Hôm nay,  

Rán học đi con!

07/06/201910:09:00(Xem: 6497)

Ôi nhớ xưa, thời đi học, bữa nào hổng có ai đưa đò là tui trốn học để lạng quạng đường quê; để: “Ngô mướt dài bãi quê. Gió chiều chiều dịu mát. Đàn trâu chậm ngoài đê. Vẫn đi về lối cũ!”

Sau nầy, lớn lên vào Đại học, có lần cắc cớ, tui hỏi Thầy tui rằng: “Thưa Thầy! Hồi xưa Thầy có từng trốn học hay không?” Thầy thành thật: “Có chớ! Nhưng hổng có nhiều! Tui có thằng bạn thân trốn học, rủ trốn theo, hai đứa cho vui; nhưng sợ Má tui buồn, nên tui hổng chịu! Giờ thấy tiếc thời thơ dại!”

“Tiếc gì ạ?” “Tiếc nhiều lắm: Tiếc không biết bắn chim bằng giàn ná! Tiếc không biết ôm bập dừa tập lội. Còn bạn tui cái gì cũng biết hết! Thiệt là đáng khâm phục!”

“Vậy giờ bạn của Thầy làm nghề gì ạ?” “Ờ! Nó chăn trâu!”

***

Rồi qua đây thấy mấy thằng bạn Úc cũng có cái tư tưởng lớn giống như Thầy tui vậy! “Cần cái gì học cái nấy! Không cần không học! Đời ngắn lắm mà!”

Có để ý chữ ‘studying’ (học vấn) là do hai chữ ‘study’ (học) và ‘dying’ (chết) ghép lại hay không? Bỏ thời giờ đi học cái mình không cần thì mình đã giết chết một phần của đời mình đó! Uổng lắm!

Mới đây thôi, em Rosabella Dahu, 7 tuổi, đang theo học tại Sheldon Elementary School ở Houston, đã rời trường về nhà sau khi tự thay quyền cha mẹ mình mà viết giấy xin nhà trường cho mình về sớm. Cô bé học trò mới lớp 2 này vì không ăn ‘pizza’ buổi trưa nên bị đói bụng. Khi chuông tan trường vừa reo, Rosabella bỏ ngang giờ học thêm đúng ra phải tới 6 giờ chiều lận. Làm sao về sớm bây giờ? Rosabella bèn viết một tấm giấy, giả danh cha mẹ mình:“Hôm nay tôi muốn bé Rosabella về nhà theo chuyến xe buýt số 131.” (Chuyến xe buýt đưa các học sinh không phải ở lại để học thêm như Rosabella mỗi ngày).

Lúc đầu quý thầy, cô cũng nghi! Vì bức thư xin phép nầy sai chính tả tùm lum, tà la. Nhưng rốt cuộc, quý thầy coi đây là thư do cha mẹ em viết (vì mới lớp 2 làm sao nó nghĩ ra được cái diệu kế nầy chớ?) nên cho em về. Nhưng Tía em, Charlie Dahu, thì trách là Thầy cô không chịu xem xét chữ viết trên tờ giấy đó mà cứ cho phép con mình về sớm.

Bị Tía em cật vấn, thì thầy cô biện minh là: “Thời buổi này, phụ huynh học sinh viết một lá thư trật bấy bá như vầy cũng không phải là ít! Thôi cho tụi tui chịu lỗi đi nhe!” Nhưng ông Charlie Dahu hổng hài lòng, lặng lẽ cho con mình chuyển trường đi nơi khác.

***

Bà con mình xưa ai đi học đều biết từ trốn học và cúp cua (coupe cours)! Trốn học khác cúp cua nha. Trốn học là trốn nguyên buổi học. Cúp cua là trốn một hay hai giờ thôi.

Một nữ độc giả của tui hồi xưa từng làm cô giáo kể rằng: “Con gái tới tuổi dậy thì là ngứa ngáy toàn thân, bắt ngồi hoài trong lớp thì làm sao chịu cho nổi. Thế nên có em mới học lớp Đệ Tứ thôi (tức lớp Chín bây giờ) ôm bụng mếu máo xin cô giáo cho về! Thông cảm phận nữ nhi với nhau, cô giáo gật đầu. Ai dè hết giờ dạy, tui về thì thấy em ngồi sau ‘bọt ba ga’ ôm eo ếch thằng bạn trai cùng lớp, miệng cười toe toét. Vui hết biết!

Thế nên lần sau em cũng ôm bụng mếu máo xin về, tui gọi xe cứu thương chở em thẳng vô phòng cấp cứu luôn. Bởi dù nghi em làm người 'nhái', lặn để đi chơi với bồ nhưng lỡ lần nầy em đau thiệt thì sao? Ai dè từ đó em không còn đau bụng bất tử nữa!”

***

Trong tự điển của đời tui không có chữ phấn đấu. Nhưng thằng bạn học của tui thì có. Hồi Tiểu học hai đứa thường trốn học, đi bắn cu li hay đuổi bướm cạnh bờ ao. Sau nó thức tỉnh, hổng lẽ đời ta mãi thế nầy nên quyết chí tu tỉnh bằng cách xin đi học thêm. Tía Má nó nói con học giỏi vậy thì học thêm chi cho tốn tiền hè?

Nó bèn mượn cái 'bảng điểm kinh hoàng của tui' về để chứng minh cho ba má nó thấy tại sao nó phải đi học thêm?. Nhờ vậy, sau nầy nó làm Tiến sĩ Hàng không, chuyên vẽ đường bay cho phi thuyền Appolo bay vào cõi hư vô!

***

Bịnh là phải chữa. Cúp cua, trốn học là bịnh của thời học sinh. Chắc chắn rồi! Nhưng tại sao? Dà! Có nhiều nguyên nhân lắm! Có đứa sợ bị cô kêu lên trả bài mà không thuộc thì mất mặt bầu cua cá cọp với đám con gái học chung một lớp.

Cúp cua rồi đi về nhà? Dễ gì. Về sớm là ăn chổi chà nên mấy em cà rà đi coi thiên hạ đá gà. Cho tới khi thi đâu rớt đó, Tía Má biết được sự thực phũ phàng… là đã quá muộn màng!

***

Tía tui đã từng năn nỉ tui rằng: “Rừng Nhu, Biển Thánh không ham! Nhỏ mà không học lớn làm cu li!” Dẫu vậy không phải đứa học trò nào từng cúp cua, trốn học hay ngay cả bỏ học cũng đều làm cu li hết ráo như tui đâu, thưa bà con.

Như ông Thomas Alva Edison chẳng hạn. Hồi nhỏ, Edison ốm yếu, gầy gò, đầu óc lơ tơ mơ nhưng hay tò mò, hỏi nhiều câu hóc búa, trật bản họng, làm thầy giáo bí rị, hổng biết đường đâu mà trả lời. Thầy quạu, xếp Edison hạng bét lớp, tức đội sổ, còn ghi vào học bạ: “Trò này dốt, lười, hư và hơi tửng tửng! Tốt nhất nên cho trò ấy đi chăn bò! Vì trò ấy có học nữa thì sau này cũng không làm nên trò trống gì… ”

Từ đó, Edison không đến trường nữa mà ở nhà tự học với mẹ. Và có thể vì lời phê phũ phàng đó làm Edison tự ái, nên dù hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, vừa đi bán báo kiếm tiền giúp Mẹ, vừa mày mò nghiên cứu những chuyện khác thiên hạ, Edison đã trở thành thiên tài.

Edison đã phát minh ra bóng đèn điện để thắp sáng toàn thế giới. Rồi nào là máy hát, máy ghi âm, máy quay phim, hệ thống điện báo, ngay cả tàu điện…Bổ đồng cứ 11 ngày là ông có một phát minh. Tổng cộng 1907 cái được cấp bằng sáng chế! Edison là người đứng đầu trong danh sách 12 vĩ nhân của nước Mỹ thế kỷ 20. Xưa đội sổ nay sổ đội ông lên! Ngoài Edison ra còn nhiều người khác cũng bỏ học giữa chừng như vậy vì cái đầu quá lớn như tỉ phú Bill Gates của Microsoft; tỉ phú Mark Zuckerberg của Facebook.

Thế nên bà con mình không thể kết luận võ đoán là mấy ông nầy cúp cua, trốn học rồi bỏ học nghĩa là họ bước chân ra khỏi cổng trường vôi trắng là lắng nhắng chơi không đâu. Chẳng qua cách học của họ khác hơn cách của thiên hạ. Học cái họ say mê; học ngay cả ở trường đời.

***

Người viết làm Tía của hai thằng cu. Con mình chắc hổng phải là thiên tài rồi nên lúc nào tui cũng phải chạy theo năn nỉ tụi nó: “Học đi con! Học đi! Để nữa vợ con hổng dám khi dể con như Má con đối với Tía.

Tía chỉ cần hai đứa học hết cái lớp 12 cũng đặng. Vậy là giỏi hơn Tía cả một trời một vực rồi; vì như tụi con đã biết: xưa Tía chỉ học hết cái lớp Đệ Tứ, tức lớp Chín ngày nay, rồi bỏ ngang việc học vì mắc bận yêu đương nhăng nhít với Má con. Tía ân hận lắm!

Nên bằng bất cứ giá nào, hai đứa bây không bao giờ cúp cua, không bao giờ trốn học, không bao giờ bỏ học ngang xương như Tía khi xưa. Rán hết sức bình sinh để rinh được cái Tú tài 2. Rồi mang cái bằng cấp đó về cho Tía treo trên giàn bếp cho Má tụi con biết rằng dòng dõi gia đình mình, (theo cái ‘gene’ di truyền của Tía cho hai đứa)… toàn là dân khoa bảng ?! Kẻo Má tụi bây lại phán rằng: “Làm biếng học, chuyên cúp cua, di truyền từ Tía tới con!”


Đoàn Xuân Thu

Melbourne

Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.