Hôm nay,  

Cù lao Quốc Gia!

15/06/201909:24:00(Xem: 6371)

Cù lao Quốc Gia!

 

 Đoàn Xuân Thu

 

Từ thuở đứt phim, ‘đứng hình’, vết thương vẫn còn đang rỉ máu. Quê người tạm dung đã mấy chục năm mà tui vẫn coi là xứ lạ! Xứ lạ mà may gặp được người quen là mừng lắm đó!

Cách đây mấy bữa, trên Facebook, từ bên Sài Gòn nhỏ, quận Cam, bên Mỹ có một em gọi qua; xưng tên là ‘Chi Lan’, (cành hoa lan trắng), rồi hỏi: “Thầy còn nhớ em hông?”

Ủa, tui đã ‘giã’ trường xưa theo tiếng gọi lên đường vượt biển mấy chục năm nay; đã rời xa phấn bảng quá xá là lâu mà đột nhiên bây giờ lại có ai gọi tui là thầy; làm gợi nhớ cái thuở ‘giáo chức, dứt cháo’; ‘thầy giáo tháo giày’ vậy cà?

Vài ngàn em học trò mà đứa nào mình cũng nói nhớ hết ráo là mình nói láo. Nói láo với ai còn có thể châm chước được; chớ với học trò cũ gọi mình là ‘Thầy’, dẫu mình đã nghỉ dạy lâu, thì đâu có được hè.

Nói nào ngay, em học trò năm cũ nầy, phải kể thêm một vài kỷ niệm nào đó, tui mới nhớ được. Chẳng hạn như thầy đã từng đến nhậu rượu đế với Tía em, ăn canh chua bông sua đũa do chính tay em ‘Chi Lan’ nấu là tui nhớ liền hè. (Chu choa! Ông phụ huynh học sinh Ba Tèo (tên xấu hoắc) lại đặt tên ‘tác phẩm’ của mình một loài hoa rất đẹp?)

 

***

 

“Nhà em ở cù lao Quốc Gia đó!” Nghe tới cái địa danh nầy là kỷ niệm ngày xưa ta bé ta vui lại hiện về làm tui buồn trong kỷ niệm.

Cù lao, cái địa danh hồi xưa bà con mình xài hà rầm. Như cù lao Ông Chưởng, cù lao Rồng, cù lao An Hóa, cù lao Bảo, cù lao Minh trên sông Tiền. Còn trên sông Hậu là cù lao Quốc Gia, cù lao Dung và biết bao cơ man cù lao khác.

Bà con mình ai cũng biết dòng sông Mekong phát xuất từ chỗ cao thiệt là cao, trên cao nguyên Tây Tạng vượt qua biết bao nhiêu ghềnh thác. Cuối cùng sông ra tới biển, nước chảy rề rề chậm lại; kết quả bùn lắng tụ lâu ngày, để sông kia bên lở bên bồi hay gom lại nổi lên thành cù lao ở giữa sông.

Cách đây khoảng 150 năm, cù lao Quốc Gia thuộc địa phận làng Kế Sách, tổng Định Khánh, tỉnh Sóc Trăng. Mặt đất rất thấp, toàn là bãi bùn, cỏ dại, dây leo, cây bần và cây tạp cùng thú hoang và chim muông sinh sống.

Rồi những người đầu tiên đến khai phá đất hoang, bao bờ, trồng rẫy trên đất cù lao phì nhiêu màu mỡ. Làm ăn khấm khá nên bà con kéo đến sinh cơ, lập nghiệp ngày một đông hơn.

Từ việc trồng rẫy lúc ban đầu, bà con bắt đầu trồng thêm các loại cây ăn trái như: chuối, dừa, cam, quýt, bưởi, rồi sau đó thêm xoài, nhãn, chôm chôm, sầu riêng, sa-pô-chê, mãng cầu, măng cụt. Bà con mình dùng ghe lớn chở trái cây lên chợ Cầu Ông Lãnh, Sài Gòn bán đắt như tôm tươi, vì trái cây miệt cồn phân phướng tự nhiên nên giòn, ngọt, thơm ngon.

 

***

 

Sau nầy cù lao Quốc Gia đổi tên thành cồn Mỹ Phước. Theo không ảnh trên cao nhìn xuống, cồn có hình trái xoan với hai đầu thắt lại, đoạn giữa phình ra với chiều rộng trên 500m, dài khoảng 5km, chỉ hơn 1000 mẫu được bao bọc bằng những thân đê vững chãi. Đường sá trên cồn đều đã được trải bê tông.

Bà con xứ khác mà muốn đến cồn Mỹ Phước nầy thăm mấy người đẹp miền sông nước chơi thì đi theo đường nào hè?

Có hai cách: đường lộ và đường sông. Đường lộ phát xuất từ Cần Thơ theo Quốc lộ 4 tới ngã ba An Trạch, quẹo trái chạy thêm 12 cây số là đến quận Kế Sách. Từ Kế Sách đi thêm 10 cây số nữa đến xã Nhơn Mỹ, rồi đi đò qua sông là đến cồn Mỹ Phước.

Bây giờ thì từ Cần Thơ theo quốc lộ Nam sông Hậu đi khoảng 40km đến Nhơn Mỹ, xuống phà khoảng 10 phút là đến cồn Mỹ Phước.

Còn đường sông, hồi xưa là tui xuống đò Ngọc Diệp ở bến Ninh Kiều, theo dòng sông Hậu khoảng 50 cây số là đến cù lao Quốc Gia. Ngồi trên mui đò trời nước bao la chừng 4 tiếng đồng hồ là anh về quê em để nhậu chơi với Tía của em.

 

***

 

Sau tháng Tư, năm 75, nhiều thầy giáo của phe ta rất là chịu chơi, chơi tới cùng, dứt áo ra đi mà không hề ngoảnh lại.

Có phụ huynh hỏi thầy:“Bộ không được lưu dung hay sao mà Thầy bỏ nghề giáo?”“Không tôi tự nguyện! Tôi thà ‘mất dạy’ để giữ cái tư cách nghề giáo cao quý của mình, chớ không chỉ vì cái đồng lương chết đói, tháng được 60 đồng, gạo 13 ký, thịt mỡ nửa ký để bán rẻ cái lương tâm chức nghiệp.”

Nói nào ngay, tui cũng muốn hành xử một cách anh hùng mã thượng như bậc đàn anh đáng kính nầy nhưng không được. Thầy còn có ruộng đất để cày, còn tui một cục đất chọi chim cũng không thì nghỉ dạy rồi mình biết về đâu, làm gì mà sống? Đành chịu nhục của người thất thế, sanh bất phùng thời, gặp buổi trời ơi, đành ráng ‘đu’ được ngày nào hay ngày nấy. Dẫu vậy nhưng đâu có được yên thân; nhứt là mấy thầy giáo đã từng đi lính, là sĩ quan biệt phái hay mấy cô có chồng là sĩ quan đang bị bắt ở tù cải tạo.

Sinh viên đang học ở trường Luật hay Văn Khoa gì đó bị lùa qua Sư Phạm học sáu tháng để về thay thế các thầy cô cũ. Trong số nầy, tui biết chắc là sẽ tới phiên mình. Nó đuổi, tui đi và đi luôn!

 

***

 

"Tiệc tiễn hành anh, em thết đãi.Cá sặt rằn khô, xoài thanh ca. Rắc chút đường, thêm vài lát ớt. Uống đã đời đi lắm đắng cay!"

Khô cá sặc rằn nướng chin, gỡ bỏ xương lấy thịt xé ra từng miếng nhỏ. Trái xoài thanh ca, cà rốt, hành tím xắt mỏng trộn với, tỏi, ớt chan nước mắm với đường.

Trộn đều rồi gắp một đũa đưa vô miệng, nhai khẽ khàng, nhai nhẹ nhàng nhưng cũng nghe hai hàm răng rít lên rau ráu. Chơi thêm nửa hớp rượu nếp trong ly hột mít sủi bọt tăm em cất tại nhà. Thiệt là quá đã cái ‘tâm can tì phế thận’!

Sau ngần ấy năm tha hương, đêm nay đốt lò hương cũ, sao nhớ vô cùng cái món gỏi khô cá sặt vốn của nhà nghèo, của vùng quê xa ngai ngái, của ngày xưa ấy! Dẫu đốt đuốc mà tìm cũng không thể nào thấy đâu bán trên toàn nước Úc.

Vì biến loạn, phải bỏ xứ đi nhưng cũng như bà con mình, trên cái lưỡi vẫn mang theo cái vị quê nhà; và cái tâm cứ vấn vương hoài cái hồn cố thổ.

Thế nên:“Thầy còn nhớ em hông? Nhớ nhiều quá xá đi chớ!”

 

Đoàn Xuân Thu

Melbourne.

 



Hội nghị Paris là một quá trình đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt kể từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, sau ngày 25 tháng 1 năm 1969 có thêm Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) tham gia. Ngoài 202 phiên họp chính thức của bốn bên, còn có thêm 24 cuộc mật đàm khác giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, Xuân Thủy. Cuối cùng, hội nghị kết thúc sau bốn năm chín tháng và bốn bên chính thức ký kết Hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.
Ngày 30 tháng Tư năm 1975 khép lại trang sử Việt của hai lực lượng dân tộc đối đầu nhau trong thế tương tranh quốc tế giữa tư bản và cộng sản. Thế tương tranh này kéo dài từ tranh chấp giữa hai triết thuyết xuất phát từ phương Tây – Duy Tâm và Duy Vật, đã làm nước ta tan nát. Việt Nam trở thành lò lửa kinh hoàng, anh em một bọc chém giết nhau trong thế cuộc đảo điên cạnh tranh quốc tế.
Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
Hình ảnh thay cho ngàn lời nói, ghi nhận rõ "sự hấp hối" của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ghi lại cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, nỗi lo sợ của dân chúng lũ lượt rời nơi đang sinh sống, đã bỏ nhà cửa trốn chạy trước khi VC tràn vào thành phố
Chúng ta liệu có thể đóng vai trò giúp đỡ những người nhập cư và tị nạn trong tương lai như là người Mỹ đã từng làm cho chúng ta không? Theo lời của Emma Lazarus, liệu chúng ta có nâng “... ngọn đèn bên cạnh cánh cửa vàng” cho “... kẻ bão táp, người vô gia cư ... người mệt mỏi, người nghèo khổ” không? Đối với chúng tôi, trong ngày 30 tháng 4 này, không có câu hỏi nào có ý nghĩa và tính quan trọng hơn câu hỏi này.
Khách đến Việt Nam ngày nay thấy nhiều nhà cao cửa rộng, xe chạy chật đường hơn xưa. Nhưng đa số người Việt Nam có vẻ không có cái nhu cầu dân chủ của người Myanmar hay người Hồng Kông. Hay là họ có, nhưng 20 năm chiến tranh đã làm họ mệt mỏi, xuôi xị chấp nhận chút đầy đủ vật chất, nhắm mắt với tương lai? Và Đảng Cộng sản Việt Nam có thể hy vọng người Việt sẽ ngoan ngoãn như người dân Bắc Hàn, không cần dự phần tự quyết cho tương lai của mình và con cháu mình?
Ngày 30/4 năm thứ 46 sau 1975 đặt ra câu hỏi: Còn bao nhiêu năm nữa thì người Việt Nam ở hai đầu chiến tuyến trong chiến tranh mới “hòa giải, hòa hợp” được với nhau để thành “Một Người Việt Nam”? Hỏi chơi vậy thôi chứ cứ như tình hình bây giờ thì còn mút mùa lệ thủy. Nhưng tại sao?
30 tháng Tư. Đó là ngày nhắc nhở chúng ta cần có dự tính cho tương lai. Vào năm 1975, ai có thể ngờ rằng sẽ có gần 2 triệu người Việt tại Hoa Kỳ nuôi dưỡng cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp một cách đáng kể cho xã hội? Ai ngờ được rằng hiện đã có thế hệ người Mỹ gốc Việt thứ ba, thứ tư?
Tổng thống Joe Biden như một người thuyền trưởng, nắm con thuyền quốc gia giữa cơn bão dữ. Chỉ trong cơn sóng lớn mới thấy được khả năng người lèo lái. Những thách thức vẫn còn trước mặt, nhưng con thuyền quốc gia hứa hẹn sẽ đến được chân trời rộng mở. Sự lãnh đạo và phục vụ thầm lặng, bền đỗ cho quốc gia và người dân của tổng thống Joe Biden đã được chứng minh bằng kết quả hiển hiện trong 100 ngày vừa qua.
Ca sĩ Tina Turner, có lẽ ai cũng biết nhưng quá trình tìm đến đạo Phật, trở thành Phật tử và sự tinh tấn của cô ta chắc không nhiều người biết. Giáo lý đạo Phật đã vực dậy đời sống cá nhân cũng như sự nghiệp của cô ta từ hố thẳm đau khổ, thất vọng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.