lũ lượt rời nơi đang sinh sống, đã bỏ nhà cửa trốn chạy trước khi VC tràn vào thành phố
Chúng ta liệu có thể đóng vai trò giúp đỡ những người nhập cư và tị nạn trong tương lai như là người Mỹ đã từng làm cho chúng ta không? Theo lời của Emma Lazarus, liệu chúng ta có nâng “... ngọn đèn bên cạnh cánh cửa vàng” cho “... kẻ bão táp, người vô gia cư ... người mệt mỏi, người nghèo khổ” không? Đối với chúng tôi, trong ngày 30 tháng 4 này, không có câu hỏi nào có ý nghĩa và tính quan trọng hơn câu hỏi này.
Khách đến Việt Nam ngày nay thấy nhiều nhà cao cửa rộng, xe chạy chật đường hơn xưa. Nhưng đa số người Việt Nam có vẻ không có cái nhu cầu dân chủ của người Myanmar hay người Hồng Kông. Hay là họ có, nhưng 20 năm chiến tranh đã làm họ mệt mỏi, xuôi xị chấp nhận chút đầy đủ vật chất, nhắm mắt với tương lai? Và Đảng Cộng sản Việt Nam có thể hy vọng người Việt sẽ ngoan ngoãn như người dân Bắc Hàn, không cần dự phần tự quyết cho tương lai của mình và con cháu mình?
Ngày 30/4 năm thứ 46 sau 1975 đặt ra câu hỏi: Còn bao nhiêu năm nữa thì người Việt Nam ở hai đầu chiến tuyến trong chiến tranh mới “hòa giải, hòa hợp” được với nhau để thành “Một Người Việt Nam”? Hỏi chơi vậy thôi chứ cứ như tình hình bây giờ thì còn mút mùa lệ thủy. Nhưng tại sao?
30 tháng Tư. Đó là ngày nhắc nhở chúng ta cần có dự tính cho tương lai. Vào năm 1975, ai có thể ngờ rằng sẽ có gần 2 triệu người Việt tại Hoa Kỳ nuôi dưỡng cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp một cách đáng kể cho xã hội? Ai ngờ được rằng hiện đã có thế hệ người Mỹ gốc Việt thứ ba, thứ tư?
Tổng thống Joe Biden như một người thuyền trưởng, nắm con thuyền quốc gia giữa cơn bão dữ. Chỉ trong cơn sóng lớn mới thấy được khả năng người lèo lái. Những thách thức vẫn còn trước mặt, nhưng con thuyền quốc gia hứa hẹn sẽ đến được chân trời rộng mở. Sự lãnh đạo và phục vụ thầm lặng, bền đỗ cho quốc gia và người dân của tổng thống Joe Biden đã được chứng minh bằng kết quả hiển hiện trong 100 ngày vừa qua.
Ca sĩ Tina Turner, có lẽ ai cũng biết nhưng quá trình tìm đến đạo Phật, trở thành Phật tử và sự tinh tấn của cô ta chắc không nhiều người biết. Giáo lý đạo Phật đã vực dậy đời sống cá nhân cũng như sự nghiệp của cô ta từ hố thẳm đau khổ, thất vọng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.